Dân
chúng Miền Nam Việt Nam đã trải qua 31 năm sống dưới chế độ Cộng Sản.
Hai thế hệ sau họ cũng đã ra đời và đang trưởng thành, ấy vậy mà tiếng
súng vẫn còn nổ trên công luận người Việt Nam ở hải ngoại khi họ chuẩn
bị tưởng niệm thảm kịch. Nhưng trong 31 năm qua, trong các buổi tưởng
niệm vẫn thiếu tiếng xin lỗi của những nhân vật lãnh đạo thực sự có
trách nhiệm góp phần vào việc làm suy yếu miền
Thực
tình trước đây tôi không hề chú ý đến những cuốn sách hồi ký, hồi ức
của mấy ổng. Nhưng sau này, tôi thấy hễ động một chút xíu là bao nhiêu
tội đổ lên đầu một người chỉ làm tổng thống có một ngày rưỡi, nên cũng
mày mò đọc xem các ông ấy viết những gì trong hồi ký. Và sau đây là
những điều tôi tìm thấy trong cuốn hồi ký của một trong hai ông tướng
nhiều sao nhất VNCH: Ðại Tướng Cao Văn Viên. Ở các trang 225, 226,
trong cuốn “Những ngày cuối của Việt Nam Cộng Hòa” tác giả Cao Văn Viên
viết về lý do có cuộc di tản tháo chạy như thế này đây:
[Những
ai tin vào sự liên hiệp với Cộng Sản, nghĩ sẽ có cuộc ngưng bắn trong
vòng 24 tiếng sau khi ông Dương Văn Minh nhậm chức Tổng Thống. Ðối với
những người không bao giờ muốn liên hiệp với Cộng Sản, ngày ông Dương
Văn Minh nhậm chức là ngày họ quyết định bỏ nước ra đi. Ðối với họ một
chương sử của quốc gia đã kết thúc. Một chương sử đã viết bằng máu của
hàng trăm ngàn quân nhân đổ ra chiến đấu cho lý tưởng. Những người lính
này sau khi Tổng Thống Thiệu từ chức, họ vẫn tiếp tục chiến đấu, hy
vọng cầm cự cho tới giờ phút chót. Không phải họ trung thành với ông
Thiệu, họ chỉ chiến đấu cho một lý tưởng họ theo đuổi và bảo vệ bằng
máu từ lâu. Bây giờ một trang sử đã lật qua, họ không thể nào ở lại đây
(ở lại Miền Nam Việt
Trời
đất ạ, đây là lời lẽ của một ông tướng của một nước nào đó ở Phi Châu
hay là lời lẽ của một tướng đã từng là Tư Lệnh một sư đoàn Nhảy Dù và
rồi Tổng Tham Mưu Trưởng của quân lực Việt Nam Cộng Hòa? Ông đã đeo đến
4 sao. Không biết hay ông giả vờ không biết rằng, người ta đã lặng lẽ
trốn từ trước lúc ông Thiệu đọc diễn văn từ chức và công khai bỏ đi
ngay sau khi ông ta từ chức chứ không phải đợi đến khi ông Dương Văn
Minh từ chức, lý tưởng bị “bể” rồi mới ra đi. Ngày xưa, thân làm tướng
thường chết theo thành. Thời thịnh thì ông mũ áo xênh xang, đến khi đất
nước nguy nan thì bỏ đi tìm sự an toàn cho cá nhân mình. Chữ “họ” mà
ông Ðại Tướng viết ở đây là ý nói dân chúng hay là một số tướng lãnh
VNCH đào ngũ trước địch quân. Nếu ông dùng chữ “họ” để chỉ dân chúng
thì còn có thể biện minh được, nhưng nếu ông dùng từ này để chỉ nhóm
các ông thì khó chấp nhận. Lý do: Các Tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn
Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Phạm Văn Phú, Trần Văn Hai và Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn
chắc cũng thừa lý trí để suy nghĩ như ông chứ. Họ cũng có thừa phương
tiện để ra đi, nhưng sao họ vẫn ở lại? Tôi nghĩ lẽ ra cựu Ðại Tướng Cao
Văn Viên không nên viết những suy nghĩ này của ông trong hồi ký, bởi vì
viết như thế không những là một điều sỉ nhục chung cho giới tướng lãnh
còn giữ được sĩ khí và phải chịu mang thân tù tội một thời gian gian
dài, rất dài. Bao nhiêu triệu dân Miền Nam Việt Nam kẹt không đi được
hay không muốn đi đâu phải là họ tin người Cộng Sản có thể liên hiệp và
thương lượng được? Tác giả viết như thế liệu có phản ảnh đúng tình
huống lúc đó không?
