(Tiếp theo kỳ trước)
LTS
- Trong hai ngày 17 và 18-3-2006, Trung tâm Việt Nam ở Ðại học Texas
Tech. (Lubbock, TX) đã tổ chức một hội nghị chuyên đề về “Quân Lực
VNCH: Nhìn Lại và Tái Thẩm Ðịnh Sau 30 Năm” (“ARVN: Reflections and
Reassessments After Thirty Years.”) Nhân dịp này, G.S. Nguyễn Ngọc Bích
đã được mời đọc bài diễn văn quan trọng ở bữa ăn trưa (“luncheon
keynote speech”) ngày đầu hội nghị. Dựa vào nhiều tài liệu mới được
tiết lộ gần đây, không trừ tài liệu từ miền Bắc và các văn khố ở Mạc Tư
Khoa, Hoa Thịnh Ðốn và Trung Cộng, bài diễn văn này đã trả lại được
danh dự cho Quân Lực VNCH và đem cuộc chiến lên một tầm nhìn mới. Sau
đây là bản dịch từ bài nói chuyện bằng tiếng Anh do chính tác giả cung
cấp.
“Xâm lăng từ miền Bắc” (1961, 1965)
Ðây
là một vấn đề then chốt nếu nói về sự chính thống của chính nghĩa miền
Nam, nếu như Bạch thư năm 1961 của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ khẳng định là
đã có “xâm lăng từ miền Bắc.” Sang năm 1965, Bộ Ngoại Giao Mỹ lại đưa
ra một cuốn Bạch thư khác để tiếp nối và cập nhật hóa cuốn năm trước.
Ta cần chú ý là một trong những tiếng nói phản chiến lớn nhất ở giữa
thập niên 1960 ở Mỹ, ông I. F. Stone viết trong báo Ramparts, đã không
tiếc thời giờ hay mực để bác bỏ quan niệm cho rằng đã có “xâm lăng từ
miền Bắc.” Thế có nghĩa là trong đầu ông I. F. Stone và của hầu hết các
lãnh tụ phản chiến khác thời bấy giờ, nếu lập luận của Bộ Ngoại Giao Mỹ
được chấp nhận thì rõ ràng là Hoa Kỳ và Sài Gòn có một cơ sở chính
thống để chống trả cuộc “xâm lăng” nói trên - nói cách khác, cuộc chiến
không phải chỉ là một cuộc nổi loạn ở địa phương dựa lên trên những
điều đáng khiếu nại hay phiền lòng đối với chính quyền Sài Gòn.
Nhưng
bây giờ thì ta biết. Khi được hỏi về tính cách giả hiệu của Mặt trận
Dân tộc Giải phóng Miền Nam (viết tắt là NLF trong tiếng Anh), với các
lãnh tụ bị coi là một lũ bù nhìn không có thực chất, Nguyễn Khắc Viện,
có lẽ là nhà trí thức nổi tiếng nhất ở Tây phương của miền Bắc, đã cười
một cách ngạo nghễ trên truyền hình Pháp vào năm 1977: “Ê, thế có phải
là chúng tôi giỏi đánh lừa quý vị không?”
Nhưng
ta không phải chỉ có câu trả lời xấc xược của ông Viện để chứng minh là
đã có “xâm lăng từ miền Bắc.” Trong một bản “dự thảo Tổng kết cuộc
kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam” (1) hoàn tất vào
năm 1986, mà riêng bản của tôi được xem có mang chú thích “Trình Ðại
tướng Võ Nguyên Giáp,” ở trang 28 đã có ghi đích xác như sau: “Theo
đường lối của đại hội [III của Ðảng CSVN. Theo ghi chú của cuốn sách],
ngày 20/12/1960, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam được thành lập.”
Như vậy, ta không còn gì để cãi nữa.
