Vai trò của Quân lực VNCH

Theo Đàn Chim Việt - Nguyễn Ngọc Bích - 08-06-2006

DCVOnline: Trong hai ngày 17 và 18 3 2006, Trung tâm Việt nam ở Đại học Texas Tech (Lubbock, TX) đã tổ chức một hội nghị chuyên đề về “Quân Lực VNCH: Nhìn Lại và Tái Thẩm Định Sau 30 Năm” (“ARVN: Reflections and Reassessments After Thirty Years”). Nhân dịp này, Ông Nguyễn Ngọc Bích đã được mời đọc bài diễn văn quan trọng ở bữa ăn trưa (“luncheon keynote speech”) ngày đầu hội nghị. Dựa vào nhiều tài liệu mới được tiết lộ gần đây, không trừ tài liệu từ miền Bắc và các văn khố ở Mạc Tư Khoa, Hoa Thịnh Đốn và Trung Cộng, bài diễn văn này đã trả lại được danh dự cho Quân Lực VNCH và đem cuộc chiến lên một tầm nhìn mới. Sau đây là bản dịch từ bài nói chuyện bằng tiếng Anh.

Đã 31 năm trôi qua kể từ ngày “chiến tranh VN” kết thúc. Có người nói là chúng ta đã cho được cuộc chiến đó nằm yên một chỗ, rằng chúng ta đã thắng vượt được “hội chứng Việt nam” và rằng hai dân tộc, Việt và Mỹ, đã có những nỗ lực phi thường để đẩy cuộc chiến đó lại phía sau lưng. Điều đó có thật không? Và liệu chúng ta đã thành công trong nỗ lực đó không?

Hình như cho đến giờ chúng ta vẫn còn phải tìm lời để mô tả cuộc xung đột đó cuộc chiến dài nhất trong lịch sử Hoa kỳ. Chiến tranh VN dài hơn Chiến tranh Cách mạng Mỹ, Nội chiến Mỹ, Thế chiến I và Thế chiến II cộng nhập vào với Chiến tranh Cao ly, vậy thì làm sao mà dễ quên thế được? Các vết thương hằn sâu quá và trong hai cuộc chạy đua vào Toà Bạch ốc gần đây, kinh nghiệm của các ứng cử viên Tổng thống trong thời chiến tranh VN vẫn được cử tri xem là đáng kể để đánh giá bản lĩnh của những người như ông Bill Clinton hay, gần hơn nữa, Tổng thống George W. Bush và địch thủ của ông, Thượng nghị sĩ John Kerry.

Bẫy chữ nghĩa

Chiến tranh VN có lúc tỏ ra là một bẫy chữ nghĩa. Quá thông thường, người ta xem đó là một cuộc chiến Mỹ Việt làm như là chỉ có hai phe rõ ràng, Mỹ ở một bên và VN ở một bên. Song rút gọn chiến tranh lại thành một phương trình như thế rõ ràng là không ổn vì chỉ cần một hội nghị này là ta đủ thấy là có ít nhất hai phe Việt nam trong cuộc chiến, mà tiếng Việt thường gọi là “Quốc Cộng.” Đây là một định nghĩa căn bản mà cả hai phe ở VN chấp nhận trước đây, sự tách bạch này chỉ bị lu mờ trong những năm gần đây khi Hà nội bắt đầu dùng hai chữ “quốc gia” cho một số định chế của họ.(1) Sự lầm lẫn (là chỉ có hai phe Việt Mỹ) này không những chỉ thấy trong quan niệm của người ngoài phố, nó xảy ra quá thông thường ngay trong cả giới trí thức và học thuật, và gần đây hơn cả, trong não trạng của Tổng thống Bush và Tổng trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld khi hai ông này, trả lời phỏng vấn, cho rằng người Việt miền Nam không chiến đấu đủ để bảo vệ cho mình. Vậy điều đó đúng không? Thiết tưởng đó chính là lý do tồn tại của hội nghị này. Miền Nam VN có là một chính quyền và một quốc gia chính thống không, và Quân lực VNCH có chiến đấu hay không?

Cả mấy thập niên trước, ngay trong thời gian cuộc chiến sôi bỏng nhất, tôi đã phải tranh luận với ông bạn quý của tôi, G.S. Douglas Pike, người mà chúng ta thương tiếc sự ra đi cách đây ít năm, về một từ rất thông thường trong tiếng Việt, hai chữ “Việt Cộng.” Nếu dựa vào ngữ nghĩa thì “Việt” hiển nhiên là thay cho “Việt nam” còn “Cộng” thì là tắt cho “Cộng sản.”

Hai chữ đó, như người Việt, cả ở Nam lẫn Bắc, dùng thì chỉ có nghĩa là thế. Nói cách khác, trong thực tiễn cuộc sống cũng như ra ngoài mặt trận, không mấy ai phân biệt giữa một đơn vị chính quy Bắc Việt và một đơn vị của Mặt Trận GPMN. Ngoài chiến trường, cả hai đều bắn vào mình và ta không có bao nhiêu thì giờ để tách bạch một lính chính quy của QĐND miền Bắc (thường mặc binh phục) và một anh lính VC miền Nam, có thể không mặc binh phục nhưng vẫn bắn AK47 chì không thua gì anh chính quy kia. Có ai ngây thơ đến độ tưởng là anh chiến binh CS ở phía bên kia tìm cách phân biệt đâu là anh G.I. Mỹ anh ta bắn trúng và đâu là một binh sĩ miền Nam?

Ấy vậy mà trong một thời gian rất lâu, khi thảo luận về chiến tranh VN, người Mỹ thường tìm cách tách bạch hai quân đội miền Bắc và miền Nam của phía CS, và chính ông Pike là uy quyền hàng đầu trong việc tách bạch này trong cuốn sách nổi tiếng của ông, cuốn Viet Cong (MIT, 1966). Làm như vậy, ông Pike và những đệ tử của ông đã ăn phải đúng một trong những lập luận chính của đối phương, đó là, chiến tranh ở miền Nam, ít nhất trong giai đoạn đầu là một cuộc nổi loạn nội bộ của miền Nam do những bức xúc của riêng tình hình miền Nam đẻ ra vì người dân chống lại chính quyền của ông Ngô Đình Diệm. Giải thích như thế chính là tách rời một cách giả tạo cuộc chiến, trong giai đoạn 1959 đến 1975, chẳng hạn, ra khỏi chuyện xảy ra trước đó và chuyện xảy ra sau tháng 4 năm1975.

“Chiến tranh VN” hay “Chiến tranh Đông dương”?

Ở Hoa kỳ, chiến tranh Việt nam được xem là kéo dài 8 năm, từ 1965 đến 1973. Nhưng khỏi nói cũng biết là sự tham dự của Hoa kỳ vào trong chiến tranh VN có từ trước đó rất lâu và lại cũng kéo dài nhiều năm sau đó. Giờ đây, chúng ta biết rõ là chiến tranh VN kéo dài ít nhất từ năm 1945 đến tháng 9/1989 và một phần của một trận chiến được theo đuổi trong ba quốc gia là ít: Việt nam, Ai lao và Căm pu chia. Và nếu ta coi hai miền của VN từ năm 1954 đến năm 1975 là hai quốc gia (Bắc VN và Nam VN), một tình trạng thực tế cũng như là theo luật định trong đời sống quốc tế lúc bấy giờ, thì cuộc chiến phải nói là xảy ra trong bốn nước một sự kiện ta có thể thấy phản ánh đầy đủ trong cách Hà nội đã chia các chiến trường ra thành bốn mà tất cả đều nằm dưới độc nhất một trướng chỉ huy:

Bắc Việt được gọi là Chiến trường A

Nam Việt là Chiến trường B

Ai lao là Chiến trường C

Và Căm pu chia là Chiến trường D.