Trên trang 257, lời bạt của cuốn “Những Ngày Cuối Cùng Của Việt Nam Cộng Hòa”, tác giả Cao Văn Viên viết:
[Tối
Chủ Nhật 27-4-1975, sau khi Quốc Hội biểu quyết trao quyền lại cho ông
Dương Văn Minh, vì thời gian gấp rút, theo hệ thống quân giai, tác giả
(tôi) trình miệng với Trung Tướng Trần Văn Ðôn đang là Tổng Trưởng Quốc
Phòng trong nội các của Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn trình lên Tổng Thống
Trần Văn Hương nguyện vọng được về hưu mà tác giả đã xin từ năm năm về
trước. Tổng Thống Trần Văn Hương biết rõ chuyện này nên đã ký sắc lệnh
cho tôi về hưu. Ông Nguyễn Thạch Vân, phụ tá Tổng Thống hiện đang sống
ở bên Pháp biết rõ chuyện này.]
Năm
năm trước ngày 30-4-1975, tức là vào năm 1970, lúc đó VNCH vẫn còn vững
vàng vì vẫn còn những cam kết của người Mỹ, chức Tổng Tham Mưu Trưởng
và với 4 sao trên cổ áo, quyền hành của ông lớn lắm. Ông xin nghỉ hưu
non như thế chắc là phải có chuyện gì hệ trọng, nếu không được về hưu
mà còn bị ở lại quân đội đến 5 năm trong chức vụ quan trọng đó sao ông
không khiếu nại và áp lực họ phải cho ông nghỉ? Tổng Thống Thiệu không
cho ông về hưu? Bộ Quốc Phòng bác đơn vì ông là nhân vật không thể thay
thế được? Năm năm đó ông làm việc trong sự bất mãn? Hay sau đó, ông
Thiệu đã giải quyết những bất mãn của ông nên ông ở lại chức vụ và chỉ
đến khi nhìn thấy rõ tình hình không xơ múi gì được nữa ông mời nhắc
Tổng Thống Trần Văn Hương ba ngày trước phút hấp hối của Việt Nam Cộng
Hòa đơn xin của 5 năm trước. Ông không về hưu để ở lại với các đồng đội
cựu chiến binh của ông, mà ông xin về hưu để ông ra đi cho hợp pháp và
tránh bia miệng trong giới tướng lãnh VNCH? Cũng trên trang 257, ông
viết về giây phút ấy:
[Tác
giả (tôi) không hợp tác với tướng Minh vì ông ta có ý định giết tác giả
trong cuộc đảo chánh ngày 1-11-1963. Tác giả cũng không thể phục vụ cho
một chánh phủ liên hiệp và lý do quyết định nhất là đã ở chức vụ này
quá lâu (gần 10 năm), sức khỏe kém và đã xin về hưu 3 lần rồi. Khi biết
đã được phép giải ngũ, tác giả liên lạc với Phòng Tùy Viên Quân Sự Hoa
Kỳ (DAO) để xin di tản ra Ðệ Thất Hạm Ðội. Khi rời Việt Nam tác giả mặc
thường phục vì đã về hưu, không chào quân cảnh gác cơ sở, không ai mở
cửa thang máy cho tác giả vì trực thăng đậu trên mặt đất trong sân của
DAO, và cũng không vui mừng như đứa con nít như có kẻ ác ý xuyên tạc.]
Trước
ngày ông tướng 4 sao này rời bỏ Việt Nam, Sirik Matak Chủ tịch Quốc Hội
Camdodia thời Lon Nol đã từ văn phòng trở về nhà. Ông ngồi chở bọn
Khmer Ðỏ đến bắt. Chúng lôi ông ra chặt đầu. Gia đình ông cho biết, Ðại
sứ Mỹ ở Phnom Pênh cũng đề nghị ông di tản trước ngày 15-4-1975, nhưng
ông khước từ. Sau khi cựu Ðại Tướng Viên rời Việt Nam 3 ngày, các Tướng
Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ, Phạm Văn Phú
tuẫn tiết và Ðại tá Hồ Ngọc Cẩn bị bọn Cộng Sản xử tử. Ông ra đi có vẻ
hợp pháp vì đã được một tổng thống ở trong chức vụ có mấy ngày ký sắc
lệnh cho giải ngũ. Giải ngũ kiểu này thì cũng giống như “giải ngũ chạy
tang” mà thôi. Chi tiết ông mặc quân phục hay không mặc không thành vấn
đề bởi vì dù ông có mặc quân phục thì khi ra tàu, họ cũng yêu cầu ông
lột quân phục ra. Tôi nghĩ rằng, ông ra đi là quyền của ông, cũng như
bao nhiều người dân khác. Chỉ có khác một điều là trước khi ông thành
dân thường vào ngày 27-4-1975, ông đã là người lãnh đạo quân đội, không
phải thiếu tá, trung tá hay đại tá mà là một tướng 4 sao duy nhất của
quân lực VNCH còn đương quyền. Cái khác đó, lẽ ra cũng buộc ông phải xử
thế khác người dân thường. Ông ở Hoa Kỳ chắc ông không biết rằng trong
hàng ngàn trại cải tạo, những người lính thất trận của ông vẫn gọi nhau
bằng cấp bậc, vẫn tôn ti trật tự và bảo được nhau. Chẳng để làm gì cả,
chỉ để cho kẻ thù dù có ghét nhưng không khinh ta được.