Song
nói một cách cụ thể hơn nữa và ăn khớp với đề tài của chúng ta hôm nay,
những con số sau đây chép ra từ một tài liệu khác lấy ngay từ Bộ Quốc
phòng ở Hà Nội, có mang ghi chú “Lưu”:
Quân số MB [= miền Bắc] tăng cường cho miền Nam
Năm
MB tăng cường MN
[Ghi chú]
1955
1956
1957
1958
1959
1960
1961
1962
1963
1964
1965
1966
1967
1968
1969
1970
1971
1972
1973
1974
1975
542
1,217
1,759**
5,521
7,293
8,719
17,475
39,008**
46,796
54,794
94,243
141,081
336,914**
81,092
52,090
49,321
152,974
335,477**
75,600
70,798
117,293
263,691**
Theo hồ sơ lưu trữ K4 Văn phòng Bộ Quốc phòng.
Thiếu B3, B4 trong khoảng thời gian 1965-1975.
(Khoảng vài vạn người).
Ngoài
còn có những đơn vị đi vào B với VK [= vũ khí] trang bị đầy đủ và đi
theo đội hình đơn vị, chưa tính số này. Cần tham khảo ở Cục Tổ chức
Ðộng viên.
976,849
*
Chữ “tân binh” này không có nghĩa là lính tò te mà có lẽ phải hiểu là
những bộ đội mới đưa vào miền Nam. Và họ vào là đi theo đơn vị để chiến
đấu đến hết cuộc chiến, vì thế nên lúc bấy giờ mới có câu “sinh Bắc, tử
Nam” đôi khi được khắc ngay trên tay hay mình của người bộ đội.
**
Theo bản gốc những con số mang hai hoa mai này được viết ngay vào cùng
hàng với những con số khác. Như vậy ta có thể hiểu là một số năm đã có
hai đợt đưa quân vào Nam. Dù như 1968 (Mậu Thân) và 1972 (Mùa Hè đỏ
lửa) là những năm chiến cuộc lên cao độ, có lẽ đối phương cũng đã không
đưa đến 1/2 triệu quân vào Nam. Vì vậy nên có người đưa ra ức đoán đây
là những con số tổng cộng số quân trong những năm trước đó. Song ngay
hiểu như thế, con số tổng cộng ở cuối bảng cũng đã tới gần 1 triệu
(976,849 người).
Dựa
vào bảng trên đây, ngay với những con số không đầy đủ của nó, ta cũng
có thể thấy là đã có tới 81,534 bộ đội miền Bắc được gửi vào Nam từ năm
1959 tới năm 1964, trước khi binh lính chiến đấu của Mỹ được đưa ồ ạt
vào VN. Chỉ cần con số này, cộng thêm vào với những đơn vị của Cục “R”
mộ và huấn luyện ở miền Nam, đủ để chứng tỏ là quan niệm cho rằng Quân
lực VNCH không đánh nhau trước khi Mỹ ồ ạt đưa quân chiến đấu vào miền
Nam (Tháng 3/1965) là vô lý.
“Sư tử của đối phương, thỏ đế của ta”
Thực
sự, ngay với một số quân lớn như vậy đưa vào chiến trường miền Nam,
nghĩa là tương đương với 9 sư đoàn, quân Bắc Việt vẫn chưa thấy có đủ
tự tín để đụng trận ở cấp đơn vị lớn. Phải đợi đến Ấp Bắc (tháng
1/1963) ta mới có trận đầu tiên ở cấp tiểu đoàn, song phía CS chủ yếu
là tìm cách xây dựng lực lượng ở miền Nam trước khi chạm trán với quân
đội Mỹ. Ðó là vì ông Giáp rất ngại khả năng tham chiến của Hoa Kỳ (2),
trong khi đó thì sau khi ông Ngô Ðình Diệm bị lật đổ ở miền Nam, Hà Nội
ngày càng chịu ảnh hưởng của Lê Duẩn nên đã liều lĩnh kêu gọi việc đem
lại “một đổi thay có tính quyết định trong cán cân lực lượng” giữa hai
miền (tháng 12/1963).
