I- Muôn sự tại mình?
Sinh
năm 1956, 16 tuổi cô bé Nguyễn thị Thái đã là sinh viên của trường Đại
học tổng hợp Matxơcơva, và 21 tuổi trở thành giáo viên của khoa hoá
trường đại học Sư Phạm. 19 năm dạy học, lúc nào chị cũng được đánh giá
là một giáo viên có năng lực, hết lòng vì học sinh thân yêu, không
những yêu nghề mến trẻ đã đành còn bỏ công, bỏ sức tìm tài liệu tốt
nhất, phương pháp sư phạm hữu hiệu nhất để rút ngắn con đường từ lý
thuyết sách vở trừu tượng đến thực tế sinh động cho các em học sinh
cũng là hàng ngàn vạn các thầy cô giáo tương lai - những người sẽ trực
tiếp đem kiến thức đi tới các bản làng xa xôi hay đô thị sầm uất để
truyền đạt cho những cô cậu học trò cấp II, cấp III của mình.
Năm
1997, sau bao nhiêu cố gắng miệt mài âm thầm cống hiến, hạnh phúc dường
như đã lạc bước đến với chị, chị được Đại học Quốc gia Hà Nội cho phép
đi học nghiên cứu giáo dục tại Australia từ tháng 4/1997 đến tháng
7/1998. Nào ai ngờ khởi điểm của một niềm hạnh phúc mới cũng là khởi
điểm của 1 nỗi bất hạnh lớn. Đang học dở khoá học, vì hoàn cảnh gia
đình, con trai bị ung thư vòm họng, bố đẻ bị xuất huyết mạch máu não
trong tình trạng thập tử nhất sinh, chị phải trở về nước, một tay chăm
con, một tay vực bố, bỏ dở cả học bổng của Úc cấp phát, trong khi lương
dạy học tại khoa đã bị cắt hết... để gồng mình, dốc sức chữa chạy cho
cả hai người thân yêu của mình, trong điều kiện vô cùng khó khăn, túng
quẫn... Sau 4 tháng, khi tình trạng nguy kịch của bố và con trai đã
qua, chị thu xếp trở lại Úc, trình bày mọi lý do kèm giấy tờ xác nhận
của bệnh viện và được phía bạn cho phép kéo dài khoá học thêm 4 tháng -
bù vào quãng thời gian phải nghỉ học để gánh vác trách nhiệm gia đình.
Yên
tâm, vui vẻ chị theo học đến 15/11/1998 rồi lên đường về nước. Sau khi
nghỉ ngơi 1 tuần, chị tìm đến khoa Hóa vô cơ, trường Đại học Khoa học
tự nhiên để "trình diện lãnh đạo". Và cái xảy nảy thành cái ung từ đấy.
Trong
khi rất nhiều đồng nghiệp cùng trường với chị ở lại nước bạn, tự cho
phép mình nghỉ ngơi thư giãn cả nửa năm trời sau cả chuỗi ngày "than
dữ" vì học tập, phấn đấu căng thẳng, rồi mới lững thững trở về, thì chị
vì uy tín nghề nghiệp, vì trách nhiệm công dân, cũng vì lòng yêu nghề
mến trẻ, phải về ngay sau ngày 15/11/1998, và chỉ dám ở nhà 1 tuần để
thu xếp công việc gia đình, vậy mà vì kém thích nghi trong điều kiện
"đổi mới tư duy" Đô la đi trước, mực thước theo sau mà bị lãnh đạo trút
tội lên đầu, nào là vô kỷ luật, vô nguyên tắc, đi không báo cáo, về
không báo cầy, địa vị làm thầy, mà chậm... 11 tháng. Quả là hộ chiếu mà
biết nói năng, thì ngài lãnh đạo... hàm răng chẳng còn, từ chậm 1 tuần
thành chậm 11 tháng (!)
Chưa đủ, vì không được "ngậm miệng ăn
tiền", theo kiểu đổi mới tư duy: Tư duy phong bì, tư duy kính biếu, đầu
tiên là...tiền đâu? Đô la là cha mọi thằng, đô la lân la xin chữ ký v.v
chủ nhiệm khoa phủ nhận trắng trợn: - Chúng tôi không cần đến kiến thức
về phương pháp giảng dạy mà chị đã được đào tạo ở Úc (Quản lý giáo dục
và phát triển nguồn nhân lực), vì thế không thể sắp xếp công việc cho
chị được???