Tuy
nhiên, theo thiển ý của tôi, ông đi thì cứ việc đi nhưng đừng gài thêm
lý do ông không hợp tác với ông Dương Văn Minh. Ông không còn là tướng
nữa vì ông bị chính phủ VNCH buộc phải giải ngũ lâu rồi. Trước đó ông
có tham dự vào cuộc đảo chánh lật đổ anh em ông Ngô Ðình Diệm, làm quốc
trưởng được vài tháng rồi bị hạ bệ, đưa đi làm Ðại sứ. Nhưng cảnh làm
đại sứ của ông ta cũng ai oán lắm, bởi vì một ông tướng 4 sao được đưa
đi làm đại diện cho VNCH ở nước ngoài mà bị cấm trở về nước. Không cần
biết lý do ngầm của sự tranh chấp ra sao, nhưng chỉ nội cách đối xử với
nhau như vậy cũng đủ khiến lòng tin của quần chúng vào chế độ bị ảnh
hưởng như thế nào.
Ngoài chuyện vừa kể ông còn “chơi” thêm một đòn vào người đã chết. Ở trang 258, tác giả Cao Văn Viên viết:
[Tiện
đây có mấy việc cũ cần được nêu lên cho chính xác: Trưa ngày 1-11-1963
khi trình diện tại Bộ Tổng Tham Mưu để nhận lệnh hành quân (lúc đó tác
giả là Ðại Tá Tư Lệnh Lữ Ðoàn Nhảy Dù), tác giả (Cao Văn Viên) được đưa
lên gặp tướng Dương Văn Minh thay vì tướng Trần Thiện Khiêm (Tham Mưu
Trưởng Liên Quân) như thường lệ.
Tướng Minh hỏi: “Tụi moi đảo chánh, toa nghĩ sao?”
Tác giả trả lời “Ðảo chánh là một quốc gia đại sự, sao tới giờ phút này, Trung tướng mới cho tôi hay?”
Ðó
là nguyên văn câu hỏi và câu trả lời không hơn không kém. Trong khi đó
một sĩ quan tùy viên của tướng Minh chĩa súng carbin vào lưng tác giả.
Vài phút sau Ðại Tá Ðỗ Mậu (Giám Ðốc An Ninh Quân Ðội) kêu tác giả lên
Ðài Phát Thanh tuyên bố theo phe đảo chánh. Tác giả bị giam tại Bộ Tổng
Tham Mưu và chỉ thoát chết trong đường tơ kẽ tóc nhờ cảm tình của một
số tướng tá (theo phe đảo chánh) và sự can thiệp của vợ mình. Sáng
2-11, tác giả được trả tự do ra về]
Ðoạn
này chẳng có liên hệ gì đến chuyện những ngày cuối cùng của VNCH cả.
Nhưng khi đọc ai cũng hiểu là nó giúp mọi người hiểu rõ hơn mối liên hệ
giữa tác giả Cao Văn Viên và Tướng Dương Văn Minh từ những năm đầu của
VNCH, cho nên tác giả vì lo sợ nên đã không muốn cộng tác với Dương Văn
Minh sau ngày 28-4-1975, và vì lo sợ nên dù giải ngũ, tác giả cũng vẫn
không thể ở lại được. Có lẽ đây là chuyện thâm cung bí sử, ít người
biết được. Nhưng nếu là chuyện thâm cung bí sử thì nó là thâm cung bí
sử, không hẳn là những điều đã được kiểm chứng, vì những nhân chứng
chính là Dương Văn Minh và Ðỗ Mậu thì đều đã qua đời. Người chết làm
sao biện minh?
Trên
đây là mấy điểm thắc mắc và tôi nêu ra. Còn rất nhiều mâu thuẫn khác
trong cuốn hồi ký của tác giả Cao Văn Viên cân phải đối chiếu với những
tài liệu khác, tôi sẽ có dịp trình bày. Tôi khẳng định tôi là một cựu
binh, vẫn còn giữ được chất lính nên tôi thẳng thắn trình bày vấn đề và
hy vọng rằng, những tác giả nào viết hồi tưởng về 30-4 sẽ cân nhắc, đối
chiếu tài liệu và tránh biện minh cho mình quá nhiều. Biện minh là một
thứ quyền ở Hoa Kỳ, nhưng biện minh bằng cách đổ lỗi cho người khác thì
là điều không nên chút nào.
| LTS: Ý kiến bày tỏ trên trang Diễn Ðàn là của các tác giả, không nhất thiết phản ảnh quan điểm của nhật báo Người Việt và Người Việt Online. |