Ðến
khi quân đội Bắc Việt quyết định nhào vô đánh Mỹ dùng đơn vị lớn hơn
đại đội (trong hai trận Vạn Tường Starlite, tháng 8/1965, và Ia Drang,
tháng 11/1965 (3)) thì quân số của họ ở miền Nam đã lên đến hơn 150
nghìn, không kể những quân phụ lực của họ ở miền Nam. (Ông Bùi Tín,
chẳng hạn, cho ta một con số thấp khi ông cho rằng vào năm 1965-1966,
“số quân Bắc Việt đưa vào miền Nam chưa tới 120 nghìn người.”( 4) Tính
đến năm 1966 thì thực ra con số quân Bắc Việt đưa vào Nam đã lên đến
141 nghìn không kể những đơn vị “vũ khí trang bị đầy đủ” đưa vào chiến
trường B3 và B4 để chiến đấu một thời gian rồi lại rút về miền Bắc.)
Với
những trận chiến lớn ngày càng để cho Mỹ đánh và quân đội miền Nam chỉ
còn giữ những vị trí phòng thủ, không lạ là báo chí truyền thanh truyền
hình Mỹ, đằng nào cũng không mấy có hứng đưa tin nhìn từ quan điểm của
Quân lực VNCH, bắt đầu nói xấu đồng minh chính trong chiến tranh, làm
cho phía mình mất đi thêm tính cách chính thống. Cú “đâm sau lưng chiến
sĩ” tệ nhất đối với quân đội miền Nam xảy ra vào tháng 10/1967 khi tuần
báo Newsweek đưa ngay lên bìa tên bài báo chính của tuần đó, “Sư tử của
đối phương, thỏ đế của ta,”(5) chỉ một câu mà nói lên hết sự suy nghĩ
của họ về quân lực VNCH.
Chính
sự coi nhẹ, nếu không muốn nói là khinh miệt, đối với đồng minh chính
trong chiến tranh còn thấy phản ánh trong những trang bị chiến tranh
được chuyển cho quân đội miền Nam. Ðến tháng 1/1968, để chuẩn bị cho
tổng công kích Mậu Thân của họ, nếu quân đội CS, cả Bắc quân lẫn quân
GPMN, đều đã được cung cấp AK47 (một chương trình được bắt đầu từ 1964,
súng do Trung cộng sản xuất theo mẫu mã của Nga) thì đến đó, chỉ có một
số đơn vị chủ lực của miền Nam (TQLC và Nhảy Dù, cộng thêm một vài đơn
vị Biệt động quân) là được trang bị với M16 (võ khí cá nhân được xem là
tương đương với AK47 nhưng chính thực dễ hóc, dễ hỏng hơn dù như bắn xa
thì có chính xác hơn), trong khi đó thì hầu hết quân đội miền Nam chỉ
được cấp có Garant M1, loại súng cá nhân có từ thời Thế Chiến II. (Phải
đợi đến khi Tướng Abrams sang thay Tướng Westmoreland sau trận Mậu
Thân, ông mới đòi phải cung cấp M16 cho toàn bộ quân chính quy của miền
Nam.)
Mặc
dầu vậy, mặc dầu súng ống không bằng quân Bắc Việt và quân GPMN, quân
lực miền Nam trong trận Mậu thân đã tỏ ra chiến đấu vô cùng anh dũng
trong trận thư hùng trên toàn quốc này. (6) Hai mươi lăm trên tổng số
45 tỉnh ở toàn miền Nam, (7) kể cả ba đô thị lớn là Sài Gòn, Huế và Ðà
Nẵng, bị đánh trong một cuộc tổng công kích bất ngờ trên toàn lãnh địa
từ Bến Hải vào, ngay trong khi đang có đình chiến Tết, có nghĩa là đa
phần những trại bót của quân đội miền Nam lúc bấy giờ không đủ quân số.