Bị dồn tới nước cùng, không còn thể nào bình tĩnh
với 1 ông chủ nhiệm khoa ngu ngốc, coi tiền tài danh vọng hơn mọi thứ
trên đời, chị nói hết những điều cay đắng phẫn uất của mình, thế là rơi
ngay vào cái bẫy mà ông ta đã giương ra, hệt như chú cừu trong chuyện
ngụ ngôn của ÊDôp... Khi ấy, cừu đang tung tăng gặm cỏ thì gặp sói, sói
bảo: Sao nhà ngươi dám làm đục vũng nước mà ta đương uống, Cừu đáp: Đâu
dám, thưa ông. Nước từ chỗ ông chảy xuống cơ mà. "Thế sao mày dám chửi
tao từ năm ngoái" - Thưa bây giờ con mới nửa tuổi. " Tao không biết,
sói rống lên: - Nếu chẳng phải mày thì là bố mày". Dứt lời sói vồ lấy
chú cừu nhỏ đáng thương và nhai ngấu nghiến. Trước khi chết cừu, chỉ
kịp thốt lên: "Lời nguỵ biện nào cũng chỉ lợi cho bạo chúa".
Sau
cái gọi là cuộc họp của trường đại học Quốc Gia Hà Nội (ngày 18-5-1999)
chị đã bị đưa ra khỏi danh sách biên chế của trường, giữa tuổi đời 43,
tràn đầy năng lực và khao khát cống hiến. Nửa tháng trời dằn vặt day
dứt trong khi công quả thành tích có cơ thành nước lã trôi sông, ngày
4/6/1999 chị đã viết đơn xin thôi việc dưới sự ép buộc của ông chủ
nhiệm khoa Vũ Đăng Độ và bà Lý Thị Túc (nguyên phó phòng tổ chức cán
bộ): "Tốt nhất chị nên viết đơn xin nghỉ việc đi, nếu chị chấp nhận
điều kiện này, chị còn được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội 1 lần, nếu
không buộc chúng tôi phải ra quyết định đuổi việc chị thì công lao 19
năm dạy và học của chị đi đứt"
Thế là chỉ vì "nỏ mồm" tranh cãi
với chủ nhiệm khoa, mà ông Độ quyết định cho chị "tắt tiếng" trên bục
giảng luôn, thay vì được hưởng chế độ ưu đãi mới do thành tích học tập
rèn luyện ở Úc thì chị được nhận vẻn vẹn 8 triệu đồng để ra khỏi biên
chế.
II- Thế thái nhân tình thời nay:
6 năm ở nhà, chị
tiếp tục gõ đầu trẻ bằng cách mở lớp dạy tiếng Anh từ lớp 1 cho tới lớp
12, bao nhiêu kiến thức hơn 20 năm trời chị gặt hái thu lượm được cho
mình bỗng chốc thành vô nghĩa, hệt con lừa chở nặng sách trên lưng,
không ai dám gọi chị là nhà hiền triết, thạc sĩ giảng viên Đại học mà
chỉ đơn giản là gia sư gõ đầu trẻ, hòng kiếm miếng ăn độ nhật qua ngày.
Phải nghỉ việc giữa tuổi đời 43- tuổi đầy sung sức của sự tích
luỹ trí tuệ, từ địa vị giảng viên, thầy dạy phải rời xa bục giảng, sống
một cuộc sống miễn cưỡng ép buộc bên những đứa trẻ mải chơi hơn mải
học, chị cảm thấy vô cùng bức xúc hẫng hụt, ngọn lửa đam mê sáng tạo
trong chị vẫn cứ bùng lên ngày ngày, vì thế chị đã viết không biết bao
nhiêu lá đơn trình bày với lãnh đạo khoa, lãnh đạo nhà trường cốt được
trở lại bục giảng thân quen, với những đứa học trò say mê nghiên cứu
khoa học, dù chỉ là dạy tiếng anh hay dạy hoá cho các sinh viên khoa
sinh, hoàn toàn không đòi hỏi tiền thù lao, công xá...
