Vai trò của Quân lực VNCH
Theo Đàn Chim Việt - Nguyễn Ngọc Bích - 08-06-2006
DCVOnline:
Trong hai ngày 17 và 18 3 2006, Trung tâm Việt nam ở Đại học Texas Tech
(Lubbock, TX) đã tổ chức một hội nghị chuyên đề về “Quân Lực VNCH: Nhìn
Lại và Tái Thẩm Định Sau 30 Năm” (“ARVN: Reflections and Reassessments
After Thirty Years”). Nhân dịp này, Ông Nguyễn Ngọc Bích đã được mời
đọc bài diễn văn quan trọng ở bữa ăn trưa (“luncheon keynote speech”)
ngày đầu hội nghị. Dựa vào nhiều tài liệu mới được tiết lộ gần đây,
không trừ tài liệu từ miền Bắc và các văn khố ở Mạc Tư Khoa, Hoa Thịnh
Đốn và Trung Cộng, bài diễn văn này đã trả lại được danh dự cho Quân
Lực VNCH và đem cuộc chiến lên một tầm nhìn mới. Sau đây là bản dịch từ
bài nói chuyện bằng tiếng Anh.
Đã
31 năm trôi qua kể từ ngày “chiến tranh VN” kết thúc. Có người nói là
chúng ta đã cho được cuộc chiến đó nằm yên một chỗ, rằng chúng ta đã
thắng vượt được “hội chứng Việt nam” và rằng hai dân tộc, Việt và Mỹ,
đã có những nỗ lực phi thường để đẩy cuộc chiến đó lại phía sau lưng.
Điều đó có thật không? Và liệu chúng ta đã thành công trong nỗ lực đó
không?
Hình như cho đến giờ chúng ta vẫn còn phải tìm lời để mô tả cuộc
xung đột đó cuộc chiến dài nhất trong lịch sử Hoa kỳ. Chiến tranh VN
dài hơn Chiến tranh Cách mạng Mỹ, Nội chiến Mỹ, Thế chiến I và Thế
chiến II cộng nhập vào với Chiến tranh Cao ly, vậy thì làm sao mà dễ
quên thế được? Các vết thương hằn sâu quá và trong hai cuộc chạy đua
vào Toà Bạch ốc gần đây, kinh nghiệm của các ứng cử viên Tổng thống
trong thời chiến tranh VN vẫn được cử tri xem là đáng kể để đánh giá
bản lĩnh của những người như ông Bill Clinton hay, gần hơn nữa, Tổng
thống George W. Bush và địch thủ của ông, Thượng nghị sĩ John Kerry.
Bẫy chữ nghĩa
Chiến tranh VN có lúc tỏ ra là một bẫy chữ nghĩa. Quá thông
thường, người ta xem đó là một cuộc chiến Mỹ Việt làm như là chỉ có hai
phe rõ ràng, Mỹ ở một bên và VN ở một bên. Song rút gọn chiến tranh lại
thành một phương trình như thế rõ ràng là không ổn vì chỉ cần một hội
nghị này là ta đủ thấy là có ít nhất hai phe Việt nam trong cuộc chiến,
mà tiếng Việt thường gọi là “Quốc Cộng.” Đây là một định nghĩa căn bản
mà cả hai phe ở VN chấp nhận trước đây, sự tách bạch này chỉ bị lu mờ
trong những năm gần đây khi Hà nội bắt đầu dùng hai chữ “quốc gia” cho
một số định chế của họ.(1)
Sự lầm lẫn (là chỉ có hai phe Việt Mỹ) này không những chỉ thấy trong
quan niệm của người ngoài phố, nó xảy ra quá thông thường ngay trong cả
giới trí thức và học thuật, và gần đây hơn cả, trong não trạng của Tổng
thống Bush và Tổng trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld khi hai ông này,
trả lời phỏng vấn, cho rằng người Việt miền Nam không chiến đấu đủ để
bảo vệ cho mình. Vậy điều đó đúng không? Thiết tưởng đó chính là lý do
tồn tại của hội nghị này. Miền Nam VN có là một chính quyền và một quốc
gia chính thống không, và Quân lực VNCH có chiến đấu hay không?
Cả mấy thập niên trước, ngay trong thời gian cuộc chiến sôi bỏng
nhất, tôi đã phải tranh luận với ông bạn quý của tôi, G.S. Douglas
Pike, người mà chúng ta thương tiếc sự ra đi cách đây ít năm, về một từ
rất thông thường trong tiếng Việt, hai chữ “Việt Cộng.” Nếu dựa vào ngữ
nghĩa thì “Việt” hiển nhiên là thay cho “Việt nam” còn “Cộng” thì là
tắt cho “Cộng sản.”
Hai chữ đó, như người Việt, cả ở Nam lẫn Bắc, dùng thì chỉ có
nghĩa là thế. Nói cách khác, trong thực tiễn cuộc sống cũng như ra
ngoài mặt trận, không mấy ai phân biệt giữa một đơn vị chính quy Bắc
Việt và một đơn vị của Mặt Trận GPMN. Ngoài chiến trường, cả hai đều
bắn vào mình và ta không có bao nhiêu thì giờ để tách bạch một lính
chính quy của QĐND miền Bắc (thường mặc binh phục) và một anh lính VC
miền Nam, có thể không mặc binh phục nhưng vẫn bắn AK47 chì không thua
gì anh chính quy kia. Có ai ngây thơ đến độ tưởng là anh chiến binh CS
ở phía bên kia tìm cách phân biệt đâu là anh G.I. Mỹ anh ta bắn trúng
và đâu là một binh sĩ miền Nam?
Ấy vậy mà trong một thời gian rất lâu, khi thảo luận về chiến
tranh VN, người Mỹ thường tìm cách tách bạch hai quân đội miền Bắc và
miền Nam của phía CS, và chính ông Pike là uy quyền hàng đầu trong việc
tách bạch này trong cuốn sách nổi tiếng của ông, cuốn Viet Cong (MIT,
1966). Làm như vậy, ông Pike và những đệ tử của ông đã ăn phải đúng một
trong những lập luận chính của đối phương, đó là, chiến tranh ở miền
Nam, ít nhất trong giai đoạn đầu là một cuộc nổi loạn nội bộ của miền
Nam do những bức xúc của riêng tình hình miền Nam đẻ ra vì người dân
chống lại chính quyền của ông Ngô Đình Diệm. Giải thích như thế chính
là tách rời một cách giả tạo cuộc chiến, trong giai đoạn 1959 đến 1975,
chẳng hạn, ra khỏi chuyện xảy ra trước đó và chuyện xảy ra sau tháng 4
năm1975.
“Chiến tranh VN” hay “Chiến tranh Đông dương”?
Ở Hoa kỳ, chiến tranh Việt nam được xem là kéo dài 8 năm, từ 1965
đến 1973. Nhưng khỏi nói cũng biết là sự tham dự của Hoa kỳ vào trong
chiến tranh VN có từ trước đó rất lâu và lại cũng kéo dài nhiều năm sau
đó. Giờ đây, chúng ta biết rõ là chiến tranh VN kéo dài ít nhất từ năm
1945 đến tháng 9/1989 và một phần của một trận chiến được theo đuổi
trong ba quốc gia là ít: Việt nam, Ai lao và Căm pu chia. Và nếu ta coi
hai miền của VN từ năm 1954 đến năm 1975 là hai quốc gia (Bắc VN và Nam
VN), một tình trạng thực tế cũng như là theo luật định trong đời sống
quốc tế lúc bấy giờ, thì cuộc chiến phải nói là xảy ra trong bốn nước
một sự kiện ta có thể thấy phản ánh đầy đủ trong cách Hà nội đã chia
các chiến trường ra thành bốn mà tất cả đều nằm dưới độc nhất một
trướng chỉ huy:
Bắc Việt được gọi là Chiến trường A
Nam Việt là Chiến trường B
Ai lao là Chiến trường C
Và Căm pu chia là Chiến trường D.