Người Pháp cũng tỏ ra gần sự thật hơn người Mỹ khi họ ít khi gọi chiến tranh ở VN là “la guerre du Vietnam.” Trái lại, để định các giai đoạn của cuộc chiến, họ nêu ra:

“La première guerre d’Indochine,” cuộc chiến Đông dương số 1, kéo dài từ 1946 đến 1954;

“La deuxième guerre d’Indochine,” cuộc chiến Đông dương số 2, tương đương với giai đoạn chính có người Mỹ tham gia, 1954 75 (2); và

“La troisième guerre d’Indochine,” cuộc chiến Đông dương thứ 3, gồm hai pha cả thảy, Chiến tranh biên giới với Trung quốc (tháng 2, tháng 3/1979) và cuộc Chiếm lãnh Căm pu chia (tháng 12/1978 đến tháng 9/1989).

Vì ý thức không muốn mở rộng cuộc chiến, do ngại là sẽ lôi kéo thêm sự tham dự của Trung quốc cũng như của Liên Xô (tuy không lo bằng), các trào liên tiếp của các tổng thống Mỹ, chỉ trừ có độc nhất trường hợp ông Eisenhower, người mà trong hồi ký Mandate for Change vẫn dùng chữ “Indochina” (“Đông dương”) thay vì Việt nam, đều gọi chiến tranh ở nước ta là “chiến tranh Việt nam.” Làm thế, họ đã tuân theo một phần nào thực tế ở dưới đất nhưng lại quên mất nhiều sự khác biệt quan trọng khác: trong khi Hà nội tha hồ tung hoành và tác chiến ở ngoài biên giới của miền Bắc VN, trên các mặt trận B, C và D, thì Hoa kỳ và đồng minh Nam VN của họ mỗi khi đem chiến tranh ra ngoài biên giới của miền Nam, như sang Lào trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 hoặc sang Căm pu chia (như từ 1970 đến 1973) thì họ lại bị coi là vi phạm những luật lệ của cuộc chơi.

Mặc dầu vậy, theo như tôi thấy, chưa có ai bao giờ gọi chiến tranh VN là “chiến tranh Nam VN” cả. Tại sao? Tại vì một thứ linh tính bảo ta rằng nếu Hà nội làm quá ở miền Nam thì hiển nhiên Hoa kỳ và Sài Gòn có quyền trả đũa ở miền Bắc tỷ như những cuộc oanh tạc ở miền Bắc để ngăn chặn việc đưa quân vào miền Nam. Do vậy mà ta có thể nói là có cái gì gần như giả tạo khi Hoa kỳ, vào năm 1964, đã phải viện cớ vụ tàu Maddox của Mỹ bị bắn tới hai lần để biện hộ cho việc đem chiến tranh ra miền Bắc qua Nghị quyết Vịnh Bắc Việt (Tonkin Gulf Resolution).

“Xâm lăng từ miền Bắc” (1961, 1965)

Đây là một vấn đề then chốt nếu nói về sự chính thống của chính nghĩa miền Nam, nếu như Bạch thư năm 1961 của Bộ Ngoại giao Hoa kỳ khẳng định là đã có “xâm lăng từ miền Bắc.” Sang năm 1965, Bộ Ngoại giao Mỹ lại đưa ra một cuốn Bạch thư khác để tiếp nối và cập nhật hoá cuốn năm trước. Ta cần chú ý là một trong những tiếng nói phản chiến lớn nhất ở giữa thập niên 1960 ở Mỹ, ông I. F. Stone viết trong báo Ramparts, đã không tiếc thời giờ hay mực để bác bỏ quan niệm cho rằng đã có “xâm lăng từ miền Bắc.” Thế có nghĩa là trong đầu ông I. F. Stone và của hầu hết các lãnh tụ phản chiến khác thời bấy giờ, nếu lập luận của Bộ Ngoại giao Mỹ được chấp nhận thì rõ ràng là Hoa kỳ và Sài Gòn có một cơ sở chính thống để chống trả cuộc “xâm lăng” nói trên—nói cách khác, cuộc chiến không phải chỉ là một cuộc nổi loạn ở địa phương dựa lên trên những điều đáng khiếu nại hay phiền lòng đối với chính quyền Sài Gòn.

Nhưng bây giờ thì ta biết. Khi được hỏi về tính cách giả hiệu của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (viết tắt là NLF trong tiếng Anh), với các lãnh tụ bị coi là một lũ bù nhìn không có thực chất, Nguyễn Khắc Viện, có lẽ là nhà trí thức nổi tiếng nhất ở Tây phương của miền Bắc, đã cười một cách ngạo nghễ trên truyền hình Pháp vào năm 1977: “Ê, thế có phải là chúng tôi giỏi đánh lừa quý vị không?”

Nhưng ta không phải chỉ có câu trả lời xấc xược của ông Viện để chứng minh là đã có “xâm lăng từ miền Bắc.” Trong một bản “dự thảo Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam” (3) hoàn tất vào năm 1986, mà riêng bản của tôi được xem có mang chú thích “Trình Đại tướng Võ Nguyên Giáp,” ở trang 28 đã có ghi đích xác như sau: “Theo đường lối của đại hội [III của Đảng CSVN. Theo ghi chú của cuốn sách], ngày 20/12/60, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam được thành lập.” Như vậy, ta không còn gì để cãi nữa.

Song nói một cách cụ thể hơn nữa và ăn khớp với đề tài của chúng ta hôm nay, những con số sau đây chép ra từ một tài liệu khác lấy ngay từ Bộ Quốc phòng ở Hà nội, có mang ghi chú “Lưu”:

Số tân binh* MB (Miền Bắc) Tăng Cường Cho Miền Nam (MN)


(*) Chữ “tân binh” này không có nghĩa là lính tò te mà có lẽ phải hiểu là những bộ đội mới đưa vào miền Nam. Và họ vào là đi theo đơn vị để chiến đấu đến hết cuộc chiến, vì thế nên lúc bấy giờ mới có câu “Sinh Bắc, tử Nam” đôi khi được khắc ngay trên tay hay mình của người bộ đội.
(**) Theo bản gốc những con số mang hai hoa mai này được viết ngay vào cùng hàng với những con số khác. Như vậy ta có thể hiểu là một số năm đã có hai đợt đưa quân vào Nam. Dù như 1968 (Mậu thân) và 1972 (Mùa Hè đỏ lửa) là những năm chiến cuộc lên cao độ, có lẽ đối phương cũng đã không đưa đến 1/2 triệu quân vào Nam. Vì vậy nên có người đưa ra ức đoán đây là những con số tổng cộng số quân trong những năm trước đó. Song ngay hiểu như thế, con số tổng cộng ở cuối bảng cũng đã tới gần 1 triệu (976,849 người).


Dựa vào bảng trên đây, ngay với những con số không đầy đủ của nó, ta cũng có thể thấy là đã có tới 81,534 bộ đội miền Bắc được gửi vào Nam từ năm 1959 tới năm 1964, trước khi binh lính chiến đấu của Mỹ được đưa ồ ạt vào VN. Chỉ cần con số này, cộng thêm vào với những đơn vị của Cục “R” mộ và huấn luyện ở miền Nam, đủ để chứng tỏ là quan niệm cho rằng Quân lực VNCH không đánh nhau trước khi Mỹ ồ ạt đưa quân chiến đấu vào miền Nam (tháng 3/1965) là vô lý.

“Sư tử của đối phương, thỏ đế của ta”

Thực sự, ngay với một số quân lớn như vậy đưa vào chiến trường miền Nam, nghĩa là tương đương với 9 sư đoàn, quân Bắc Việt vẫn chưa thấy có đủ tự tín để đụng trận ở cấp đơn vị lớn. Phải đợi đến Ấp Bắc (tháng 1/1963) ta mới có trận đầu tiên ở cấp tiểu đoàn, song phía CS chủ yếu là tìm cách xây dựng lực lượng ở miền Nam trước khi chạm trán với quân đội Mỹ. Đó là vì ông Giáp rất ngại khả năng tham chiến của Hoa kỳ, (4) trong khi đó thì sau khi ông Ngô Đình Diệm bị lật đổ ở miền Nam, Hà nội ngày càng chịu ảnh hưởng của Lê Duẩn nên đã liều lĩnh kêu gọi việc đem lại “một đổi thay có tính quyết định trong cán cân lực lượng” giữa hai miền (tháng 12/1963).