Những
lá đơn của chị tràn đầy nỗi lòng yêu nghề mến trẻ tha thiết, được cống
hiến đời mình cho sự nghiệp giáo dục của nứớc nhà, được làm một ngọn
lửa sáng chói trong ngôi đền tri thức của Viêt Nam, được góp một giọt
mật ngọt ngào đáng kể nhất trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học của nước
nhà, cũng như đem những kiến thức đã được trải nghiệm, thực hành tại
nước bạn thành ững ứng dụng trong thực tế hàng ngày tại Việt Nam...
Song than ôi tất cả chỉ là một tiếng gào thê thảm tuyệt vọng không có
hồi âm. Trong đơn giải trình gửi lãnh đạo trường Đại học khoa học tự
nhiên ngày 18-5-1999, chị viết:
Về nguyện vọng dạy môn hoá cho học sinh chuyên sinh
Là
một giảng viên khoa hoá được đào tạo chính quy ở trường Đại học tổng
hợp Matxcova, và chương trình quản lý hành chính và lãnh đạo trong giáo
dục tại trường đại học Sydney (Úc) bằng Diploma. Mặt khác, tôi đã từng
được phân công dạy hoá cho học sinh chuyên lý của trường, hơn thế nữa
có rất nhiều đồng nghiệp là những giáo viên luyện thi môn hoá có kinh
nghiệm sẵn sàng chỉ đạo, tôi tin tưởng việc cải tiến phương pháp giảng
dạy môn hoá mà tôi đã ấp ủ bấy lâu nay sẽ giúp học sinh chuyên sinh
không chỉ học tốt mà còn có thể đỗ môn hoá (một trong ba môn thi đại
học của khối B) với điểm số cao.
Về nguyện vọng dạy anh ngữ cho học sinh chuyên sinh:
Tôi
đã được trường cử đi học chuyên tu tiếng anh một năm tại trường đại học
Ngoại ngữ Hà Nội (1986-1987) học lớp tiếng Anh ba tháng do Ford
Foundation tài trợ tại học viện quan hệ quốc tế, lớp tiếng anh 5 tháng
do hãng ICI tài trợ tại khoa hoá, lớp tiếng anh ba tháng do AusAID tài
trợ tại trường Đại học ngoại ngữ Hà Nội và lớp tiếng anh ba tháng do
AusAID tài trợ tại Sydney... Tôi cũng có kinh nghiệm gần 10 năm dạy
tiếng anh cho học sinh phổ thông là các con cháu tôi và con cháu bè
bạn. Tôi hoàn toàn tin tưởng dạy rất tốt môn này cho học sinh chuyên
sinh.
Vậy tôi làm đơn này xin được tham gia công tác quản lý
kết hợp với giảng dạy tại khối, và sẽ xin cố gắng cùng ban chủ nhiệm
khoa sinh học xây dựng khối vững manh
Hà Nội ngày 18-5-1999
Kính đơn
Nguyễn thị Thái
Trước
khi viết đơn, chị đã nhận được sự chấp thuận của ông Vũ Văn Vụ chủ
nhiệm khối chuyên sinh học, vì con chị cũng học tại đó, nên có nhiều
dịp trao đổi với các cán bộ ở khối và được mọi người rất ủng hộ việc
dạy học theo phương pháp mới, mặt khác các giáo viên trong khoa đều rất
bận công tác chuyên môn, nên khối cần có một cán bộ chuyên trách, song
người đời chỉ phù thịnh, không phù suy nên ngay sau đó ông Vụ đã thẳng
thừng từ chối với lý do: không đáp ứng được nguyện vọng của chị. Đơn
trả lời không có chữ ký cũng chẳng có dấu má hay ngày tháng ký, chỉ vẻn
vẹn ba chữ viết tắt CNK (tức chủ nhiệm khoa)...
Thế là bao nhiêu
hy vọng chờ đợi thành... công cốc, chị đành quay về với "Bục giảng" cuả
mình tại nhà (tầng 3 số 4 phố Bà huyện Thanh Quan) và trút nỗi buồn
giận, trách hờn, tiếc, hụt của mình vào những lá đơn...