Mặc dầu vậy, mặc dầu đối phương có được yếu tố bất ngờ là yếu tố thường
phải có lợi cho họ, quân lực VNCH đã đánh bật cuộc tấn công trên toàn
quốc trong vòng 48 tiếng đồng hồ, trừ có trường hợp của Huế (mà đối
phương giữ được một phần trong 25 ngày), làm cho quân CS bị thảm bại.
Hà Nội cố gắng một cách vô vọng khai thác cái mà được gọi là cơ hội
“nghìn năm một thuở” này bằng hai đợt tấn công rộng lớn khác nữa (nhưng
ngày càng yếu) vào tháng 5 và tháng 8-tháng 9 năm đó, để chuốc lấy thất
bại cay đắng - một điều mà ngay các quan sát viên phía CS cũng phải
công nhận. Kết quả là, chỉ riêng trong cuộc “tổng công kích tổng khởi
nghĩa” năm Mậu Thân của họ, Hà Nội đã mất 58,373 tử vong (8) - nói cách
khác, bằng tổng số tử vong của Hoa Kỳ trong toàn bộ cuộc chiến ở VN,
chưa kể 9,461 người khác bị bắt làm tù binh.
(Còn tiếp)
(1)
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Tóm tắt Dự thảo Tổng kết cuộc kháng
chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam, Hà Nội, 1986.
(2)
Bùi Tín, trong Mây Mù Thế Kỷ (Ða Nguyên, 1998, trang 37), viết: “Tôi
còn nhớ hồi năm 1965, khi cho ý kiến về bình luận quân sự, Tướng Võ
Nguyên Giáp có nói riêng với mấy phóng viên quân sự báo Quân đội nhân
dân rằng: 'Mỹ vào chừng mười bốn, mười lăm vạn đã thành vấn đề gay go ở
chiến trường. Nếu số quân Mỹ lên đến hai mươi vạn hoặc hơn nữa thì sẽ
rất gay go cho phía ta!' Chính vì những phát biểu như thế này mà sau đó
có tin đồn, do phe Lê Duẩn (sẵn không ưa ông Giáp) đưa ra, rằng ông Võ
Nguyên Giáp là một loại thỏ đế, nhát như cáy. Tin đồn này đến năm 1991
còn được nhắc lại trong hồi ký của Trần Phương. (Xem thêm Bui Tin, From
Enemy to Friend: A North Vietnamese Perspective on the War, Annapolis,
MD: Naval Institute Press, 2002, trang 14.)
(3)
Trận Ia Drang, với tất cả những chi tiết ghê rợn và vinh quang của nó,
được kể lại trong sách We Were Soldiers Onceà and Young (“Chúng ta đã
một thời làm lính... trẻ,” New York: Harper Torch, 1992) do Trung Tướng
Harold G. Moore (hồi hưu) và ký giả Joseph L. Galloway, người có tham
dự trận đánh này với tư cách là phóng viên chiến trường. Cuốn sách, vì
hai tác giả có sang tận Việt Nam phỏng vấn các đối tác trong trận này,
đã tỏ ra khá công bằng cho cả đôi bên, Mỹ và quân đội Bắc Việt.
(4) Bui Tin, From Enemy to Friend (”Từ thù đến bạn”), sđd, trang 14.
(5) Perry, M.D., “Their Lions, Our Rabbits,” Newsweek, October 9, 1967.