Người Pháp cũng tỏ ra gần sự thật hơn người Mỹ khi họ ít khi gọi
chiến tranh ở VN là “la guerre du Vietnam.” Trái lại, để định các giai
đoạn của cuộc chiến, họ nêu ra:
“La première guerre d’Indochine,” cuộc chiến Đông dương số 1, kéo dài từ 1946 đến 1954;
“La deuxième guerre d’Indochine,” cuộc chiến Đông dương số 2, tương đương với giai đoạn chính có người Mỹ tham gia, 1954 75 (2); và
“La troisième guerre d’Indochine,” cuộc chiến Đông dương thứ 3,
gồm hai pha cả thảy, Chiến tranh biên giới với Trung quốc (tháng 2,
tháng 3/1979) và cuộc Chiếm lãnh Căm pu chia (tháng 12/1978 đến tháng
9/1989).
Vì ý thức không muốn mở rộng cuộc chiến, do ngại là sẽ lôi kéo
thêm sự tham dự của Trung quốc cũng như của Liên Xô (tuy không lo
bằng), các trào liên tiếp của các tổng thống Mỹ, chỉ trừ có độc nhất
trường hợp ông Eisenhower, người mà trong hồi ký Mandate for Change vẫn
dùng chữ “Indochina” (“Đông dương”) thay vì Việt nam, đều gọi chiến
tranh ở nước ta là “chiến tranh Việt nam.” Làm thế, họ đã tuân theo một
phần nào thực tế ở dưới đất nhưng lại quên mất nhiều sự khác biệt quan
trọng khác: trong khi Hà nội tha hồ tung hoành và tác chiến ở ngoài
biên giới của miền Bắc VN, trên các mặt trận B, C và D, thì Hoa kỳ và
đồng minh Nam VN của họ mỗi khi đem chiến tranh ra ngoài biên giới của
miền Nam, như sang Lào trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 hoặc sang Căm
pu chia (như từ 1970 đến 1973) thì họ lại bị coi là vi phạm những luật
lệ của cuộc chơi.
Mặc dầu vậy, theo như tôi thấy, chưa có ai bao giờ gọi chiến tranh
VN là “chiến tranh Nam VN” cả. Tại sao? Tại vì một thứ linh tính bảo ta
rằng nếu Hà nội làm quá ở miền Nam thì hiển nhiên Hoa kỳ và Sài Gòn có
quyền trả đũa ở miền Bắc tỷ như những cuộc oanh tạc ở miền Bắc để ngăn
chặn việc đưa quân vào miền Nam. Do vậy mà ta có thể nói là có cái gì
gần như giả tạo khi Hoa kỳ, vào năm 1964, đã phải viện cớ vụ tàu Maddox
của Mỹ bị bắn tới hai lần để biện hộ cho việc đem chiến tranh ra miền
Bắc qua Nghị quyết Vịnh Bắc Việt (Tonkin Gulf Resolution).
“Xâm lăng từ miền Bắc” (1961, 1965)
Đây là một vấn đề then chốt nếu nói về sự chính thống của chính
nghĩa miền Nam, nếu như Bạch thư năm 1961 của Bộ Ngoại giao Hoa kỳ
khẳng định là đã có “xâm lăng từ miền Bắc.” Sang năm 1965, Bộ Ngoại
giao Mỹ lại đưa ra một cuốn Bạch thư khác để tiếp nối và cập nhật hoá
cuốn năm trước. Ta cần chú ý là một trong những tiếng nói phản chiến
lớn nhất ở giữa thập niên 1960 ở Mỹ, ông I. F. Stone viết trong báo
Ramparts, đã không tiếc thời giờ hay mực để bác bỏ quan niệm cho rằng
đã có “xâm lăng từ miền Bắc.” Thế có nghĩa là trong đầu ông I. F. Stone
và của hầu hết các lãnh tụ phản chiến khác thời bấy giờ, nếu lập luận
của Bộ Ngoại giao Mỹ được chấp nhận thì rõ ràng là Hoa kỳ và Sài Gòn có
một cơ sở chính thống để chống trả cuộc “xâm lăng” nói trên—nói cách
khác, cuộc chiến không phải chỉ là một cuộc nổi loạn ở địa phương dựa
lên trên những điều đáng khiếu nại hay phiền lòng đối với chính quyền
Sài Gòn.
Nhưng bây giờ thì ta biết. Khi được hỏi về tính cách giả hiệu của
Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (viết tắt là NLF trong tiếng Anh),
với các lãnh tụ bị coi là một lũ bù nhìn không có thực chất, Nguyễn
Khắc Viện, có lẽ là nhà trí thức nổi tiếng nhất ở Tây phương của miền
Bắc, đã cười một cách ngạo nghễ trên truyền hình Pháp vào năm 1977: “Ê,
thế có phải là chúng tôi giỏi đánh lừa quý vị không?”
Nhưng ta không phải chỉ có câu trả lời xấc xược của ông Viện để
chứng minh là đã có “xâm lăng từ miền Bắc.” Trong một bản “dự thảo Tổng
kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam” (3)
hoàn tất vào năm 1986, mà riêng bản của tôi được xem có mang chú thích
“Trình Đại tướng Võ Nguyên Giáp,” ở trang 28 đã có ghi đích xác như
sau: “Theo đường lối của đại hội [III của Đảng CSVN. Theo ghi chú của
cuốn sách], ngày 20/12/60, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam được
thành lập.” Như vậy, ta không còn gì để cãi nữa.
Song nói một cách cụ thể hơn nữa và ăn khớp với đề tài của chúng
ta hôm nay, những con số sau đây chép ra từ một tài liệu khác lấy ngay
từ Bộ Quốc phòng ở Hà nội, có mang ghi chú “Lưu”:
 |
Số tân binh* MB (Miền Bắc) Tăng Cường Cho Miền Nam (MN)
|
(*)
Chữ “tân binh” này không có nghĩa là lính tò te mà có lẽ phải hiểu là
những bộ đội mới đưa vào miền Nam. Và họ vào là đi theo đơn vị để chiến
đấu đến hết cuộc chiến, vì thế nên lúc bấy giờ mới có câu “Sinh Bắc, tử
Nam” đôi khi được khắc ngay trên tay hay mình của người bộ đội.
(**)
Theo bản gốc những con số mang hai hoa mai này được viết ngay vào cùng
hàng với những con số khác. Như vậy ta có thể hiểu là một số năm đã có
hai đợt đưa quân vào Nam. Dù như 1968 (Mậu thân) và 1972 (Mùa Hè đỏ
lửa) là những năm chiến cuộc lên cao độ, có lẽ đối phương cũng đã không
đưa đến 1/2 triệu quân vào Nam. Vì vậy nên có người đưa ra ức đoán đây
là những con số tổng cộng số quân trong những năm trước đó. Song ngay
hiểu như thế, con số tổng cộng ở cuối bảng cũng đã tới gần 1 triệu
(976,849 người).
Dựa vào bảng trên đây, ngay với những con số không đầy đủ của nó,
ta cũng có thể thấy là đã có tới 81,534 bộ đội miền Bắc được gửi vào
Nam từ năm 1959 tới năm 1964, trước khi binh lính chiến đấu của Mỹ được
đưa ồ ạt vào VN. Chỉ cần con số này, cộng thêm vào với những đơn vị của
Cục “R” mộ và huấn luyện ở miền Nam, đủ để chứng tỏ là quan niệm cho
rằng Quân lực VNCH không đánh nhau trước khi Mỹ ồ ạt đưa quân chiến đấu
vào miền Nam (tháng 3/1965) là vô lý.