Đến khi quân đội Bắc Việt quyết định nhào vô đánh Mỹ dùng đơn vị lớn hơn đại đội (trong hai trận Vạn Tường Starlite, tháng 8/1965, và Ia Drang, tháng 11/1965 (1) thì quân số của họ ở miền Nam đã lên đến hơn 150 nghìn, không kể những quân phụ lực của họ ở miền Nam. (Ông Bùi Tín, chẳng hạn, cho ta một con số thấp khi ông cho rằng vào năm 1965 1966, “số quân Bắc Việt đưa vào miền Nam chưa tới 120 nghìn người.” (6) Tính đến năm 1966 thì thực ra con số quân Bắc Việt đưa vào Nam đã lên đến 141 nghìn không kể những đơn vị “vũ khí trang bị đầy đủ” đưa vào chiến trường B3 và B4 để chiến đấu một thời gian rồi lại rút về miền Bắc.)

Với những trận chiến lớn ngày càng để cho Mỹ đánh và quân đội miền Nam chỉ còn giữ những vị trí phòng thủ, không lạ là báo chí truyền thanh truyền hình Mỹ, đằng nào cũng không mấy có hứng đưa tin nhìn từ quan điểm của Quân lực VNCH, bắt đầu nói xấu đồng minh chính trong chiến tranh, làm cho phía mình mất đi thêm tính cách chính thống. Cú “đâm sau lưng chiến sĩ” tệ nhất đối với quân đội miền Nam xảy ra vào tháng 10/1967 khi tuần báo Newsweek đưa ngay lên bìa tên bài báo chính của tuần đó, “Sư tử của đối phương, thỏ đế của ta,” (7) chỉ một câu mà nói lên hết sự suy nghĩ của họ về quân lực VNCH.

Chính sự coi nhẹ, nếu không muốn nói là khinh miệt, đối với đồng minh chính trong chiến tranh còn thấy phản ánh trong những trang bị chiến tranh được chuyển cho quân đội miền Nam. Đến tháng 1/1968, để chuẩn bị cho tổng công kích Mậu thân của họ, nếu quân đội CS, cả Bắc quân lẫn quân GPMN, đều đã được cung cấp AK47 (một chương trình được bắt đầu từ 1964, súng do Trung cộng sản xuất theo mẫu mã của Nga) thì đến đó, chỉ có một số đơn vị chủ lực của miền Nam (TQLC và Nhảy Dù, cộng thêm một vài đơn vị Biệt động quân) là được trang bị với M16 (võ khí cá nhân được xem là tương đương với AK47 nhưng chính thực dễ hóc, dễ hỏng hơn dù như bắn xa thì có chính xác hơn), trong khi đó thì hầu hết quân đội miền Nam chỉ được cấp có Garant M1, loại súng cá nhân có từ thời Thế chiến II. (Phải đợi đến khi tướng Abrams sang thay tướng Westmoreland sau trận Mậu thân, ông mới đòi phải cung cấp M16 cho toàn bộ quân chính quy của miền Nam.)

Mặc dầu vậy, mặc dầu súng ống không bằng quân Bắc Việt và quân GPMN, quân lực miền Nam trong trận Mậu thân đã tỏ ra chiến đấu vô cùng anh dũng trong trận thư hùng trên toàn quốc này. (8) Hai mươi lăm trên tổng số 45 tỉnh ở toàn miền Nam, (9) kể cả ba đô thị lớn là Sài Gòn, Huế và Đà nẵng, bị đánh trong một cuộc tổng công kích bất ngờ trên toàn lãnh địa từ Bến hải vào, ngay trong khi đang có đình chiến Tết, có nghĩa là đa phần những trại bót của quân đội miền Nam lúc bấy giờ không đủ quân số. Mặc dầu vậy, mặc dầu đối phương có được yếu tố bất ngờ là yếu tố thường phải có lợi cho họ, quân lực VNCH đã đánh bật cuộc tấn công trên toàn quốc trong vòng 48 tiếng đồng hồ, trừ có trường hợp của Huế (mà đối phương giữ được một phần trong 25 ngày), làm cho quân CS bị thảm bại. Hà nội cố gắng một cách vô vọng khai thác cái mà được gọi là cơ hội “nghìn năm một thuở” này bằng hai đợt tấn công rộng lớn khác nữa (nhưng ngày càng yếu) vào tháng 5 và tháng 8, tháng 9 năm đó, để chuốc lấy thất bại cay đắng một điều mà ngay các quan sát viên phía CS cũng phải công nhận. Kết quả là, chỉ riêng trong cuộc “tổng công kích tổng khởi nghĩa” năm Mậu thân của họ, Hà nội đã mất
58,373 tử vong (10) —nói cách khác, bằng tổng số tử vong của Hoa kỳ trong toàn bộ cuộc chiến ở VN, chưa kể 9,461 người khác bị bắt làm tù binh.

Đọc lầm

Cuộc “tổng công kích tổng khởi nghĩa” Mậu thân là một đại bại về phía CS, điều này tới nay không còn ai phủ nhận nữa, kể cả phía CS. Nhà báo Bùi Tín viết: “Tổn thất phía chúng tôi rất lớn. Lẽ ra sau đợt 1, chúng tôi rút về củng cố địa bàn nông thôn, duy trì thế lực lâu dài, thì chúng tôi lại phạm sai lầm, lao vào tiến công đợt 2 (tháng 5.1968), đợt 3 (tháng 9.1968), đợt sau đuối hơn đợt trước, tổn thất sau đó cũng nặng hơn! Ai ở miền Nam cũng hiểu rõ, năm 1968 và năm 1969 là hai năm cực kì gay go của chúng tôi, gay go sang cả năm 1970 và năm 1971, đến năm 1972 mới hồi phục.” (11) Trong sách From Enemy to Friend, ông Bùi Tín còn nói rõ hơn nữa lý do thoái trào của CS ở miền Nam trong gần 5 năm đó là do, sau trận Mậu thân, “quân đội Hoa kỳ và Sài Gòn lập tức phản công trên toàn lãnh thổ miền Nam kèm theo đó là bình định mau chóng, dẫn đến những tổn hại kinh hoàng cho phía chúng tôi trong suốt ba năm 1968, 1969 và 1970.” (12)

Đối phương thất bại là thế, vậy mà khi lên mặt báo, truyền thanh hay truyền hình Mỹ (13) thì chiến công đó lại bị coi là “thảm bại” của phía Đồng minh, dẫn đến một trong những quyết định có tính cách định mệnh trong toàn cuộc chiến, sự rút lui (vào tháng 3/1968) của ông Lyndon B. Johnson, không chịu ra nhận ứng cử chức Tổng thống cho nhiệm kỳ 2 vào tháng 11 năm đó. Đây hiển nhiên là một quyết định mà Hà nội có thừa thông minh để hiểu rằng người Mỹ như vậy là đã đến giới hạn chót trong sự dấn thân, cam kết của họ đối với miền Nam, và giờ đây sẵn sàng xuống thang để đi “cầu hoà”—ở Paris.

