Ngày 27 tháng 4 vừa qua, Luật sư Nguyễn Văn Đài đang hành nghề luật
tại Hà Nội, đã chấp bút một bài viết về 'quyền thành lập đảng ở Việt
Nam', tạo một sự chú ý trong dư luận. Tuy bài viết rất ngắn; nhưng luật
sư Đài đã cô đọng nói lên tiến trình xuất hiện bình thường của những
đảng phái tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, dựa trên kinh nghiệm
lịch sử, chủ trương và những quy định của hiến pháp Cộng sản Việt Nam
hiện hành. Về mặt lịch sử, luật sư Đài đã cho rằng ngay từ sau năm
1945, Việt Nam theo đa đảng vì lúc đó có nhiều đảng tham gia vào chính
quyền, với sự tồn tại của hai đảng Dân chủ và Xã hội.
Về
mặt pháp luật, luật sư Đài đã cho rằng hiến pháp và pháp luật của Cộng
sản Việt Nam hiện nay không có Điều nào cấm hay hạn chế công dân của
mình thành lập một đảng chính trị, từ đó luật sư Đài kết luận rằng mọi
công dân Việt Nam có quyền làm những gì mà pháp luật không cấm. Về mặt
thực tiễn, luật sư Đài cho rằng trong quá trình phát triển của nhân
loại, cả về khía cạnh lịch sử cũng như pháp lý, chưa bao giờ có thực tế
xảy ra là một đảng chính trị này cho phép hay không cho một đảng chính
trị khác ra đời hay thành lập. Luật sư Đài đã cho là các đảng phái
chính trị được thành lập trên cơ sở có sự ủng hộ của một bộ phận người
dân mà họ làm đại diện.
Từ những luận điểm nói trên, luật sư Đài
đã đề nghị tiến trình lập đảng tại Việt Nam hiện nay như sau: Trước hết
là đứng ra thành lập một Ủy ban vận động thành lập đảng (ủy ban này
không xin phép). Sau khi soạn xong Điều Lệ và Cương lĩnh tạm thời thì
đưa ra cho quần chúng lấy sự ủng hộ. Ủy ban nên đặt ra khi thu được bao
nhiêu chữ ký ủng hộ, thì đủ công bố thành lập đảng và làm lễ ra mắt dư
luận Việt Nam và Thế Giới. Riêng về việc hai đảng Dân chủ và Xã hội đã
tự giải tán vào năm 1988 thì luật sư Đài cho là không cần xin phép mà
chỉ tuyên bố trước quần chúng và Việt Nam về việc tái hoạt động là đủ.
Những phân tích và những dữ kiện liệt kê để bổ túc cho các quan điểm
trình bày, luật sư Đài đã cho rằng: Việt Nam trong xu thế tất yếu đi
đến một xã hội dân chủ với thể chế chính trị đa đảng đó là chân lý, mà
chân lý thì không một ai có thể phủ nhận hoặc từ chối bỏ được".
Trong
một xã hội bình thường, những luận điểm của luật sư Đài đưa ra hoàn
toàn hợp lý và thuyết phục. Nhưng rất tiếc là xã hội Việt Nam hiện nay
không bình thường, nên các luận cứ của ông đưa ra cần phải khắc phục
một số rào cản mà đảng Cộng sản Việt Nam đã nguỵ trang bên dưới những
từ ngữ hoa mỹ trong hiến pháp cũng như trong các văn kiện lập quy khác.
Luật sư Đài có dẫn giải điều 5 của hiến pháp 1946, quy định tất cả công
dân Việt Nam đều ngang bằng về mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn
hóa và điều 7 quy định tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước
luật pháp, đều được tham gia chính quyền... để nói đến thể chế chính
trị đa nguyên, đa đảng mà Cộng sản Việt Nam quy định từ những năm đầu
khi cướp chính quyền vào năm 1946, nhưng ông đã quên rằng, những tu
chính của hiến pháp 1946 sau này, Cộng sản đã thêm một điều khoản rất
'dị hợm'. Đó là điều 4 hiến pháp 1992 quy định đảng Cộng sản Việt
Nam... là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội.