“Sư tử của đối phương, thỏ đế của ta”
Thực sự, ngay với một số quân lớn như vậy đưa vào chiến trường
miền Nam, nghĩa là tương đương với 9 sư đoàn, quân Bắc Việt vẫn chưa
thấy có đủ tự tín để đụng trận ở cấp đơn vị lớn. Phải đợi đến Ấp Bắc
(tháng 1/1963) ta mới có trận đầu tiên ở cấp tiểu đoàn, song phía CS
chủ yếu là tìm cách xây dựng lực lượng ở miền Nam trước khi chạm trán
với quân đội Mỹ. Đó là vì ông Giáp rất ngại khả năng tham chiến của Hoa
kỳ, (4)
trong khi đó thì sau khi ông Ngô Đình Diệm bị lật đổ ở miền Nam, Hà nội
ngày càng chịu ảnh hưởng của Lê Duẩn nên đã liều lĩnh kêu gọi việc đem
lại “một đổi thay có tính quyết định trong cán cân lực lượng” giữa hai
miền (tháng 12/1963).
Đến khi quân đội Bắc Việt quyết định nhào vô đánh Mỹ dùng đơn vị
lớn hơn đại đội (trong hai trận Vạn Tường Starlite, tháng 8/1965, và Ia
Drang, tháng 11/1965 (1)
thì quân số của họ ở miền Nam đã lên đến hơn 150 nghìn, không kể những
quân phụ lực của họ ở miền Nam. (Ông Bùi Tín, chẳng hạn, cho ta một con
số thấp khi ông cho rằng vào năm 1965 1966, “số quân Bắc Việt đưa vào
miền Nam chưa tới 120 nghìn người.” (6) Tính đến năm 1966 thì
thực ra con số quân Bắc Việt đưa vào Nam đã lên đến 141 nghìn không kể
những đơn vị “vũ khí trang bị đầy đủ” đưa vào chiến trường B3 và B4 để
chiến đấu một thời gian rồi lại rút về miền Bắc.)
Với những trận chiến lớn ngày càng để cho Mỹ đánh và quân đội miền
Nam chỉ còn giữ những vị trí phòng thủ, không lạ là báo chí truyền
thanh truyền hình Mỹ, đằng nào cũng không mấy có hứng đưa tin nhìn từ
quan điểm của Quân lực VNCH, bắt đầu nói xấu đồng minh chính trong
chiến tranh, làm cho phía mình mất đi thêm tính cách chính thống. Cú
“đâm sau lưng chiến sĩ” tệ nhất đối với quân đội miền Nam xảy ra vào
tháng 10/1967 khi tuần báo Newsweek đưa ngay lên bìa tên bài báo chính
của tuần đó, “Sư tử của đối phương, thỏ đế của ta,” (7) chỉ một câu mà nói lên hết sự suy nghĩ của họ về quân lực VNCH.
Chính sự coi nhẹ, nếu không muốn nói là khinh miệt, đối với đồng
minh chính trong chiến tranh còn thấy phản ánh trong những trang bị
chiến tranh được chuyển cho quân đội miền Nam. Đến tháng 1/1968, để
chuẩn bị cho tổng công kích Mậu thân của họ, nếu quân đội CS, cả Bắc
quân lẫn quân GPMN, đều đã được cung cấp AK47 (một chương trình được
bắt đầu từ 1964, súng do Trung cộng sản xuất theo mẫu mã của Nga) thì
đến đó, chỉ có một số đơn vị chủ lực của miền Nam (TQLC và Nhảy Dù,
cộng thêm một vài đơn vị Biệt động quân) là được trang bị với M16 (võ
khí cá nhân được xem là tương đương với AK47 nhưng chính thực dễ hóc,
dễ hỏng hơn dù như bắn xa thì có chính xác hơn), trong khi đó thì hầu
hết quân đội miền Nam chỉ được cấp có Garant M1, loại súng cá nhân có
từ thời Thế chiến II. (Phải đợi đến khi tướng Abrams sang thay tướng
Westmoreland sau trận Mậu thân, ông mới đòi phải cung cấp M16 cho toàn
bộ quân chính quy của miền Nam.)
Mặc dầu vậy, mặc dầu súng ống không bằng quân Bắc Việt và quân
GPMN, quân lực miền Nam trong trận Mậu thân đã tỏ ra chiến đấu vô cùng
anh dũng trong trận thư hùng trên toàn quốc này. (8) Hai mươi lăm trên tổng số 45 tỉnh ở toàn miền Nam, (9)
kể cả ba đô thị lớn là Sài Gòn, Huế và Đà nẵng, bị đánh trong một cuộc
tổng công kích bất ngờ trên toàn lãnh địa từ Bến hải vào, ngay trong
khi đang có đình chiến Tết, có nghĩa là đa phần những trại bót của quân
đội miền Nam lúc bấy giờ không đủ quân số. Mặc dầu vậy, mặc dầu đối
phương có được yếu tố bất ngờ là yếu tố thường phải có lợi cho họ, quân
lực VNCH đã đánh bật cuộc tấn công trên toàn quốc trong vòng 48 tiếng
đồng hồ, trừ có trường hợp của Huế (mà đối phương giữ được một phần
trong 25 ngày), làm cho quân CS bị thảm bại. Hà nội cố gắng một cách vô
vọng khai thác cái mà được gọi là cơ hội “nghìn năm một thuở” này bằng
hai đợt tấn công rộng lớn khác nữa (nhưng ngày càng yếu) vào tháng 5 và
tháng 8, tháng 9 năm đó, để chuốc lấy thất bại cay đắng một điều mà
ngay các quan sát viên phía CS cũng phải công nhận. Kết quả là, chỉ
riêng trong cuộc “tổng công kích tổng khởi nghĩa” năm Mậu thân của họ,
Hà nội đã mất
58,373 tử vong (10) —nói cách khác, bằng tổng số tử vong của Hoa kỳ trong toàn bộ cuộc chiến ở VN, chưa kể 9,461 người khác bị bắt làm tù binh.
Đọc lầm
Cuộc “tổng công kích tổng khởi nghĩa” Mậu thân là một đại bại về
phía CS, điều này tới nay không còn ai phủ nhận nữa, kể cả phía CS. Nhà
báo Bùi Tín viết: “Tổn thất phía chúng tôi rất lớn. Lẽ ra sau đợt 1,
chúng tôi rút về củng cố địa bàn nông thôn, duy trì thế lực lâu dài,
thì chúng tôi lại phạm sai lầm, lao vào tiến công đợt 2 (tháng 5.1968),
đợt 3 (tháng 9.1968), đợt sau đuối hơn đợt trước, tổn thất sau đó cũng
nặng hơn! Ai ở miền Nam cũng hiểu rõ, năm 1968 và năm 1969 là hai năm
cực kì gay go của chúng tôi, gay go sang cả năm 1970 và năm 1971, đến
năm 1972 mới hồi phục.” (11)
Trong sách From Enemy to Friend, ông Bùi Tín còn nói rõ hơn nữa lý do
thoái trào của CS ở miền Nam trong gần 5 năm đó là do, sau trận Mậu
thân, “quân đội Hoa kỳ và Sài Gòn lập tức phản công trên toàn lãnh thổ
miền Nam kèm theo đó là bình định mau chóng, dẫn đến những tổn hại kinh
hoàng cho phía chúng tôi trong suốt ba năm 1968, 1969 và 1970.” (12)
Đối phương thất bại là thế, vậy mà khi lên mặt báo, truyền thanh hay truyền hình Mỹ (13)
thì chiến công đó lại bị coi là “thảm bại” của phía Đồng minh, dẫn đến
một trong những quyết định có tính cách định mệnh trong toàn cuộc
chiến, sự rút lui (vào tháng 3/1968) của ông Lyndon B. Johnson, không
chịu ra nhận ứng cử chức Tổng thống cho nhiệm kỳ 2 vào tháng 11 năm đó.
Đây hiển nhiên là một quyết định mà Hà nội có thừa thông minh để hiểu
rằng người Mỹ như vậy là đã đến giới hạn chót trong sự dấn thân, cam
kết của họ đối với miền Nam, và giờ đây sẵn sàng xuống thang để đi “cầu
hoà”—ở Paris.