Tất cả những gì diễn ra sau đó chỉ còn là những cách khác nhau để cho Mỹ rút chân ra khỏi “vũng lầy Việt nam”: Không leo thang nữa (quân số Hoa kỳ lên đến đỉnh gần 500 nghìn quân rồi bắt đầu được rút về từng phần), ông Nixon đưa ra chính sách “Việt nam hoá” chiến tranh (1969), ngoại trưởng Kissinger bắt đầu thương lượng với Mạc tư khoa và Bắc kinh trên đầu hai nước VN (trong một lần gặp gỡ với ông Chu Ân lai, thủ tướng Trung Cộng, vào năm 1970, ông “K” nói thẳng là Hoa kỳ sẵn sàng rút lui đơn phương khỏi VN, bất kể chuyện gì có thể xảy ra sau đó về mặt chính trị), (14) đến khi Mùa Hè Đỏ Lửa xảy ra (1972) thì quân số Hoa kỳ chỉ còn 65 nghìn quân ở miền Nam và không được tham chiến, tay ông Nixon sau đó bị trói bởi Luật Quyền hạn chiến tranh (bị cấm ném bom Căm pu chia), rồi đến tháng 1/1973 thì hoàn toàn không còn bóng dáng quân chiến đấu của Mỹ nữa ở toàn cõi miền Nam. Thêm vào đó, cuộc khủng hoảng dầu hỏa vào cuối năm 1973 làm cho hôm trước hôm sau, tiền viện trợ Mỹ cho Sài Gòn để mua xăng nhớt chỉ còn mua được có bằng nửa trước kia, và cuối cùng thì Quốc hội Mỹ xoá sổ miền Nam VN sau khi vụ xì căng đan Watergate nổ ra (1974).

Song ngay cả khi Hoa kỳ bỏ cuộc như vậy, quân lực VNCH vẫn tiếp tục chiến đấu anh dũng, đẩy lui được ba mũi dùi lớn của quân Bắc Việt thọc vào miền Nam trong vụ Mùa Hè Đỏ Lửa 1972. Thuỷ quân lục chiến VN đã viết nên những trang sử oai hùng nhất trong lịch sử quân sự ở VN khi vào tháng 9 năm ấy, họ đổ xương máu ra để chiến đấu lấy lại từng tấc đất một của tỉnh Quảng trị (cuộc chiếm lại Cổ thành Quảng trị phải xem là một trận Iwo Jima của VN) và trong cuộc phòng thủ cam go để giữ An lộc ở phía bắc Sài Gòn, do địa phương quân, bộ binh và Nhảy Dù VNCH đảm trách dưới mưa pháo của địch quân và hết đợt tấn công chiến xa này đến đợt tấn công khác, trận An lộc đã đi vào quân sử với cách gọi là “trận Stalingrad của VN,” “trận cứu nguy Sài Gòn” của ký giả Mỹ P. C. Clarke. (15) Ấy vậy mà vẫn có người tìm cách quy chiến thắng An lộc cho yểm trợ không quân của Mỹ và nhất là bom trải thảm B52 song thử hỏi, đã mấy ai nghe thấy trong lịch sử chiến tranh là có trường hợp nào bom đạn đã giữ được đất (16) và hất được địch ra khỏi trận địa?

Lỗi lầm hiển nhiên là vẫn có và phải có

Như trong mọi cuộc chiến, lỗi lầm đã từng xảy ra ở VN; ngoài ra, lại còn có yếu tố may rủi, có thể mang lại những kết quả khó lường. Cộng thêm vào đó nữa tính kiên nhẫn nhịn nhục của Đông phương mà hai phe người Việt đều có thừa, trái hẳn với sự nôn nóng và tính quyết liệt của người Mỹ một khi họ đã quyết tâm “bỏ chạy.” Với tính chất khác biệt như vậy giữa Mỹ và Việt, không lạ là chiến tranh đã không kết thúc được một cách êm thắm. Cuối cùng, Sài Gòn bị Mỹ bỏ rơi (trước hết là Quốc hội Mỹ và báo chí Mỹ, rồi đến ngay Tổng thống Ford nữa) đã đem lại chiến thắng dễ dàng cho phía Hà nội, một chiến thắng mà đáng nhẽ không thể có, chính vì vậy mà cho đến nay, VN vẫn còn phải lãnh chịu hậu quả không hay của năm 1975: chiến tranh kéo dài thêm 14 năm nữa đến tháng 9/1989 (khi Quân đội Nhân dân buộc lòng phải triệt thoái khỏi xứ Chùa Tháp, sau khi đã hứng chịu hơn 50 nghìn tử vong), rồi thảm kịch “thuyền nhân” (chưa kể “bộ nhân” và “tường nhân”) dẫn đến việc hình thành một cộng đồng hải ngoại gần 3 triệu người, nói chi đến cái ách nạn CS gieo lên đầu lên cổ nhân dân gây nên những khổ cực tận cùng trong hơn 10 năm trước khi có chính sách Đổi Mới (tháng 12/1986).

Vâng, cũng phải nói là ở phía chúng ta không ít lỗi lầm, kể cả lỗi lầm tai hại về quân sự, cũng đã xảy ra. Trong các lỗi lầm này có lẽ không có cái nào lớn hơn là quyết định của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cho rút quân khỏi Cao nguyên sau khi Ban mê thuột bị tấn công vào tháng 3/1975. Vì thiếu chuẩn bị nên cuộc rút lui này đã biến thành một đường máu và nước mắt. Trường hợp Huế và vùng I cũng vậy, rối loạn xảy ra khi tướng Ngô Quang Trưởng, một trong những tướng giỏi nhất của miền Nam, được lệnh bỏ Huế (khi Huế vẫn có thể phòng thủ được) rồi lại được lệnh ngược lại là giữ Huế bằng mọi giá (khi tình hình đã trở nên tuyệt vọng). Mặc dầu vậy, người chiến sĩ VN vẫn có những giờ phút can trường trong một số trường hợp: nhóm Mũ Đỏ ở Đơn dương, bộ binh VN ở Sa huỳnh, và nhất là trận thư hùng ở Xuân lộc trong đó một mình sư đoàn 18, dưới sự chỉ huy anh dũng của tướng Lê Minh Đảo, đã chống cự lại ba sư đoàn Bắc Việt, gần như ngay ở cửa ngõ vào Sài Gòn.

Bởi những lý do trên nên tôi cho rằng nếu ta cần phải kết tội ai (một điều tôi không tin là có ích lợi gì) thì còn nhiều tác nhân đáng trách hơn Quân lực VNCH, dù như quân lực này cũng không khác mấy các quân đội lớn trên thế giới là có những đơn vị yếu kém bên cạnh những sư đoàn dũng mãnh, có tướng giỏi bên cạnh một số tướng khác làng nhàng hay ngay cả tham nhũng. Ta có thể lấy các con số tử vong của quân lực này cũng như những con số tương đương của đối phương để mà thấy sự hy sinh và dũng cảm của Quân lực VNCH: ông Bùi Tín cho biết là quân đội Bắc Việt mất 230,466 tử vong trên chiến trường miền Nam bên cạnh 51,532 quân CS miền Nam, chưa kể 300 nghìn người mất tích, tổng cộng là khoảng 600 nghìn người tổn thất ở miền Nam; để loại được 600 nghìn “con sư tử” này, quân lực miền Nam cũng đã mất 230 nghìn tử vong bên cạnh đồng minh chính là Hoa kỳ, mất 58 nghìn người. Như vậy là cứ một binh sĩ miền Nam hay đồng minh ngã gục thì họ đã đánh đổi để hạ được hai địch quân CS. (17) Và đây là bất kể các trận chiến được xem là thất bại hay chiến thắng, tuỳ theo lối nhìn của mỗi bên.