Từ sự quy định
mang tính độc tài nói trên, trong điều lệ đảng Cộng sản Việt Nam,
chương IX đề cập về đảng lãnh đạo nhà nước và đoàn thể chính trị xã
hội, điều 41 đã ghi rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhà nước và
đoàn thể chính trị - xã hội bằng cương lĩnh chính trị, chiến lược,
chính sách, chủ trương, bằng công tác tư tưởng, tổ chức, cán bộ va kiểm
tra, giám sát việc thực hiện...
Tổ chức đảng và đảng viên công
tác trong cơ quan nhà nước và đoàn thể chính trị - xã hội phải chấp
hành nghiêm chỉnh nghị quyết, chỉ thị của đảng: tổ chức đảng lãnh đạo
việc cụ thể hóa của các văn bản luật pháp của nhà nước, chủ trương của
đoàn thể, lãnh đạo thực hiện có hiệu quả. Từ những quy định này, ta
thấy hai điều:
Một, tất cả các đoàn thể chính trị - xã hội đều
phải nằm trong quỹ đạo lãnh đạo, kiểm soát và chế tài một cách chặt chẽ
của đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là sự kiện nói lên tính độc tài của
đảng Việt cộng.
Hai, những nhân sự nằm trong các đoàn thể chính
trị - xã hội phải do sự đề cử của đảng Cộng sản. Đây là sự kiện nói lên
tính ăn trùm của đảng lên toàn thể sinh hoạt xã hội.
Những quy
định chặt chẽ nói trên, cho thấy là Cộng sản Việt Nam không muốn bất cứ
ai hay một nhóm người nào, trở thành một tập hợp hay một tổ chức thách
đố quyền lực và sự tồn tại của đảng Cộng sản Việt Nam. Họ chỉ từ bỏ sự
độc tài, độc đoán này khi nào bị những áp lực sinh tử dẫn đến nguy cơ
là nếu không từ bỏ thì sẽ bị lật đổ, thì họa may, Cộng sản Việt Nam mới
thay đổi chấp nhận những tập hợp khác hiện diện chung. Trong bối cảnh
ngày hôm nay, Cộng sản Việt Nam tuy đã yếu và mất dần khả năng kiểm
soát, nhưng vì chưa có một tổ chức nào đủ tầm vóc để có thể đe dọa
quyền lãnh đạo, nên Cộng sản Việt Nam sẽ tiếp tục giữ nguyên trạng.
Nghĩa là trong tình hình hiện nay, Cộng sản Việt Nam sẽ không tung ra
bất cứ luật lệ gì cho phép lập đảng lập hội, ngược lại sẽ thẳng tay
triệt hạ những ai có manh nha lập hội, lập nhóm. Do đó, để tiến đến
điều mà luật sư Đài đề nghị lập uỷ ban vận động trước để lấy sự hậu
thuẫn của quần chúng, sẽ chỉ có thể thành công, nếu tổ chức được những
đơn vị quần chúng và sau đó phát động phong trào đấu tranh quần chúng
hầu tạo áp lực.
Kinh nghiệm Đông Âu cho thấy là những đảng phái,
tổ chức đối kháng đã chỉ có thể xuất hiện đối đầu với đảng Cộng sản sau
khi đã tác động lên dư luận tạo thành một phong trào đấu tranh đòi tự
do dân chủ mạnh mẽ trong quần chúng.
Chỉ có trong trường hợp
này sự xuất hiện công khai của các đảng phái, lực lượng đấu tranh mới
tạo thành những đợt sóng dân chủ, đẩy đảng và nhà nước Cộng sản rơi vào
thế thoái lui. Với sự xuất hiện của Tuyên Ngôn Dân Chủ vào ngày 8 tháng
4 của 118 nhà đấu tranh đã là sự khởi đầu để tạo hạt nhân quần chúng
chuẩn bị cho những cao trào đấu tranh trong thời gian tới. Chính trong
diễn trình này, tình thế sẽ tạo ra nhu cầu của sự xuất hiện các đảng
phái, hầu điều hướng cuộc đấu tranh thành công. Do đó, những luận điểm
của luật sư Đài đã giúp chúng ta nhìn thấy điều tất yếu phải xảy đến
trong thời gian trước mặt.