Tất cả những gì diễn ra sau đó chỉ còn là những cách khác nhau để
cho Mỹ rút chân ra khỏi “vũng lầy Việt nam”: Không leo thang nữa (quân
số Hoa kỳ lên đến đỉnh gần 500 nghìn quân rồi bắt đầu được rút về từng
phần), ông Nixon đưa ra chính sách “Việt nam hoá” chiến tranh (1969),
ngoại trưởng Kissinger bắt đầu thương lượng với Mạc tư khoa và Bắc kinh
trên đầu hai nước VN (trong một lần gặp gỡ với ông Chu Ân lai, thủ
tướng Trung Cộng, vào năm 1970, ông “K” nói thẳng là Hoa kỳ sẵn sàng
rút lui đơn phương khỏi VN, bất kể chuyện gì có thể xảy ra sau đó về
mặt chính trị), (14)
đến khi Mùa Hè Đỏ Lửa xảy ra (1972) thì quân số Hoa kỳ chỉ còn 65 nghìn
quân ở miền Nam và không được tham chiến, tay ông Nixon sau đó bị trói
bởi Luật Quyền hạn chiến tranh (bị cấm ném bom Căm pu chia), rồi đến
tháng 1/1973 thì hoàn toàn không còn bóng dáng quân chiến đấu của Mỹ
nữa ở toàn cõi miền Nam. Thêm vào đó, cuộc khủng hoảng dầu hỏa vào cuối
năm 1973 làm cho hôm trước hôm sau, tiền viện trợ Mỹ cho Sài Gòn để mua
xăng nhớt chỉ còn mua được có bằng nửa trước kia, và cuối cùng thì Quốc
hội Mỹ xoá sổ miền Nam VN sau khi vụ xì căng đan Watergate nổ ra (1974).
Song ngay cả khi Hoa kỳ bỏ cuộc như vậy, quân lực VNCH vẫn tiếp
tục chiến đấu anh dũng, đẩy lui được ba mũi dùi lớn của quân Bắc Việt
thọc vào miền Nam trong vụ Mùa Hè Đỏ Lửa 1972. Thuỷ quân lục chiến VN
đã viết nên những trang sử oai hùng nhất trong lịch sử quân sự ở VN khi
vào tháng 9 năm ấy, họ đổ xương máu ra để chiến đấu lấy lại từng tấc
đất một của tỉnh Quảng trị (cuộc chiếm lại Cổ thành Quảng trị phải xem
là một trận Iwo Jima của VN) và trong cuộc phòng thủ cam go để giữ An
lộc ở phía bắc Sài Gòn, do địa phương quân, bộ binh và Nhảy Dù VNCH đảm
trách dưới mưa pháo của địch quân và hết đợt tấn công chiến xa này đến
đợt tấn công khác, trận An lộc đã đi vào quân sử với cách gọi là “trận
Stalingrad của VN,” “trận cứu nguy Sài Gòn” của ký giả Mỹ P. C. Clarke.
(15)
Ấy vậy mà vẫn có người tìm cách quy chiến thắng An lộc cho yểm trợ
không quân của Mỹ và nhất là bom trải thảm B52 song thử hỏi, đã mấy ai
nghe thấy trong lịch sử chiến tranh là có trường hợp nào bom đạn đã giữ
được đất (16) và hất được địch ra khỏi trận địa?
Lỗi lầm hiển nhiên là vẫn có và phải có
Như trong mọi cuộc chiến, lỗi lầm đã từng xảy ra ở VN; ngoài ra,
lại còn có yếu tố may rủi, có thể mang lại những kết quả khó lường.
Cộng thêm vào đó nữa tính kiên nhẫn nhịn nhục của Đông phương mà hai
phe người Việt đều có thừa, trái hẳn với sự nôn nóng và tính quyết liệt
của người Mỹ một khi họ đã quyết tâm “bỏ chạy.” Với tính chất khác biệt
như vậy giữa Mỹ và Việt, không lạ là chiến tranh đã không kết thúc được
một cách êm thắm. Cuối cùng, Sài Gòn bị Mỹ bỏ rơi (trước hết là Quốc
hội Mỹ và báo chí Mỹ, rồi đến ngay Tổng thống Ford nữa) đã đem lại
chiến thắng dễ dàng cho phía Hà nội, một chiến thắng mà đáng nhẽ không
thể có, chính vì vậy mà cho đến nay, VN vẫn còn phải lãnh chịu hậu quả
không hay của năm 1975: chiến tranh kéo dài thêm 14 năm nữa đến tháng
9/1989 (khi Quân đội Nhân dân buộc lòng phải triệt thoái khỏi xứ Chùa
Tháp, sau khi đã hứng chịu hơn 50 nghìn tử vong), rồi thảm kịch “thuyền
nhân” (chưa kể “bộ nhân” và “tường nhân”) dẫn đến việc hình thành một
cộng đồng hải ngoại gần 3 triệu người, nói chi đến cái ách nạn CS gieo
lên đầu lên cổ nhân dân gây nên những khổ cực tận cùng trong hơn 10 năm
trước khi có chính sách Đổi Mới (tháng 12/1986).
Vâng, cũng phải nói là ở phía chúng ta không ít lỗi lầm, kể cả lỗi
lầm tai hại về quân sự, cũng đã xảy ra. Trong các lỗi lầm này có lẽ
không có cái nào lớn hơn là quyết định của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu
cho rút quân khỏi Cao nguyên sau khi Ban mê thuột bị tấn công vào tháng
3/1975. Vì thiếu chuẩn bị nên cuộc rút lui này đã biến thành một đường
máu và nước mắt. Trường hợp Huế và vùng I cũng vậy, rối loạn xảy ra khi
tướng Ngô Quang Trưởng, một trong những tướng giỏi nhất của miền Nam,
được lệnh bỏ Huế (khi Huế vẫn có thể phòng thủ được) rồi lại được lệnh
ngược lại là giữ Huế bằng mọi giá (khi tình hình đã trở nên tuyệt
vọng). Mặc dầu vậy, người chiến sĩ VN vẫn có những giờ phút can trường
trong một số trường hợp: nhóm Mũ Đỏ ở Đơn dương, bộ binh VN ở Sa huỳnh,
và nhất là trận thư hùng ở Xuân lộc trong đó một mình sư đoàn 18, dưới
sự chỉ huy anh dũng của tướng Lê Minh Đảo, đã chống cự lại ba sư đoàn
Bắc Việt, gần như ngay ở cửa ngõ vào Sài Gòn.
Bởi những lý do trên nên tôi cho rằng nếu ta cần phải kết tội ai
(một điều tôi không tin là có ích lợi gì) thì còn nhiều tác nhân đáng
trách hơn Quân lực VNCH, dù như quân lực này cũng không khác mấy các
quân đội lớn trên thế giới là có những đơn vị yếu kém bên cạnh những sư
đoàn dũng mãnh, có tướng giỏi bên cạnh một số tướng khác làng nhàng hay
ngay cả tham nhũng. Ta có thể lấy các con số tử vong của quân lực này
cũng như những con số tương đương của đối phương để mà thấy sự hy sinh
và dũng cảm của Quân lực VNCH: ông Bùi Tín cho biết là quân đội Bắc
Việt mất 230,466 tử vong trên chiến trường miền Nam bên cạnh 51,532
quân CS miền Nam, chưa kể 300 nghìn người mất tích, tổng cộng là khoảng
600 nghìn người tổn thất ở miền Nam; để loại được 600 nghìn “con sư tử”
này, quân lực miền Nam cũng đã mất 230 nghìn tử vong bên cạnh đồng minh
chính là Hoa kỳ, mất 58 nghìn người. Như vậy là cứ một binh sĩ miền Nam
hay đồng minh ngã gục thì họ đã đánh đổi để hạ được hai địch quân CS. (17) Và đây là bất kể các trận chiến được xem là thất bại hay chiến thắng, tuỳ theo lối nhìn của mỗi bên.
Cần có một cách nhìn mới hơn đối với chiến tranh VN
Cuộc tranh cãi về những bài học của chiến tranh VN vẫn còn tiếp diễn.