(6)
Palmer, Dave R., Summons of the Trumpet: U.S.-Vietnam in Perspective,
San Rafael, CA: Presidio Press, 1978. Mặc dù ông Palmer cho là phe Ðồng
minh đã không nắm được tin tình báo về cuộc “tổng-công-kích
tổng-khởi-nghĩa” này của phía CS, một điều mà các tác giả khác không
nhất thiết đồng ý, ông cũng viết, theo bản dịch của Nguyễn Ðức Phương
trong Chiến tranh Việt Nam Toàn Tập (x. chú thích 10 dưới đây, trang
413): “Tin tưởng rằng sẽ được chào đón như những giải phóng quân và hy
vọng nhìn thấy QLVNCH tan rã bỏ chạy, các cấp lãnh đạo của CS đã thất
vọng cả hai. QLVNCH dù bị bất ngờ và chỉ có phân nửa quân số hay ít
hơn, đã chiến đấu như chưa bao giờ thấy trước đây. Thay vì gây cho các
lực lượng của Sài Gòn bị tan rã, cuộc tổng tấn công đã tạo một hậu quả
trái ngược khiến QLVNCH siết chặt thêm hàng ngũ. Chiến đấu để bảo vệ
nhà cửa thành phố của mình, người lính Nam Việt Nam đã chứng tỏ một
tinh thần chiến đấu cao độ và dũng mãnh làm ngạc nhiên hầu hết các quan
sát viên, nhất là quân đội miền Bắc Việt Nam. Cuộc tổng khởi nghĩa hoàn
toàn chỉ là một huyền thoại. Dân chúng miền Nam Việt Nam không bước ra
chào đón người khách lạ đầu Xuân. Họ đã đứng dậy nhưng trong sự hãi
hùng và chống đối kẻ xâm lược.”
(7)
Ðây là một con số bảo thủ và không liệt kê vào trong đó những tỉnh
thành mà chỉ có bắn phá chứ không có quân CS tiến công vào. G.S. John
Prados, trong sách The Hidden History of the Vietnam War (”Lịch sử bí
mật Chiến tranh VN,” Chicago: Ivan R. Dee, 1995, trang 142) đưa ra
những con số cao hơn nhiều: “Các đơn vị Bắc Việt và Việt Cộng đưa từ
67,000 đến 84,000 quân vào tấn công 39 trong số 44 tỉnh lỵ, 71 quận
huyện, Sài Gòn, tất cả các tổng hành dinh của QLVNCH và nhiều căn cứ
không quân chính tổng cộng là 166 tỉnh thành.” Kết luận về chiến dịch
TCK-TKN của Hà Nội, Phillip B. Davidson, trong Vietnam at War (sđd,
trang 447), đã viết: “Cái yếu bao trùm trong kế hoạch của ông Giáp là
nó được đặt trên căn bản của những giả thiết đã tỏ ra không những không
có cơ sở, mà còn hoàn toàn sai. QLVNCH đã không theo địch quân hay rã
ngũ, hoặc tan rã trước các mũi tấn công dữ dội của phe CS vào Tết Mậu
Thân. Nói chung, QLVNCH chiến đấu dũng cảm và hữu hiệu hơn bao giờ hết
trước đó và cũng từ đó; quân lực ấy không nổi lên chống lại chính phủ
Thiệu; và họ đã không quay lại đánh phá quân đội Mỹ.”
(8)
Nguyễn Ðức Phương, Chiến tranh Việt Nam Toàn Tập: Từ trận đầu (Ấp Bắc -
1963) đến trận cuối (Sài Gòn - 1975), Toronto, Canada: Làng Văn, 2001,
nơi trang 407, dẫn theo lịch sử chính thức của QLVNCH mang tên Cuộc
Tổng Công Kích-Tổng Khởi Nghĩa của Việt Cộng Mậu Thân 1968 của Phạm Văn
Sơn và Lê Văn Dương (Saigon: Phòng 5/BTTM, 1968). Cũng cần phải nói là
John Prados xem tác phẩm sau này là bản tường trình đầy đủ nhất trong
bất cứ tiếng nào về vụ TCK-TKN của CS mà lại viết chỉ ít tháng sau chứ
không phải chờ đến nhiều năm. Trong tiếng Anh, cuốn sử tương đương viết
từ quan điểm của QLVNCH là cuốn The General Offensives of 1968-69 của
Hoàng Ngọc Lung (Washington, D.C.: Center for Military History, 1981).
Những Bài Liên Quan:
|
| LTS: Ý kiến bày tỏ trên trang Diễn Ðàn là của các tác giả, không nhất thiết phản ảnh quan điểm của nhật báo Người Việt và Người Việt Online. |