Cần có một cách nhìn mới hơn đối với chiến tranh VN

Cuộc tranh cãi về những bài học của chiến tranh VN vẫn còn tiếp diễn. Trên một bình diện, chiến tranh đó đã thổi phù đi các huyền thoại về một “chiến tranh du kích” nếu đem áp dụng vào tình hình VN trong thời gian Mỹ trực tiếp tham chiến (1965 1973). Tỷ dụ như hồi đó, ta nghe nói nhiều về quan điểm của Sir Robert Thompson là ta cần phải có một tỷ lệ trên 10 người chống 1 (du kích quân) (18) mới có thể thắng được họ, một kết luận mà ông rút ra được từ kinh nghiệm chiến tranh chống du kích CS ở Mã lai. Nhưng nếu nói thế thì không bao giờ ở chiến trường VN chúng ta có được tỷ lệ như vậy. Thế có nghĩa chăng là tất yếu phe Đồng minh phải thua ngay từ đầu? Tôi cho rằng những con số tử vong nêu trên cũng như những giai đoạn trồi sụt trong cuộc chiến đã cho ta thấy là câu chuyện thực phức tạp hơn thế nhiều.

Rồi lại có vấn đề chiến tranh VN là một chiến tranh giới hạn như thế nào? Đúng là phe Đồng minh đã không phải đi đến chỗ dùng bom nguyên tử hay vũ khí hạch nhân (như Pháp và Mỹ đã thoáng bàn đến cách dùng bom ấy vào năm 1954 khi Điện biên phủ xem chừng sắp thua) và Hà nội cũng không bao giờ có khả năng dùng không lực ở miền Nam cho đến tận những ngày gần cuối cùng. Như vậy thì phải xem chiến tranh VN là một cuộc chiến địa phương hay khu vực? Chúng ta cũng đã nói qua về vấn đề này ở trên (địa bàn chiến tranh là 4 “nước” cả thảy) nhưng phải nói là chỉ khi chúng ta xem đây là một cuộc chiến cho toàn vùng Đông Nam Á (19) thì câu chuyện mới có lý, và trong một nghĩa nào đó xem đây là một cuộc tranh chấp Đông Tây trong Chiến tranh Lạnh xem chừng còn có nghĩa hơn nữa.

Để trả lời câu hỏi này, ta không thể có lời chứng nào ý nghĩa bằng lời chứng của ngay ông Bùi Tín:


“Mới đầu, tôi cho là vấn đề rất giản đơn, như cuộc chiến tranh Pháp Việt trước đó. Đây là cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc của chúng tôi… Càng về sau…, được nghe và đọc nhiều, tôi thấy quả thật đây là vấn đề phức tạp, rất phức tạp.
Các cuộc chiến tranh, tuỳ nơi, tuỳ lúc, tuỳ động cơ, điều kiện lịch sử cụ thể, mang tính chất khác nhau: chiến tranh đúng/sai, chính nghĩa/phi nghĩa, bảo vệ tổ quóc/xâm lược, nóng/lạnh, xâm chiếm đất đai, ý thức hệ, dân tộc, tôn giáo, giai cáp, thiêng liêng thần thánh/sai lầm bẩn thỉu.
Khi còn trẻ…, tôi cho chiến tranh am2 chúng tôi thực hiện là đúng, là chính nghĩa, vì nó nhằm giành và bảo vệ nền độc lập, chống xâm lược, chống sự chiếm đóng của quân đội nước ngoài trên đất nước tôi…
Về sau, là người cộng sản, được giáo dục tuyên truyền của đảng cộng sản, tôi thấy đấy còn là cuộc chiến tranh để bảo vệ cả phe xã hội chủ nghĩa, chống lại ‘sự xâm lược của phe đế quốc’ do Mỹ cầm đầu. Chúng tôi được giáo dục để coi phe xã hội chủ nghĩa… là Tổ quốc lớn của những người vô sản chúng tôi. Cao hơn nữa, chúng tôi coi đây là sứ mệnh của giai cấp vô sản quốc tế nhằm giải phóng tất cả các dân tộc và các giai cấp trên thế giới khỏi ách áp bức, bất công, xâm lược. Vì thế chúng tôi tự hào, hăng say chiến đấu… Tôi đang cầm súng, đứng trên tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa, của nhân loại tiến bộ, vừa làm nhiệm vụ quốc gia, vừa làm nhiệm vụ quốc tế. (20)


Chỉ có một cái nhìn bao quát, đem cả quốc tế vào, thì ta mới có thể hiểu được tại sao chiến tranh VN sau bao nhiêu năm vẫn còn được một số người xem là một cuộc chiến có ý nghĩa toàn cầu (tỷ dụ như có thể có ảnh hưởng ở Trung Nam Mỹ, ở Phi châu, Trung Đông v.v.), và cũng chỉ có một cách đọc theo kiểu Chiến tranh Lạnh thì mới có thể hiểu được tại sao Hà nội đã nhận được sự viện trợ đều đặn của Liên Xô, Trung quốc và các quốc gia khác nằm trong khối CS quốc tế trong suốt thời gian chiến tranh. Giờ đây, chẳng hạn, ta biết quá rõ là trang bị chiến tranh của Liên Xô (không trừ chiến xa và máy bay MiG) là xương sống của nỗ lực chiến tranh của Hà nội cũng như là tình báo trên không của Mạc tư khoa cũng giúp vào nỗ lực này, rằng một số binh chủng trong quân đội Trung Cộng (phần lớn là công binh và các đơn vị chống máy bay, mà các nguồn tin Trung quốc cho biết là tới 320 nghìn người hay, như ông Bùi Tín nói, là 320 nghìn lượt) đã thay phiên nhau sang đóng quân ở miền Bắc, rằng đã có 801 phi công Bắc Hàn sang nghênh chiến (22) trên không với máy bay Mỹ trên vùng trời Bắc Việt, rằng công an nội chính STASI của Đông Đức đã đào tạo và huấn luyện công an cho Hà nội, rằng tất cả các súng Kalashnikov đều sản xuất ở Tiệp khắc và rằng Cuba đã gởi các thẩm vấn viên sang khai thác tù binh Hoa kỳ.

Đến khi Mỹ rút quân ra khỏi Việt nam thì cái vỏ quốc tế của phe CS cũng vỡ ra luôn: Bắc kinh trở thành một đồng minh tạm thời với Mỹ để chống lại đe doạ từ Liên Xô, và chẳng bao lâu thì ba đồng minh CS ở Á đông đè nhau ra làm thịt (Việt nam, Căm pu chia, Trung Cộng). Khỏi cần phải nói ta cũng biết là những yếu tố này đã mang lại sự sụp đổ của khối Xô viết ở châu Âu.

Để kết, ta có thể nói được là định mệnh không may của miền Nam tự do và quân lực VNCH, mặc dù đã tỏ ra vô cùng dũng cảm và hy sinh, đã đưa miền đất này đến chỗ trở thành nạn nhân của Chiến tranh Lạnh; song những hy sinh và khổ nạn của miền đất này không thể xem được là đã tỏ ra vô ích. Chiến tranh VN, ta có thể nói được khá chắc chắn, đã cứu vãn được thế giới trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh khỏi một cuộc chiến cao độ và lan rộng hơn mà có nguy cơ lôi cả thế giới vào.