Trên một bình diện, chiến tranh đó đã thổi phù đi các huyền thoại về
một “chiến tranh du kích” nếu đem áp dụng vào tình hình VN trong thời
gian Mỹ trực tiếp tham chiến (1965 1973). Tỷ dụ như hồi đó, ta nghe nói
nhiều về quan điểm của Sir Robert Thompson là ta cần phải có một tỷ lệ
trên 10 người chống 1 (du kích quân) (18)
mới có thể thắng được họ, một kết luận mà ông rút ra được từ kinh
nghiệm chiến tranh chống du kích CS ở Mã lai. Nhưng nếu nói thế thì
không bao giờ ở chiến trường VN chúng ta có được tỷ lệ như vậy. Thế có
nghĩa chăng là tất yếu phe Đồng minh phải thua ngay từ đầu? Tôi cho
rằng những con số tử vong nêu trên cũng như những giai đoạn trồi sụt
trong cuộc chiến đã cho ta thấy là câu chuyện thực phức tạp hơn thế
nhiều.
Rồi lại có vấn đề chiến tranh VN là một chiến tranh giới hạn như
thế nào? Đúng là phe Đồng minh đã không phải đi đến chỗ dùng bom nguyên
tử hay vũ khí hạch nhân (như Pháp và Mỹ đã thoáng bàn đến cách dùng bom
ấy vào năm 1954 khi Điện biên phủ xem chừng sắp thua) và Hà nội cũng
không bao giờ có khả năng dùng không lực ở miền Nam cho đến tận những
ngày gần cuối cùng. Như vậy thì phải xem chiến tranh VN là một cuộc
chiến địa phương hay khu vực? Chúng ta cũng đã nói qua về vấn đề này ở
trên (địa bàn chiến tranh là 4 “nước” cả thảy) nhưng phải nói là chỉ
khi chúng ta xem đây là một cuộc chiến cho toàn vùng Đông Nam Á (19)
thì câu chuyện mới có lý, và trong một nghĩa nào đó xem đây là một cuộc
tranh chấp Đông Tây trong Chiến tranh Lạnh xem chừng còn có nghĩa hơn
nữa.
Để trả lời câu hỏi này, ta không thể có lời chứng nào ý nghĩa bằng lời chứng của ngay ông Bùi Tín:
“Mới đầu, tôi cho là vấn đề rất giản đơn, như cuộc chiến tranh Pháp
Việt trước đó. Đây là cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc của chúng
tôi… Càng về sau…, được nghe và đọc nhiều, tôi thấy quả thật đây là vấn
đề phức tạp, rất phức tạp.
Các cuộc chiến tranh, tuỳ nơi, tuỳ
lúc, tuỳ động cơ, điều kiện lịch sử cụ thể, mang tính chất khác nhau:
chiến tranh đúng/sai, chính nghĩa/phi nghĩa, bảo vệ tổ quóc/xâm lược,
nóng/lạnh, xâm chiếm đất đai, ý thức hệ, dân tộc, tôn giáo, giai cáp,
thiêng liêng thần thánh/sai lầm bẩn thỉu.
Khi còn trẻ…, tôi cho chiến tranh am2 chúng tôi thực hiện là đúng, là
chính nghĩa, vì nó nhằm giành và bảo vệ nền độc lập, chống xâm lược,
chống sự chiếm đóng của quân đội nước ngoài trên đất nước tôi…
Về sau, là người cộng sản, được giáo dục tuyên truyền của đảng cộng
sản, tôi thấy đấy còn là cuộc chiến tranh để bảo vệ cả phe xã hội chủ
nghĩa, chống lại ‘sự xâm lược của phe đế quốc’ do Mỹ cầm đầu. Chúng tôi
được giáo dục để coi phe xã hội chủ nghĩa… là Tổ quốc lớn của những
người vô sản chúng tôi. Cao hơn nữa, chúng tôi coi đây là sứ mệnh của
giai cấp vô sản quốc tế nhằm giải phóng tất cả các dân tộc và các giai
cấp trên thế giới khỏi ách áp bức, bất công, xâm lược. Vì thế chúng tôi
tự hào, hăng say chiến đấu… Tôi đang cầm súng, đứng trên tiền đồn của
phe xã hội chủ nghĩa, của nhân loại tiến bộ, vừa làm nhiệm vụ quốc gia,
vừa làm nhiệm vụ quốc tế. (20)
Chỉ
có một cái nhìn bao quát, đem cả quốc tế vào, thì ta mới có thể hiểu
được tại sao chiến tranh VN sau bao nhiêu năm vẫn còn được một số người
xem là một cuộc chiến có ý nghĩa toàn cầu (tỷ dụ như có thể có ảnh
hưởng ở Trung Nam Mỹ, ở Phi châu, Trung Đông v.v.), và cũng chỉ có một
cách đọc theo kiểu Chiến tranh Lạnh thì mới có thể hiểu được tại sao Hà
nội đã nhận được sự viện trợ đều đặn của Liên Xô, Trung quốc và các
quốc gia khác nằm trong khối CS quốc tế trong suốt thời gian chiến
tranh. Giờ đây, chẳng hạn, ta biết quá rõ là trang bị chiến tranh của
Liên Xô (không trừ chiến xa và máy bay MiG) là xương sống của nỗ lực
chiến tranh của Hà nội cũng như là tình báo trên không của Mạc tư khoa
cũng giúp vào nỗ lực này, rằng một số binh chủng trong quân đội Trung
Cộng (phần lớn là công binh và các đơn vị chống máy bay, mà các nguồn
tin Trung quốc cho biết là tới 320 nghìn người hay, như ông Bùi Tín
nói, là 320 nghìn lượt) đã thay phiên nhau sang đóng quân ở miền Bắc,
rằng đã có 801 phi công Bắc Hàn sang nghênh chiến (22) trên
không với máy bay Mỹ trên vùng trời Bắc Việt, rằng công an nội chính
STASI của Đông Đức đã đào tạo và huấn luyện công an cho Hà nội, rằng
tất cả các súng Kalashnikov đều sản xuất ở Tiệp khắc và rằng Cuba đã
gởi các thẩm vấn viên sang khai thác tù binh Hoa kỳ.
Đến khi Mỹ rút quân ra khỏi Việt nam thì cái vỏ quốc tế của phe CS
cũng vỡ ra luôn: Bắc kinh trở thành một đồng minh tạm thời với Mỹ để
chống lại đe doạ từ Liên Xô, và chẳng bao lâu thì ba đồng minh CS ở Á
đông đè nhau ra làm thịt (Việt nam, Căm pu chia, Trung Cộng). Khỏi cần
phải nói ta cũng biết là những yếu tố này đã mang lại sự sụp đổ của
khối Xô viết ở châu Âu.
Để kết, ta có thể nói được là định mệnh không may của miền Nam tự
do và quân lực VNCH, mặc dù đã tỏ ra vô cùng dũng cảm và hy sinh, đã
đưa miền đất này đến chỗ trở thành nạn nhân của Chiến tranh Lạnh; song
những hy sinh và khổ nạn của miền đất này không thể xem được là đã tỏ
ra vô ích. Chiến tranh VN, ta có thể nói được khá chắc chắn, đã cứu vãn
được thế giới trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh khỏi một cuộc chiến cao độ
và lan rộng hơn mà có nguy cơ lôi cả thế giới vào.
Đọc tại Vietnam Center
Texas Tech University
Lubbock, Texas
Ngày 17 tháng 3 năm 2006
Chú thích
(1) Từ thập niên 1990 trở lại đây, Hà nội đã xập xí xập
ngầu bằng cách gán hai chữ “quốc gia” cho một số định chế của họ, như
“Nhà xb Sự Thật” đổi thành “Nhà xb Chính trị quốc gia” hay “Đại học
tổng hợp Hà Nội” trước kia giờ đây gọi là “Đại học tổng hợp quốc gia Hà
Nội.”