III -Từ cõi chết trở về:
6
năm ôm đơn đi kiện, với đầy đủ các bằng chứng oan sai, nguỵ tạo phía
nhà trường, từ việc đối xử không công bằng giữa chị và 7 đồng nghiệp
của trường, người về chậm cả nửa năm thì chỉ bị khiển trách trước toàn
trường rồi vẫn được bố trí công tác giảng dạy (Đặng Đức Cường, giảng
viên bộ môn ngoại ngữ - tự ý ở lại nước ngoài để học tập khi chưa được
sự đồng ý của trường). Người lên chức chủ nhiệm khoa (Lưu Văn Bội -
giảng viên khoa hoá học đi nước ngoài làm nghiên cứu sinh quá thời hạn
cho phép, đã bị đưa ra khỏi danh sách biên chế của trường ngày 25-5 năm
1999 trong phiên họp kỷ luật của nhà trường, song ngày 15/6/1999, nghĩa
là chỉ sau ít ngày lại được hội đồng kỷ luật chấp nhân bác bỏ quyết
định kỷ luật để được ra hạn đến hết 30-6-1999, sau đó được trở lại vị
trí công tác và từng bước leo dần lên chức vụ cao nhất của khoa hiện
nay là chủ nhiệm khoa), riêng chị chỉ về chậm 1 tuần lại bị buộc phải
thôi việc. Hơn nữa còn cố tình lợi dụng lúc chị đang bấn loạn tâm thần,
con ốm, bố chết, bản thân hoang mang dao động, hốt hoảng trước tương
lai, mà chủ nhiệm khoa, cán bộ tổ chức, ban giám đốc nhà trường đã cùng
xúm vào dùng mưu ma chước quỷ để trong 6 tháng dồn bằng được chị vào
bẫy đã giăng sẵn, viết đơn xin nghỉ chế độ 1 lần để vớt vát chút tiền
còm sau 19 năm 7 tháng công tác.
Đã thế khi biết chị quá thất
vọng phải viết đơn đi kiện thì giáo sư tiến sĩ khoa học Đào Trọng Thi
(giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội) còn cố tình ra quyết định số
32/QD-DHQGHN để phủ nhận toàn bộ nội dung khiếu nại của chị, cho rằng
nhà trường không hề có quyết định kỷ luật buộc chị phải thôi việc mà
hoàn toàn do chị tự nguyện viết đơn để vừa toàn tâm chăm sóc gia đình,
vừa có thế ra ngoài làm kinh tế tư nhân. Chưa đủ, lãnh đạo còn tiếp tục
rêu rao: Nhà trường giải quyết cho chị như thế là quá nhân đạo thoả
đáng, vì tuy có năng lực, nhưng chuyên môn của chị không phù hợp với
chương trình giảng dạy taị trường v.v và v.v.
Không buộc chị
dừng vụ việc lại được, ông quyết định cho chị trắng mắt, trắng tay một
phen bằng cách khẳng định trên điện thoại khi gọi đến nhà: Nếu chị còn
tiếp tục đội đơn khiếu kiện tôi sẽ cho thu hồi số tiền 8 triệu vì đó là
sự thất thoát tiền của nhà nước(!)
Sau đó, ngọt ngào và man trá
hơn ông cho huỷ bỏ các quyết định cũ trong việc xử lý vi phạm của chị
để tiến hành lại từ đầu theo đúng quy định, trình tự, thủ tục và vận
dụng văn bản trong quá trình xử lý vi phạm chưa chính xác.
Thế
là 1 lần nữa cái bẫy lại được giăng ra. Thoạt đọc qua, ai cũng nghĩ yêu
cầu của chị đã được nhà trường chấp thuận 1 cách thoả đáng, sẽ không có
kỷ luật gì hết mà sẽ xem xét vụ việc lại một cách khách quan, theo
hướng có lợi cho chị, biết đâu chị lại được phục hồi lại mọi quyền
lợi...
Song sâu xa bên trong là nút thòng lọng treo cứng cuộc
đời chị trên giá treo cổ- vì ông ta đã ngấm ngầm đưa ra văn bản số
428/BNV-CCVC của bộ nội vụ nhằm loại trừ chị ra khỏi biên chế vĩnh viễn
mà không phải trả cho chị bất cứ một đồng nào dù là quỹ của bảo hiểm xã
hội, dù là số tiền chị được nhận về lớn hơn rất nhiều so với cái giá
nhỏ giọt 8 triệu cho gần 20 năm công tác, cống hiến (Hơn 400 nghìn
VND/năm) quy đổi ra đô la Mỹ là vừa xoẳn 25 đô/năm.