Đọc tại Vietnam Center
Texas Tech University
Lubbock, Texas
Ngày 17 tháng 3 năm 2006




Chú thích

(1) Từ thập niên 1990 trở lại đây, Hà nội đã xập xí xập ngầu bằng cách gán hai chữ “quốc gia” cho một số định chế của họ, như “Nhà xb Sự Thật” đổi thành “Nhà xb Chính trị quốc gia” hay “Đại học tổng hợp Hà Nội” trước kia giờ đây gọi là “Đại học tổng hợp quốc gia Hà Nội.”
(2) G.S. William S. Turley đã tỏ ra theo cách phân định này khi ông viết cuốn The Second Indochina War: A Short Political and Military History, 1954 1975 (“Chiến tranh Đông dương lần thứ hai: Lược sử chính trị và quân sự, 1954 1975”), New American Library, 1987). Tướng Philip B. Davidson, tuy gọi cuốn sách của ông là Vietnam at War: The History, 1945 1975 (Oxford University Press, 1991) song cũng nói ngay trong bài tựa là ông Võ Nguyên Giáp là một nhân vật xuyên suốt ba cuộc chiến mà ông định nghĩa là: “Indochina War I between the Vietminh and the French, Indochina War II between the United States/South Vietnam and North Vietnam/Viet Cong, and Indochina War III between North and South Vietnam.” (trang ix)
(3) Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Tóm tắt Dự thảo Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam, Hà Nội, 1986.
(4) Bùi Tín, trong Mây Mù Thế Kỷ (Đa Nguyên, 1998, trang 37), viết: “Tôi còn nhớ hồi năm 1965, khi cho ý kiến về bình luận quân sự, tướng Võ Nguyên Giáp có nói riêng với mấy phóng viên quân sự báo Quân đội nhân dân rằng: ‘Mỹ vào chừng mười bốn, mười lăm vạn đã thành vấn đề gay go ở chiến trường. Nếu số quân Mỹ lên đến hai mươi vạn hoặc hơn nữa thì sẽ rất gay go cho phía ta!’ Chính vì những phát biểu như thế này mà sau đó có tin đồn, do phe Lê Duẩn (sẵn không ưa ông Giáp) đưa ra, rằng ông Võ Nguyên Giáp là một loại thỏ đế, nhát như cáy. Tin đồn này đến năm 1991 còn được nhắc lại trong hồi ký của Trần Phương. (Xem thêm Bui Tin, From Enemy to Friend: A North Vietnamese Perspective on the War, Annapolis, MD: Naval Institute Press, 2002, trang 14.)
(5) Trận Ia Drang, với tất cả những chi tiết ghê rợn và vinh quang của nó, được kể lại trong sách We Were Soldiers Once… and Young (“Chúng ta đã một thời làm lính... trẻ,” New York: HarperTorch, 1992) do Trung tướng Harold G. Moore (hồi hưu) và ký giả Joseph L. Galloway, người có tham dự trận đánh này với tư cách là phóng viên chiến trường. Cuốn sách, vì hai tác giả có sang tận Việt nam phỏng vấn các đối tác trong trận này, đã tỏ ra khá công bằng cho cả đôi bên, Mỹ và quân đội Bắc Việt.
(6) Bui Tin, From Enemy to Friend (“Từ thù đến bạn”), sđd, trang 14.
(7) Perry, M.D., “Their Lions, Our Rabbits,” Newsweek, October 9, 1967.
(8) Palmer, Dave R., Summons of the Trumpet: U.S. Vietnam in Perspective, San Rafael, Ca: Presidio Press, 1978. Mặc dù ông Palmer cho là phe Đồng minh đã không nắm được tin tình báo về cuộc “tổng công kích tổng khởi nghĩa” này của phía CS, một điều mà các tác giả khác không nhất thiết đồng ý, ông cũng viết, theo bản dịch của Nguyễn Đức Phương trong Chiến tranh Việt Nam Toàn Tập (x. chú thích 10 dưới đây, trang 413): “Tin tưởng rằng sẽ được chào đón như những giải phóng quân và hy vọng nhìn thấy QLVNCH tan rã bỏ chạy, các cấp lãnh đạo của CS đã thất vọng cả hai. QLVNCH dù bị bất ngờ và chỉ có phân nửa quân số hay ít hơn, đã chiến đấu như chưa bao giờ thấy trước đây. Thay vì gây cho các lực lượng của Sài Gòn bị tan rã, cuộc tổng tấn công đã tạo một hậu quả trái ngược khiến QLVNCH xiết chặt thêm hàng ngũ. Chiến đấu để bảo vệ nhà cửa thành phố của mình, người lính Nam Việt Nam đã chứng tỏ một tinh thần chiến đấu cao độ và dũng mãnh làm ngạc nhiên hầu hết các quan sát viên, nhất là quân đội miền Bắc Việt Nam. Cuộc tổng khởi nghĩa hoàn toàn chỉ là một huyền thoại. Dân chúng miền Nam Việt Nam không bước ra chào đón người khách lạ đầu Xuân. Họ đã đứng dậy nhưng trong sự hãi hùng và chống đối kẻ xâm lược.”
(9) Đây là một con số bảo thủ và không liệt kê vào trong đó những tỉnh thành mà chỉ có bắn phá chứ không có quân CS tiến công vào. G.S. John Prados, trong sách The Hidden History of the Vietnam War (“Lịch sử bí mật Chiến tranh VN,” Chicago: Ivan R. Dee, 1995, trang 142) đưa ra những con số cao hơn nhiều: “Các đơn vị Bắc Việt và Việt Cộng đưa từ 67,000 đến 84,000 quân vào tấn công 39 trong số 44 tỉnh lỵ, 71 quận huyện, Sài Gòn, tất cả các tổng hành dinh của QLVNCH và nhiều căn cứ không quân chính—tổng cộng là 166 tỉnh thành.” Kết luận về chiến dịch TCK TKN của Hà nội, Phillip B. Davidson, trong Vietnam at War (sđd, trang 447), đã viết: “Cái yếu bao trùm trong kế hoạch của ông Giáp là nó được đặt trên căn bản của những giả thiết đã tỏ ra không những không có cơ sở, mà còn hoàn toàn sai. QLVNCH đã không theo địch quân hay rã ngũ, hoặc tan rã trước các mũi tấn công dữ dội của phe CS vào Tết Mậu thân. Nói chung, QLVNCH chiến đấu dũng cảm và hữu hiệu hơn bao giờ hết trước đó và cũng từ đó; quân lực ấy không nổi lên chống lại chính phủ Thiệu; và họ đã không quay lại đánh phá quân đội Mỹ.”
(10) Nguyễn Đức Phương, Chiến tranh Việt Nam Toàn Tập: Từ trận đầu (Ấp Bắc – 1963) đến trận cuối (Sài Gòn – 1975), Toronto, Canada: Làng Văn, 2001, nơi trang 407, dẫn theo lịch sử chính thức của QLVNCH mang tên Cuộc Tổng Công Kích – Tổng Khởi Nghĩa của Việt Cộng Mậu Thân 1968 của Phạm Văn Sơn và Lê Văn Dương (Saigon: Phòng 5/BTTM, 1968). Cũng cần phải nói là John Prados xem tác phẩm sau này là bản tường trình đầy đủ nhất trong bất cứ tiếng nào về vụ TCK TKN của CS mà lại viết chỉ ít tháng sau chứ không phải chờ đến nhiều năm. Trong tiếng Anh, cuốn sử tương đương viết từ quan điểm của QLVNCH là cuốn The General Offensives of 1968 69 của Hoàng Ngọc Lung (Washington, D.C.: Center for Military History, 1981).
(11) Bùi Tín, Mây Mù Thế Kỷ, sđd, trang 105.
(12) Bùi Tín, From Enemy to Friend, sđd, trang 63 64. Trong sách ghi ở cước chú 3 trên đây, chúng ta thấy ghi trong phần “Ưu khuyết điểm và kinh nghiệm của giai đoạn 1969 1972” nơi trang 97 nhận định như sau: “Qua những gì xảy ra trong hai năm 1969 và 1970, do ta nắm lỏng lẻo nông thôn và cao nguyên, địch đã quyết liệt phản công và đạt được một số thắng lợi trong khi đẩy ta vào những khó khăn kéo dài.” Ngoài ra, ta cũng còn có thể trích dẫn một số nguồn tài liệu cộng sản khác như hồi ký Trần Văn Trà (tư lệnh Cộng quân miền Nam), Lê Minh (chỉ huy trận Mậu thân ở Huế), Hoàng Văn Hoan (uỷ viên Bộ chính trị đào tẩu sang Trung quốc năm 1979), v.v. Tất cả những nguồn tin đó đều công nhận là trận Mậu thân đã làm cho việc xâm lăng miền Nam bị trì hoãn ít ra là bốn năm. Cựu Tổng trưởng Quốc phòng Melvin Laird, viết trong số báo ra tháng 11 và 12 năm 2005 của tạp chí Foreign Affairs (“Iraq: Learning the Lessons of Vietnam”), cho rằng QLVNCH không thua một trận lớn nào suốt từ năm 1968 cho đến gần những ngày cuối của VNCH. Theo ông, Tết 1968 là một “chiến thắng” của miền Nam và một “thảm hoạ quân sự” cho miền Bắc làm cho phía Cộng quân mất “289,000 thương vong” chỉ nguyên trong năm 1968.
(13) Về tất cả những sự xuyên tạc và hiểu lầm kinh khủng về Tết Mậu thân trong báo chí, truyền thanh và truyền hình Mỹ, ta cần tham khảo cuốn sách đồ sộ của Peter Braestrup, Big Story (“Tin Lớn”), 2 tập (Denver, CO: Westview Press, 1977). Bản thu lược lại thành một tập của tác phẩm này (New Haven, CT: Yale University Press, 1983), chẳng may, đã bỏ đi chương trong đó Braestrup kể lại là có ba phóng viên Mỹ chịu khó đi hành quân với quân đội VNCH, cả ba đều có những điều tích cực để nói về những đơn vị Việt nam mà họ có dịp đi theo. Tướng Davidson, sđd, trang 483 492, cho ta một bản tóm lược về ảnh hưởng của báo chí truyền thông lên trên việc xúc tiến chiến tranh mà ông mô tả là một “trận nước lũ hỗn độn và kinh khiếp, làm tràn ngập lên hết cả những ai tìm cách lái nó sang hướng khác hay chặn nó lại.” (trang 483)
(14) Lời tuyên bố đích xác của ông Kissinger với ông Châu Ân lai về chuyện này mới đây đã dược giải mật sau khi các ghi chú về những cuộc trao đổi bí mật giữa đôi bên ở Bắc kinh đã được chuyển sang cho Nha Văn khố Quốc gia (Mỹ).