(2) G.S. William S. Turley đã tỏ ra theo cách phân
định này khi ông viết cuốn The Second Indochina War: A Short Political
and Military History, 1954 1975 (“Chiến tranh Đông dương lần thứ hai:
Lược sử chính trị và quân sự, 1954 1975”), New American Library, 1987).
Tướng Philip B. Davidson, tuy gọi cuốn sách của ông là Vietnam at War:
The History, 1945 1975 (Oxford University Press, 1991) song cũng nói
ngay trong bài tựa là ông Võ Nguyên Giáp là một nhân vật xuyên suốt ba
cuộc chiến mà ông định nghĩa là: “Indochina War I between the Vietminh
and the French, Indochina War II between the United States/South
Vietnam and North Vietnam/Viet Cong, and Indochina War III between
North and South Vietnam.” (trang ix)
(3) Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Tóm tắt Dự thảo Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam, Hà Nội, 1986.
(4)
Bùi Tín, trong Mây Mù Thế Kỷ (Đa Nguyên, 1998, trang 37), viết: “Tôi
còn nhớ hồi năm 1965, khi cho ý kiến về bình luận quân sự, tướng Võ
Nguyên Giáp có nói riêng với mấy phóng viên quân sự báo Quân đội nhân
dân rằng: ‘Mỹ vào chừng mười bốn, mười lăm vạn đã thành vấn đề gay go ở
chiến trường. Nếu số quân Mỹ lên đến hai mươi vạn hoặc hơn nữa thì sẽ
rất gay go cho phía ta!’ Chính vì những phát biểu như thế này mà sau đó
có tin đồn, do phe Lê Duẩn (sẵn không ưa ông Giáp) đưa ra, rằng ông Võ
Nguyên Giáp là một loại thỏ đế, nhát như cáy. Tin đồn này đến năm 1991
còn được nhắc lại trong hồi ký của Trần Phương. (Xem thêm Bui Tin, From
Enemy to Friend: A North Vietnamese Perspective on the War, Annapolis,
MD: Naval Institute Press, 2002, trang 14.)
(5) Trận Ia
Drang, với tất cả những chi tiết ghê rợn và vinh quang của nó, được kể
lại trong sách We Were Soldiers Once… and Young (“Chúng ta đã một thời
làm lính... trẻ,” New York: HarperTorch, 1992) do Trung tướng Harold G.
Moore (hồi hưu) và ký giả Joseph L. Galloway, người có tham dự trận
đánh này với tư cách là phóng viên chiến trường. Cuốn sách, vì hai tác
giả có sang tận Việt nam phỏng vấn các đối tác trong trận này, đã tỏ ra
khá công bằng cho cả đôi bên, Mỹ và quân đội Bắc Việt.
(6) Bui Tin, From Enemy to Friend (“Từ thù đến bạn”), sđd, trang 14.
(7) Perry, M.D., “Their Lions, Our Rabbits,” Newsweek, October 9, 1967.
(8)
Palmer, Dave R., Summons of the Trumpet: U.S. Vietnam in Perspective,
San Rafael, Ca: Presidio Press, 1978. Mặc dù ông Palmer cho là phe Đồng
minh đã không nắm được tin tình báo về cuộc “tổng công kích tổng khởi
nghĩa” này của phía CS, một điều mà các tác giả khác không nhất thiết
đồng ý, ông cũng viết, theo bản dịch của Nguyễn Đức Phương trong Chiến
tranh Việt Nam Toàn Tập (x. chú thích 10 dưới đây, trang 413): “Tin
tưởng rằng sẽ được chào đón như những giải phóng quân và hy vọng nhìn
thấy QLVNCH tan rã bỏ chạy, các cấp lãnh đạo của CS đã thất vọng cả
hai. QLVNCH dù bị bất ngờ và chỉ có phân nửa quân số hay ít hơn, đã
chiến đấu như chưa bao giờ thấy trước đây. Thay vì gây cho các lực
lượng của Sài Gòn bị tan rã, cuộc tổng tấn công đã tạo một hậu quả trái
ngược khiến QLVNCH xiết chặt thêm hàng ngũ. Chiến đấu để bảo vệ nhà cửa
thành phố của mình, người lính Nam Việt Nam đã chứng tỏ một tinh thần
chiến đấu cao độ và dũng mãnh làm ngạc nhiên hầu hết các quan sát viên,
nhất là quân đội miền Bắc Việt Nam. Cuộc tổng khởi nghĩa hoàn toàn chỉ
là một huyền thoại. Dân chúng miền Nam Việt Nam không bước ra chào đón
người khách lạ đầu Xuân. Họ đã đứng dậy nhưng trong sự hãi hùng và
chống đối kẻ xâm lược.”
(9) Đây là một con số bảo thủ và
không liệt kê vào trong đó những tỉnh thành mà chỉ có bắn phá chứ không
có quân CS tiến công vào. G.S. John Prados, trong sách The Hidden
History of the Vietnam War (“Lịch sử bí mật Chiến tranh VN,” Chicago:
Ivan R. Dee, 1995, trang 142) đưa ra những con số cao hơn nhiều: “Các
đơn vị Bắc Việt và Việt Cộng đưa từ 67,000 đến 84,000 quân vào tấn công
39 trong số 44 tỉnh lỵ, 71 quận huyện, Sài Gòn, tất cả các tổng hành
dinh của QLVNCH và nhiều căn cứ không quân chính—tổng cộng là 166 tỉnh
thành.” Kết luận về chiến dịch TCK TKN của Hà nội, Phillip B. Davidson,
trong Vietnam at War (sđd, trang 447), đã viết: “Cái yếu bao trùm trong
kế hoạch của ông Giáp là nó được đặt trên căn bản của những giả thiết
đã tỏ ra không những không có cơ sở, mà còn hoàn toàn sai. QLVNCH đã
không theo địch quân hay rã ngũ, hoặc tan rã trước các mũi tấn công dữ
dội của phe CS vào Tết Mậu thân. Nói chung, QLVNCH chiến đấu dũng cảm
và hữu hiệu hơn bao giờ hết trước đó và cũng từ đó; quân lực ấy không
nổi lên chống lại chính phủ Thiệu; và họ đã không quay lại đánh phá
quân đội Mỹ.”
(10) Nguyễn Đức Phương, Chiến tranh Việt Nam
Toàn Tập: Từ trận đầu (Ấp Bắc – 1963) đến trận cuối (Sài Gòn – 1975),
Toronto, Canada: Làng Văn, 2001, nơi trang 407, dẫn theo lịch sử chính
thức của QLVNCH mang tên Cuộc Tổng Công Kích – Tổng Khởi Nghĩa của Việt
Cộng Mậu Thân 1968 của Phạm Văn Sơn và Lê Văn Dương (Saigon: Phòng
5/BTTM, 1968). Cũng cần phải nói là John Prados xem tác phẩm sau này là
bản tường trình đầy đủ nhất trong bất cứ tiếng nào về vụ TCK TKN của CS
mà lại viết chỉ ít tháng sau chứ không phải chờ đến nhiều năm. Trong
tiếng Anh, cuốn sử tương đương viết từ quan điểm của QLVNCH là cuốn The
General Offensives of 1968 69 của Hoàng Ngọc Lung (Washington, D.C.:
Center for Military History, 1981).
(11) Bùi Tín, Mây Mù Thế Kỷ, sđd, trang 105.