...Sáu năm
trời, bao nhiêu bộ đơn đã gửi đi cũng là bấy nhiều tế bào thần kinh
trong chị chết trong lặng lẽ, không có cơ hồi sinh vì đơn từ không hề
được động chạm... trừ công văn "băm hai" (32) băm cả hai nguyện vọng
của chị: Được trở lại bục giảng dù là khoa hoá hay khoa sinh, dạy hoá
vô cơ hay tiếng anh, vừa làm rõ nỗi oan khuất của mình: Không hề bỏ bê
công tác, cũng không vô kỷ luật, vi phạm đạo đức tư cách khi được nước
bạn gia hạn thêm 4 tháng (từ tháng 7 đến tháng 11-1998).
Càng
theo đuổi càng dậm chân tại chỗ... càng tuyệt vọng, chị quyết định
tuyệt thực để phản đối sai lầm của lãnh đạo trường Đại học Quốc Gia Hà
Nội. Một ngôi trường được coi là trọng điểm và chuẩn mực nhất nước mà
tồn tại biết bao vụ việc oan sai, nào vụ của chị từ 1999, vụ tập thể
gồm 123 giảng viên từ 2002 trong việc phân đất, cấp nhà, nổi tiếng khắp
nước, đến mức người dân tự gọi chệch thành Đại học quốc gian...
Trước
khi bước vaò trận đấu tranh mà không biết tương lai như thế nào, chị sẽ
trở về chói lọi, trở thành giảng viên của trường và được phép giảng dạy
trong 5 năm tới (Khi có quyết định nghỉ hưu) hay bước hẳn vaò cõi tối
đen thăm thẳm mịt mờ nơi thần chết đang rình rập đón bắt, chị viết đơn
tới thủ tướng bù nhìn Phan Văn Khải và đi tới 20 tờ báo lớn trong thành
phố như Tiền Phong, Phụ Nữ, Lao Động v.v để đánh động dư luận, nhờ dư
luận ủng hộ, 4 trong số 20 tờ báo đã cất lên tiếng nói của chị trong
quyết định không hề "rồ dại" này. Tuyệt thực để có cuộc đời... thực là
tuyệt như 19 năm trước chị đã từng đảm nhiệm, hoặc chết trong danh dự,
còn hơn là sống một cuộc sống vật vờ tạm bợ, cả khối lượng kiến thức
thu gom được bao nhiêu năm bỗng hoá thành dã tràng xe cát, Gần cả cuộc
đời toả sáng, cống hiến...bỗng chốc lặng tắt, hệt như giun như dế mù
loà, đang từ ngợi ca công lao thành tích, bỗng thành bôi đen như mực
tàu, đêm tối...
Ngày đầu tiên trôi qua trong sự nghi ngờ của mọi người:
- Ôi dào, lại là thói đàn bà trẻ con, doạ được vài ngày rồi lại phải...bội thực ngay ấy mà.
Ngày thứ 2, thứ 3, dư luận vẫn im lìm câm nín:
-Tuyệt thực à, thì cứ...việc, Nhịn đói 2,3 ngày đã là cái quái gì?
Ngày
thứ 3, 4 rồi tuần đầu trôi qua, chị vẫn không chịu lùi bước trước những
cám dỗ vật chất, dù hàng ngày chị vẫn tự tay vào bếp để gia giảm xào
nấu những món ăn cho chồng, con - nhằm kéo dài dấu nối hạnh phúc trong
gia đình
Ngày 10, 12, cả ba người thân yêu nhất là chồng và con,
biết rõ chị đang ở bến bờ của sự sống và cái chết đều xúm vào khuyên
can, năn nỉ, khóc lóc để chị dừng lại, đừng dại dột hy sinh thân mình
một cách vô ích như thế, cho dù không sống để mà ăn nhưng vẫn phải ăn
để mà sống, chứ ai cũng công to việc lớn cả, có ai đoái hoài tới một
người sắp chết như chị đâu?