(15) Clarke, P.C., “The Battle That Saved Saigon: An Loc” (“Trận chiến đã cứu Sài Gòn: An Lộc”), Reader’s Digest, March 1973, trang 151 156. Về sự chính xác hay thiếu chính xác, cân bằng hay không của báo chí truyền thông Mỹ đối với QLVNCH, ta có thể dẫn chứng cuốn sách vĩ đại trong nhiều nghĩa, Reporting Vietnam, American Journalism 1959 1975 (“Làm tin về VN, ngành báo chí truyền thông Mỹ, 1959 1975,” New York: The Library of America, 2000, 853 trang), trong đó 61 bài báo được đăng lại thì chỉ có bảy bài viết về quân đội miền Nam, rồi trong số đó lại chỉ có độc nhất một bài ít nhiều thân thiện đối với phía QLVNCH. Lấy một trường hợp khác, bài viết bởi John Saar về Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 trong báo Life (April 28, 1972), “Report from the Inferno” (“Tường trình từ Địa ngục”), thì tình hình An Lộc trong những ngày khốc chiến được tường thuật qua con mắt của “một cố vấn Mỹ cấp thấp”: “Tình hình càng ngày càng tệ mà bọn Việt nam họ chẳng làm gì cả. Mùi hôi thối trong tỉnh xông lên quá nên họ phải dùng xe ủi để mà đào một khu mồ tập thể cho 300 binh sĩ tử vong của họ. Bọn Bắc Việt pháo vào nhà thương với súng 155mm mà họ cướp được của ta, giết chết 61 người. Thế là bây giờ bên này không cả có bệnh viện cũng như đủ đồ y dược để lo cho thương binh trong khi đó mình có từ 500 đến 600 thương binh của phía quân đội miền Nam mà họ cũng không có khả năng cho tải ra khỏi chiến trường.” Ta chỉ cần coi phần “Chronology” (“Biên niên”) ở cuối sách (trang 787) là đã thấy một câu chuyện khác nhiều, dưới mục năm 1972: “Quân Bắc Việt tung ra một trận xâm lược qui mô vào miền Nam (gọi là ‘Easter Offensive’ vì nó xảy ra vào Phục sinh năm ấy) nhằm ngày 30 tháng 3, dùng hàng trăm chiến xa, đại pháo hạng nặng do cam nhông trở đi, cũng như hoả tiễn đất trời để vượt biên tấn công vào Quảng trị, Bình long [An lộc nằm trong tỉnh này. NNB] và Kontum… Cuộc đánh vào Bình long bắt đầu với quân Bắc Việt chiếm được Lộc ninh, vào những ngày 4 6 tháng Tư… Sau đó chúng xuất phát từ Lộc ninh xuống bao vây An lộc vào ngày mồng 7 tháng Tư… Được không quân Mỹ yểm trợ mạnh mẽ, quân đội miền Nam đẩy lui được mũi tiến công vào An lộc ngày 13 tháng Tư… Cuối cùng, quân đội miền Nam đánh bật địch quân ra khỏi An lộc từ 11 đến 14 tháng Tư.” Cũng tương tự, quân đội miền Nam đánh bật được quân Bắc Việt ra khỏi Kontum, ngày 14 30 tháng Năm, phá vỡ vòng vây của đối phương chung quanh An lộc ngày 11 tháng Bảy và lấy lại phần lớn Quảng trị vào ngày 15 tháng 9. Ta cũng cần nhớ là trong những ngày khốc liệt nhất, An lộc mà diện tích chỉ có khoảng 6 km2, phải hứng chịu tới 30,000 đạn pháo của địch quân một ngày. Để nghe kể về trận chiến kiêu hùng An lộc, ta bắt buộc phải đọc Mùa Hè Đỏ Lửa (Saigon, 1972) của Phan Nhật Nam và một cuốn nhật ký ghi lại từng ngày của một bác sĩ quân y có dự trận suốt thời gian An lộc bị đánh và mới chỉ in lần đầu ở hải ngoại cách đây chừng hai năm.
(16) Sau khi trận An lộc kết thúc vào tháng 7/1972, báo chí truyền thông Hoa kỳ bắt đầu kể công và cho là chính nhờ bom B52 trải thảm mà quân Bắc Việt đã không chiếm được An lộc. Phiền lòng vì lối cướp công vô lối này, một nữ sinh Việt nam lúc bấy giờ đang có mặt ở Mỹ, cô Nguyễn Thị Ngân, đã phải viết cho tờ Washington Post (trong mục “Letters to the Editor”) thách thức xem ai có thể chứng minh được là bom đạn có thể giữ được một mảnh đất trên chiến trường.
(17) Lewy, Guenther, America in Vietnam (“Hoa kỳ ở VN”), Oxford University Press, 1978. Xem đặc biệt những phụ lục thống kê để có những con số so sánh. Tưởng cũng nên nhắc lại là trong một cuộc phỏng vấn dành cho nhà báo người Ý Oriana Fallaci, có in lại trong cuốn Interviews with History in ra năm 1972, ông Võ Nguyên Giáp cũng đã công nhận là tính đến khoảng cuối năm 1971 Hà nội đã mất nửa triệu người.
(18) Thompson, Robert, Defeating Communist Insurgency (“Đánh bại quân CS khởi nghĩa,” Frederick A. Praeger, 1966), trang 48.
(19) Brackman, Arnold, The Third Front in Southeast Asia (“Trận tuyến thứ ba ở Đông Nam Á”), 1967. Ông Brackman cho rằng đến cuối năm 1964 Hoa kỳ và đồng minh, chủ yếu là Anh, đang đứng trước một tình trạng có thể nói là Trung Cộng dựng đã gần xong một trục Bắc Nam đi từ Bắc kinh xuống qua Hà nội, Nam vang và sang đến tận Djakarta. Chính vì lý do đó mà ông hoàng Sihanouk, một người rất tinh ý, đã vội vàng tự xếp mình vào hàng các nước thân Trung Cộng, lúc bấy giờ lại còn được De Gaulle ủng hộ. Nếu như vụ đảo chánh bất thành của CS ở Nam dương mà thành công năm sau (1965), lật đổ được xong ông Sukarno, thì Bắc kinh đã hoàn tất được tham vọng biến thành bá quyền vùng Đông Á và Đông Nam Á. Có lẽ đứng trước cơ nguy đó, cơ nguy mất hết tài nguyên của Nam dương (dầu hoả, khí đốt, cao su, nguyên liệu mà Tổng thống Eisenhower đã nhắc đến trong hồi ký của ông, Mandate for Change) nên Tổng thống Johnson và chính phủ Anh lúc bấy giờ đã quyết định can thiệp một cách quyết liệt để bẻ gẫy trục “tung” của Bắc kinh – Nam dương bằng một trục “hoành”: Anh đem quân nhảy dù thả xuống Mã lai, Xinh ga po và Borneo để đương đầu và đánh bại chính sách konfrontasi của Djakarta, đồng thời Hoa kỳ gởi quân tác chiến ồ ạt sang Việt nam (tháng 3/1965). Tháng 9/1965, CIA mớm cho các tướng Nam dương (như Nasution, Suharto v.v.) biết về âm mưu của CS Nam dương nên các tướng này đã bẻ gẫy được mưu đồ đảo chánh của CS (dẫn đến thảm trạng gần nửa triệu đảng viên CS bị giết ở xứ này). Nếu nhìn dưới góc độ đó thì sự can thiệp của Mỹ vào VN phải xem là đã cứu vãn được gần toàn bộ Đông Nam Á ra khỏi vòng tay của CS không những cho đến ngày nay mà có lẽ là còn vĩnh viễn trong tương lai, đổi thay hẳn dòng chảy tưởng như là đương nhiên của lịch sử.
(20) Bui Tin, From Enemy to Friend, sđd, trang 4 5.
(21) Smith, Ralph, An International History of the Vietnam War (“Lịch sử chiến tranh VN nhìn từ góc độ quốc tế”), London: MacMillan, Tập I (1983), Tập II (1985). Theo như chỗ tôi được biết thì hình như Tập III cũng đã in xong nhưng chúng tôi không tìm mua được. Chẳng may, G.S. Ralph Smith (Trường Đông phương và Phi châu học thuộc Viện Đại học Luân đôn) mất trước khi ông hoàn tất đại tác phẩm dự tính sẽ gồm bốn tập này. Tuy nhiên, sau khi CS sụp đổ ở Liên Xô năm 1991, nhiều kho tài liệu (văn khố) ở Liên Xô đã mở ra cho các nhà nghiên cứu và G.S. Ralph Smith cho rằng một số kết luận của ông trước kia đã có thể không còn đứng vững nữa, cần được tu chính. Mặc dầu vậy, ta vẫn có thể nói được rằng cách tiếp cận của ông, xem chiến tranh VN là một cuộc xung đột quốc tế giữa Đông và Tây là hoàn toàn có giá trị.
(22) Trong một số trao đổi qua chuyện trò hay thư viết, ông Bùi Tín cho rằng những con số này là quá đáng. Ông cho phía Bắc kinh tính mỗi lượt người sang VN là một binh sĩ hay cá nhân; nói như ông, thế có nghĩa là con số 320,000 phải hiểu là có ngần ấy lượt quân của Bắc kinh sang VN—tương tự như con số 2,8 triệu quân Mỹ đã có đi tua ở Việt nam. Ông cũng chê sự hữu hiệu của các đơn vị bắn máy bay của Trung Cộng, cho rằng họ không bắn hạ được một chiếc máy bay nào của Mỹ cả. (Ông còn kể, đi đâu họ cũng giơ cao cuốn Sách Đỏ của Mao chủ xì của họ ra rồi hô khẩu hiệu thì bảo làm sao bắn rớt được máy bay.) Còn về trường hợp các phi công chiến đấu người Bắc Triều tiên thì ông kể, họ gặp nhiều trở ngại liên lạc với dưới đất (do ngôn ngữ bất đồng) nên cuối cùng họ hoàn toàn trở nên vô dụng. Tuy nhiên, ta cũng cần để ý là sự hiện diện của quân Trung Cộng trên đất Bắc Việt suốt từ biên giới Việt Trung xuống đến Bắc giang cách xa Hà nội chỉ có mấy chục cây số (từ 1967 đến 1972), đã giúp cho Hà nội gởi được nhiều đội quân sang Lào và vào đánh phá miền Nam (Điều này đã quá rõ trong một cuộc nói chuyện tay đôi giữa Mao và ông Hồ trong một lần ông Hồ sang Bắc kinh xin. Ngày 16 tháng 5 năm 1965, chính ông Hồ, chứ không ai khác, đã đề nghị Bắc kinh gởi quân sang để cho quân đội Bắc Việt có thể rảnh tay đi làm mấy chuyện kia. Xem “Mao Zedong and Ho Chi Minh, Changsha (Hunan), 16 May 1965,” trong tập 77 Conversations Between Chinese and Foreign Leaders on the War in Indochina, 1964 1977, thuộc dự án Cold War International History Project của Woodrow Wilson International Center for Scholars, Washington, DC: May 1998, trang 87). Ngoài ra, ông Bùi Tín còn cho ta thêm bằng chứng về sự hiện diện và tham dự của Bình nhưỡng vào chiến tranh VN khi ông cho biết là ngoài những phi công Bắc Hàn nói trên, họ còn gửi cả người đi đường bộ vào đến Bình định (Vùng I chiến thuật) để thực hiện tâm lý chiến, kêu gọi các lính Nam Hàn bỏ súng về với bên CS. Nhưng ở đây, quân Bắc Hàn cũng tỏ ra hoàn toàn vô hiệu và chẳng bao lâu đã bị triệu hồi.

Những con số sau này xuất phát từ Hà nội lại còn cho ta thấy một mức tổn thất cao hơn nhiều. Phần “Chronology” (“Biên niên”) trong cuốn Reporting Vietnam (“Làm tin về VN”), sđd, trang 793, đưa ra những con số như sau về tổn thất của hai phe Việt nam: “Miền Nam mất ít nhất là 200 nghìn binh sĩ tử vong… Năm 1995 chính quyền Việt nam [tức Hà nội] khẳng định là họ mất 1 triệu 100 nghìn người, cả quân Bắc Việt lẫn quân GPMN, chết trong giai đoạn từ 1954 đến 1975.” Như vậy thế có nghĩa là dưới con mắt của Hà nội giờ đây, họ bị tổn thất hơn 1 triệu người trong giai đoạn chiến tranh ở miền Nam. Thế cũng có nghĩa là tỷ lệ chết giữa đôi bên đổi thành ít nhất 1 đổi 4 một kết quả khá lạ kỳ nếu Quân lực VNCH, một quân đội thường bị dư luận quốc tế xem là không có khả năng và ngại đánh nhau, ngại chết, lại giết được đối phương tới mức hơn 1 đổi 4, 1 “thỏ đế” đổi hơn 4 mạng “sư tử” của đối phương!


In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè:

     http://tudovis.com/kktd/binh_luan/bl_vai_tro_cua_quan_luc_vnch.htm

Người gửi:

Địa chỉ email: *


Người nhận:

Có thể gửi cho nhiều địa chỉ, nhớ bỏ dấu phẩy trước khi bắt đầu địa chỉ mới.
Địa chỉ email: *
Lời nhắn:
Quí vị có thể copy hết cái bài ở trên và bỏ vào trong hộp Lời nhắn
 
* Thông tin bắt buộc        
Note: Chi tiết bạn điền vào trang này sẽ không được dùng để gửi thư không mời, hoặc bán cho nơi khác.