(12)
Bùi Tín, From Enemy to Friend, sđd, trang 63 64. Trong sách ghi ở cước
chú 3 trên đây, chúng ta thấy ghi trong phần “Ưu khuyết điểm và kinh
nghiệm của giai đoạn 1969 1972” nơi trang 97 nhận định như sau: “Qua
những gì xảy ra trong hai năm 1969 và 1970, do ta nắm lỏng lẻo nông
thôn và cao nguyên, địch đã quyết liệt phản công và đạt được một số
thắng lợi trong khi đẩy ta vào những khó khăn kéo dài.” Ngoài ra, ta
cũng còn có thể trích dẫn một số nguồn tài liệu cộng sản khác như hồi
ký Trần Văn Trà (tư lệnh Cộng quân miền Nam), Lê Minh (chỉ huy trận Mậu
thân ở Huế), Hoàng Văn Hoan (uỷ viên Bộ chính trị đào tẩu sang Trung
quốc năm 1979), v.v. Tất cả những nguồn tin đó đều công nhận là trận
Mậu thân đã làm cho việc xâm lăng miền Nam bị trì hoãn ít ra là bốn
năm. Cựu Tổng trưởng Quốc phòng Melvin Laird, viết trong số báo ra
tháng 11 và 12 năm 2005 của tạp chí Foreign Affairs (“Iraq: Learning
the Lessons of Vietnam”), cho rằng QLVNCH không thua một trận lớn nào
suốt từ năm 1968 cho đến gần những ngày cuối của VNCH. Theo ông, Tết
1968 là một “chiến thắng” của miền Nam và một “thảm hoạ quân sự” cho
miền Bắc làm cho phía Cộng quân mất “289,000 thương vong” chỉ nguyên
trong năm 1968.
(13) Về tất cả những sự xuyên tạc và hiểu
lầm kinh khủng về Tết Mậu thân trong báo chí, truyền thanh và truyền
hình Mỹ, ta cần tham khảo cuốn sách đồ sộ của Peter Braestrup, Big
Story (“Tin Lớn”), 2 tập (Denver, CO: Westview Press, 1977). Bản thu
lược lại thành một tập của tác phẩm này (New Haven, CT: Yale University
Press, 1983), chẳng may, đã bỏ đi chương trong đó Braestrup kể lại là
có ba phóng viên Mỹ chịu khó đi hành quân với quân đội VNCH, cả ba đều
có những điều tích cực để nói về những đơn vị Việt nam mà họ có dịp đi
theo. Tướng Davidson, sđd, trang 483 492, cho ta một bản tóm lược về
ảnh hưởng của báo chí truyền thông lên trên việc xúc tiến chiến tranh
mà ông mô tả là một “trận nước lũ hỗn độn và kinh khiếp, làm tràn ngập
lên hết cả những ai tìm cách lái nó sang hướng khác hay chặn nó lại.”
(trang 483)
(14) Lời tuyên bố đích xác của ông Kissinger
với ông Châu Ân lai về chuyện này mới đây đã dược giải mật sau khi các
ghi chú về những cuộc trao đổi bí mật giữa đôi bên ở Bắc kinh đã được
chuyển sang cho Nha Văn khố Quốc gia (Mỹ).
(15) Clarke,
P.C., “The Battle That Saved Saigon: An Loc” (“Trận chiến đã cứu Sài
Gòn: An Lộc”), Reader’s Digest, March 1973, trang 151 156. Về sự chính
xác hay thiếu chính xác, cân bằng hay không của báo chí truyền thông Mỹ
đối với QLVNCH, ta có thể dẫn chứng cuốn sách vĩ đại trong nhiều nghĩa,
Reporting Vietnam, American Journalism 1959 1975 (“Làm tin về VN, ngành
báo chí truyền thông Mỹ, 1959 1975,” New York: The Library of America,
2000, 853 trang), trong đó 61 bài báo được đăng lại thì chỉ có bảy bài
viết về quân đội miền Nam, rồi trong số đó lại chỉ có độc nhất một bài
ít nhiều thân thiện đối với phía QLVNCH. Lấy một trường hợp khác, bài
viết bởi John Saar về Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 trong báo Life (April 28,
1972), “Report from the Inferno” (“Tường trình từ Địa ngục”), thì tình
hình An Lộc trong những ngày khốc chiến được tường thuật qua con mắt
của “một cố vấn Mỹ cấp thấp”: “Tình hình càng ngày càng tệ mà bọn Việt
nam họ chẳng làm gì cả. Mùi hôi thối trong tỉnh xông lên quá nên họ
phải dùng xe ủi để mà đào một khu mồ tập thể cho 300 binh sĩ tử vong
của họ. Bọn Bắc Việt pháo vào nhà thương với súng 155mm mà họ cướp được
của ta, giết chết 61 người. Thế là bây giờ bên này không cả có bệnh
viện cũng như đủ đồ y dược để lo cho thương binh trong khi đó mình có
từ 500 đến 600 thương binh của phía quân đội miền Nam mà họ cũng không
có khả năng cho tải ra khỏi chiến trường.” Ta chỉ cần coi phần
“Chronology” (“Biên niên”) ở cuối sách (trang 787) là đã thấy một câu
chuyện khác nhiều, dưới mục năm 1972: “Quân Bắc Việt tung ra một trận
xâm lược qui mô vào miền Nam (gọi là ‘Easter Offensive’ vì nó xảy ra
vào Phục sinh năm ấy) nhằm ngày 30 tháng 3, dùng hàng trăm chiến xa,
đại pháo hạng nặng do cam nhông trở đi, cũng như hoả tiễn đất trời để
vượt biên tấn công vào Quảng trị, Bình long [An lộc nằm trong tỉnh này.
NNB] và Kontum… Cuộc đánh vào Bình long bắt đầu với quân Bắc Việt chiếm
được Lộc ninh, vào những ngày 4 6 tháng Tư… Sau đó chúng xuất phát từ
Lộc ninh xuống bao vây An lộc vào ngày mồng 7 tháng Tư… Được không quân
Mỹ yểm trợ mạnh mẽ, quân đội miền Nam đẩy lui được mũi tiến công vào An
lộc ngày 13 tháng Tư… Cuối cùng, quân đội miền Nam đánh bật địch quân
ra khỏi An lộc từ 11 đến 14 tháng Tư.” Cũng tương tự, quân đội miền Nam
đánh bật được quân Bắc Việt ra khỏi Kontum, ngày 14 30 tháng Năm, phá
vỡ vòng vây của đối phương chung quanh An lộc ngày 11 tháng Bảy và lấy
lại phần lớn Quảng trị vào ngày 15 tháng 9. Ta cũng cần nhớ là trong
những ngày khốc liệt nhất, An lộc mà diện tích chỉ có khoảng 6 km2,
phải hứng chịu tới 30,000 đạn pháo của địch quân một ngày. Để nghe kể
về trận chiến kiêu hùng An lộc, ta bắt buộc phải đọc Mùa Hè Đỏ Lửa
(Saigon, 1972) của Phan Nhật Nam và một cuốn nhật ký ghi lại từng ngày
của một bác sĩ quân y có dự trận suốt thời gian An lộc bị đánh và mới
chỉ in lần đầu ở hải ngoại cách đây chừng hai năm.
(16) Sau
khi trận An lộc kết thúc vào tháng 7/1972, báo chí truyền thông Hoa kỳ
bắt đầu kể công và cho là chính nhờ bom B52 trải thảm mà quân Bắc Việt
đã không chiếm được An lộc. Phiền lòng vì lối cướp công vô lối này, một
nữ sinh Việt nam lúc bấy giờ đang có mặt ở Mỹ, cô Nguyễn Thị Ngân, đã
phải viết cho tờ Washington Post (trong mục “Letters to the Editor”)
thách thức xem ai có thể chứng minh được là bom đạn có thể giữ được một
mảnh đất trên chiến trường.
(17) Lewy, Guenther, America in
Vietnam (“Hoa kỳ ở VN”), Oxford University Press, 1978. Xem đặc biệt
những phụ lục thống kê để có những con số so sánh. Tưởng cũng nên nhắc
lại là trong một cuộc phỏng vấn dành cho nhà báo người Ý Oriana
Fallaci, có in lại trong cuốn Interviews with History in ra năm 1972,
ông Võ Nguyên Giáp cũng đã công nhận là tính đến khoảng cuối năm 1971
Hà nội đã mất nửa triệu người.
(18) Thompson, Robert, Defeating Communist Insurgency (“Đánh bại quân CS khởi nghĩa,” Frederick A. Praeger, 1966), trang 48.