Mặc kệ, mục đích chưa đạt được, chị
tiếp tục thực hiện nguyện ước của mình - phải qua cách đấu tranh này -
dù phải chết - để những số phận tri thưc như chị không bị đối xử 1 cách
bất công, oan trái. Người tài phải được trọng dụng, nguyên khí quốc gia
phải được phát triển. Kẻo trong ngôi đền trí thức của nước nhà đã có
biết bao tài năng phải hư hao lụi tàn, nhường chỗ cho cỏ giả phát
triển...
Ngày 15, 16, rồi 17, chị có cảm giác không muốn bước,
mắt mờ chân chậm, hai đầu gối reo hát trên nền gạch, chỉ đi một quãng
ngắn xuống bếp xem người giúp việc tái chế món ăn cho chồng, con ra
sao, hay ra nhà vệ sinh mà cũng phải vịn tay vào tường, mắt nở hoa cà
hoa cải, thở dốc từng hồi, tim đập yếu ớt vô vọng... nghe văng vẳng
tiếng gọi của bố đẻ ở đâu đây
Ngày 19, 20 rồi 21, chị chỉ còn
nằm thoi thóp trên giường thở ô xy, cả chồng và hai con khóc hết nước
mắt, thương mẹ đến thắt ruột quặn gan mà không có cách nào ngăn mẹ lại
được, bao nhiêu nước cháo, nước cam, cháo loãng, chị đều mím miệng đến
bật máu chứ nhát định không chịu nuốt. Thà chết vinh còn hơn sống nhục.
Sống mà không được khẳng định mình, toả sáng cho gia đình người thân,
cứ cam chịu oan sai khổ ải cho đến hết đời thì thà... tự lịm tắt còn
hơn.
Đúng vào lúc này, khi ranh giới của sự sống và cái chết sắp
nhập nhoà thành một, vĩnh viễn quên tiếng trời, nói tiếng đất thì những
tin vui đã lần lượt đến bên giường đậu vào hai bình ô xy để báo tin chị
đã thắng lợi. Đầu tiên là sự góp mặt của 5 tờ báo, sau đó là cuộc thăm
hỏi của hàng chục chị em phụ nữ trong hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam,
tiếng nói đanh thép của bà Hà thị Khiết, yêu cầu trường Đại học Quốc
gia phải trả lại mọi quyền lợi chính đáng cho chị, phải trọng dụng một
người tài, tha thiết với nghề như chị, dù bất cứ lý do gì, sau đó là
tiếng đáp của ban tổ chức trung ương Đảng, văn phòng chính phủ... Buộc
lãnh đạo trường Đại học Quốc Gia Hà Nội phải lập tức khôi phục lại chức
vụ giảng viên, thạc sĩ cho chị, đưa chị trở về bục giảng v.v...
Cho
đến lúc này chị đã bước sang ngày thứ 6 của việc hồi phục, sút mất 9
ký, gầy đen như quỷ đói, mắt mờ, chân run, nhưng sự sống đã dần dần trở
lại trên từng tia nhìn, khoé miệng của chị, từ việc chỉ được uống nước
gạo rang cầm hơi, chị đã chuyển sang uống sữa Ensure (Mỹ), cháo gạo lức
rồi thìa cơm đầu tiên v.v, khi bạn bè đến chị đã ngồi dạy trò chuyện và
có thể vui chân tiễn bạn ra tận cửa, cũng vĩnh viễn thoát khỏi sự ám
ảnh của hai bình ô xy.
Hy vọng năm học 2007-2008 này chị sẽ có mặt trên bục giảng của trường Đại học Quốc gia Hà Nội.
Cuộc
đấu tranh của chị có kết cục... thực là tuyệt, giúp cho bao nhiêu trí
thức nước nhà không phải sống cảnh "trùm chăn", tránh đâu nữa mà lặng
lẽ vào cuộc, tự thắp sáng lên ngọn lửa niềm tin cho chính bản thân
mình, tìm đến một kết thúc có hậu, có lẽ phải niềm tin ở đời.
Phố Bà Huyện Thanh Quan 7-5-2006.
Phóng viên VNN tại Hà Nội
Nguyễn Thái Bình
Trần thị Thanh Hằng