(19)
Brackman, Arnold, The Third Front in Southeast Asia (“Trận tuyến thứ ba
ở Đông Nam Á”), 1967. Ông Brackman cho rằng đến cuối năm 1964 Hoa kỳ và
đồng minh, chủ yếu là Anh, đang đứng trước một tình trạng có thể nói là
Trung Cộng dựng đã gần xong một trục Bắc Nam đi từ Bắc kinh xuống qua
Hà nội, Nam vang và sang đến tận Djakarta. Chính vì lý do đó mà ông
hoàng Sihanouk, một người rất tinh ý, đã vội vàng tự xếp mình vào hàng
các nước thân Trung Cộng, lúc bấy giờ lại còn được De Gaulle ủng hộ.
Nếu như vụ đảo chánh bất thành của CS ở Nam dương mà thành công năm sau
(1965), lật đổ được xong ông Sukarno, thì Bắc kinh đã hoàn tất được
tham vọng biến thành bá quyền vùng Đông Á và Đông Nam Á. Có lẽ đứng
trước cơ nguy đó, cơ nguy mất hết tài nguyên của Nam dương (dầu hoả,
khí đốt, cao su, nguyên liệu mà Tổng thống Eisenhower đã nhắc đến trong
hồi ký của ông, Mandate for Change) nên Tổng thống Johnson và chính phủ
Anh lúc bấy giờ đã quyết định can thiệp một cách quyết liệt để bẻ gẫy
trục “tung” của Bắc kinh – Nam dương bằng một trục “hoành”: Anh đem
quân nhảy dù thả xuống Mã lai, Xinh ga po và Borneo để đương đầu và
đánh bại chính sách konfrontasi của Djakarta, đồng thời Hoa kỳ gởi quân
tác chiến ồ ạt sang Việt nam (tháng 3/1965). Tháng 9/1965, CIA mớm cho
các tướng Nam dương (như Nasution, Suharto v.v.) biết về âm mưu của CS
Nam dương nên các tướng này đã bẻ gẫy được mưu đồ đảo chánh của CS (dẫn
đến thảm trạng gần nửa triệu đảng viên CS bị giết ở xứ này). Nếu nhìn
dưới góc độ đó thì sự can thiệp của Mỹ vào VN phải xem là đã cứu vãn
được gần toàn bộ Đông Nam Á ra khỏi vòng tay của CS không những cho đến
ngày nay mà có lẽ là còn vĩnh viễn trong tương lai, đổi thay hẳn dòng
chảy tưởng như là đương nhiên của lịch sử.
(20) Bui Tin, From Enemy to Friend, sđd, trang 4 5.
(21)
Smith, Ralph, An International History of the Vietnam War (“Lịch sử
chiến tranh VN nhìn từ góc độ quốc tế”), London: MacMillan, Tập I
(1983), Tập II (1985). Theo như chỗ tôi được biết thì hình như Tập III
cũng đã in xong nhưng chúng tôi không tìm mua được. Chẳng may, G.S.
Ralph Smith (Trường Đông phương và Phi châu học thuộc Viện Đại học Luân
đôn) mất trước khi ông hoàn tất đại tác phẩm dự tính sẽ gồm bốn tập
này. Tuy nhiên, sau khi CS sụp đổ ở Liên Xô năm 1991, nhiều kho tài
liệu (văn khố) ở Liên Xô đã mở ra cho các nhà nghiên cứu và G.S. Ralph
Smith cho rằng một số kết luận của ông trước kia đã có thể không còn
đứng vững nữa, cần được tu chính. Mặc dầu vậy, ta vẫn có thể nói được
rằng cách tiếp cận của ông, xem chiến tranh VN là một cuộc xung đột
quốc tế giữa Đông và Tây là hoàn toàn có giá trị.
(22)
Trong một số trao đổi qua chuyện trò hay thư viết, ông Bùi Tín cho rằng
những con số này là quá đáng. Ông cho phía Bắc kinh tính mỗi lượt người
sang VN là một binh sĩ hay cá nhân; nói như ông, thế có nghĩa là con số
320,000 phải hiểu là có ngần ấy lượt quân của Bắc kinh sang VN—tương tự
như con số 2,8 triệu quân Mỹ đã có đi tua ở Việt nam. Ông cũng chê sự
hữu hiệu của các đơn vị bắn máy bay của Trung Cộng, cho rằng họ không
bắn hạ được một chiếc máy bay nào của Mỹ cả. (Ông còn kể, đi đâu họ
cũng giơ cao cuốn Sách Đỏ của Mao chủ xì của họ ra rồi hô khẩu hiệu thì
bảo làm sao bắn rớt được máy bay.) Còn về trường hợp các phi công chiến
đấu người Bắc Triều tiên thì ông kể, họ gặp nhiều trở ngại liên lạc với
dưới đất (do ngôn ngữ bất đồng) nên cuối cùng họ hoàn toàn trở nên vô
dụng. Tuy nhiên, ta cũng cần để ý là sự hiện diện của quân Trung Cộng
trên đất Bắc Việt suốt từ biên giới Việt Trung xuống đến Bắc giang cách
xa Hà nội chỉ có mấy chục cây số (từ 1967 đến 1972), đã giúp cho Hà nội
gởi được nhiều đội quân sang Lào và vào đánh phá miền Nam (Điều này đã
quá rõ trong một cuộc nói chuyện tay đôi giữa Mao và ông Hồ trong một
lần ông Hồ sang Bắc kinh xin. Ngày 16 tháng 5 năm 1965, chính ông Hồ,
chứ không ai khác, đã đề nghị Bắc kinh gởi quân sang để cho quân đội
Bắc Việt có thể rảnh tay đi làm mấy chuyện kia. Xem “Mao Zedong and Ho
Chi Minh, Changsha (Hunan), 16 May 1965,” trong tập 77 Conversations
Between Chinese and Foreign Leaders on the War in Indochina, 1964 1977,
thuộc dự án Cold War International History Project của Woodrow Wilson
International Center for Scholars, Washington, DC: May 1998, trang 87).
Ngoài ra, ông Bùi Tín còn cho ta thêm bằng chứng về sự hiện diện và
tham dự của Bình nhưỡng vào chiến tranh VN khi ông cho biết là ngoài
những phi công Bắc Hàn nói trên, họ còn gửi cả người đi đường bộ vào
đến Bình định (Vùng I chiến thuật) để thực hiện tâm lý chiến, kêu gọi
các lính Nam Hàn bỏ súng về với bên CS. Nhưng ở đây, quân Bắc Hàn cũng
tỏ ra hoàn toàn vô hiệu và chẳng bao lâu đã bị triệu hồi.
Những con số sau này xuất phát từ Hà nội lại còn cho ta thấy một mức
tổn thất cao hơn nhiều. Phần “Chronology” (“Biên niên”) trong cuốn
Reporting Vietnam (“Làm tin về VN”), sđd, trang 793, đưa ra những con
số như sau về tổn thất của hai phe Việt nam: “Miền Nam mất ít nhất là
200 nghìn binh sĩ tử vong… Năm 1995 chính quyền Việt nam [tức Hà nội]
khẳng định là họ mất 1 triệu 100 nghìn người, cả quân Bắc Việt lẫn quân
GPMN, chết trong giai đoạn từ 1954 đến 1975.” Như vậy thế có nghĩa là
dưới con mắt của Hà nội giờ đây, họ bị tổn thất hơn 1 triệu người trong
giai đoạn chiến tranh ở miền Nam. Thế cũng có nghĩa là tỷ lệ chết giữa
đôi bên đổi thành ít nhất 1 đổi 4 một kết quả khá lạ kỳ nếu Quân lực
VNCH, một quân đội thường bị dư luận quốc tế xem là không có khả năng
và ngại đánh nhau, ngại chết, lại giết được đối phương tới mức hơn 1
đổi 4, 1 “thỏ đế” đổi hơn 4 mạng “sư tử” của đối phương!
In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè: