Theo Đàn Chim Việt - Nguyễn Văn Lục - 10-07-2006
Về một trường hợp viết sử thiếu trung thực
Về tước Tức mặc Hầu của nghiên mực.
Đây là chỗ để ta bàn cãi thêm, vì còn có những điểm tồn nghi. Trong bài viết của Tự Đức có ghi như sau
“Dans notre admiration, nous l’anoblissons du titre marquis de Tức Mặc
(Tự Đức chú thích thêm Le Thạch hư Trung était un encrier dont la
surface se présentait parfaitement plane. Il fut élevé à la dignité de
Tức mặc Hầu (Marquis de Tức Mặc)”. Câu đó có nghĩa cho thấy Vua Tự
Đức đã đặt tên Tức mặc Hầu cho nghiên mực, chứ không thể là ông Diệm.
Ông Diệm không có tư cách và thế giá gì để đặt tước hiệu cho nghiên
mực. Chỉ có vua mới có cái quyền ấy và phải đi đến kết luận, chính tay vua đã viết bài văn ấy. Giải thích và gán cho cụ Diệm viết bài nghiên cứu trên như cụ Sển là không đúng.
Hơn nữa, trong một chú thích về nghiên mực đọc được trong BDADVH có ghi
rõ Vua Tự Đức đặt tên Tức mạc Hầu cho nghiên mực, đồng thời chính tay
ghi chữ vàng vào đáy nghiên mực. Cho dầu vậy, việc đặt tên cũng chỉ dựa
trên một thói quen, dựa trên điển cố của Tầu đã có sẵn, không phải điều
gì mới mẻ. Thấy cái nghiên quý thì theo thói quen dùng một điển cố có
sẵn để gọi. Tức Mặc Hầu như thế rất có thể chỉ là một tước hiệu theo
thói quen đã được nhiều người quen dùng đăt cho một nghiên mực quý. (1)
Trong bài viết của ông Nguyễn Thiệu Lâu cũng cho rằng Tức Mặc Hầu có sẵn trong điển tích “Có một điển tích, ấy là thời xưa phong cái nghiên là tức mặc hầu. Nghiên tức là Tức Mặc Hầu” (Trích dẫn Hơn nửa đời hư, Vương hồng Sển, trang 502).
Như vậy, theo vua Tự Đức và theo cụ Nguyễn Thiệu Lâu, cái nghiên
được gọi là Tức mặc Hầu chỉ là dựa trên một điển cố đã có sẵn của Tầu
để chỉ thị một cái nghiên quý.
Nhưng trong bài viết của cụ Vương Hồng Sển, mặc dầu cụ là bậc cao vọng,
nhưng theo thói quen của cụ ưa tán rộng bàn thêm, đôi lúc viết cương
nên có thể đi xa sự thực? Đọc thì vui lấy làm thích thú, nhưng xét lại
thấy thiếu sự chính xác, sự chín chắn của một người viết khảo cổ mà
từng chi tiết cần được cân nhắc, so sánh, suy nghĩ cẩn thận. Xin bắt
buộc có đôi lời nhận xét có vẻ thô kệch và lỗ mãng như vậy đối với một
vị tiền bối, một học giả mà dưới mắt ông Nguyễn Đắc Xuân là bậc thầy
khả kính. Nhưng theo dõi cách trình bầy của người viết, bạn đọc sẽ thấy
điều nhận xét của người viết không phải là ngoa ngôn, cuồng vọng đâu.
Theo cụ Sển, cái nghiên có nhiều đặc điểm quí hóa quá đôi lúc ông gọi là “nghiên mực tiên”,
lạ lùng quá sức tưởng tượng nên mới được vua Tự Đức nhân cách hoá phong
tước Tức mặc Hầu. Xin trích dẫn bài của cụ Vương Hồng Sển với những câu
văn viết mâu thuẫn: Tôi cầm nghiên mực mà suy nghĩ mông lung, ban
đầu tôi lật bề trái xem trước, và đây cũng là méo mó nghề nghiệp, thuở
nay nghề chơi đĩa xưa dạy hễ gặp thứ gì hay thì lật đít xem trước, đọc
ký hiệu nếu là đồ cổ, hoặc tìm gì nếu đó là thiên kim giai nhân. Dưới
đáy nghiên là một bài văn ngự chế của đức Dực tôn, đề cao đặc tính
của nghiên tức mặc hầu. Chữ khắc nổi, mạ vàng lên mặt chữ, sắc sảo
không thể tả, tiếc vì tôi chỉ biết mò bằng tay và khen tấm tắc, chớ
không biết khen bằng mắt vì mắt không đọc được chữ nào. Lúc đó, có thâu vào máy ảnh, chữ tế vi quá nên không đọc được chữ nào, vả lại ngày nay ảnh cũng mất, khen cũng như không.
Bạn đọc câu trích dẫn trên thấy có sự mâu thuẫn của cụ Sển. Khen
thay cho cái tài dí dỏm của cụ. Cụ không đọc được vì chữ nhỏ quá, chỉ
dờ bằng tay, chụp ảnh cũng không đọc được vì chữ tế vi quá. Nhưng cụ
lại biết được nội dung bài ngự chế ở đáy nghiên. Nội dung bài chế ngự
là đề cao đặc tính của nghiên.Vậy là cụ đã biết trước đáy nghiên viết gì rồi? Chỉ có điều đặc tính của nghiên mực lại khắc ở mặt ngang nghiên mực như ông Diệm đã dịch chứ không phải đáy nghiên.
Cho nên lời phát biểu chữ khắc sắc sảo không thể tả được của cụ Sển
cuối cùng chỉ là hoa từ, tán rộng..Một bằng cớ hiển nhiên là trước đó
vài trang, chính cụ thú nhận không biết chữ Nho , vì ông cụ thân sinh
không cho học. “Dạ thưa Tổng Thống, đó là tôi thuộc lòng vì quá
quen mặt với tô này, chớ về chữ Nho, tôi vẫn dốt, vì cha tôi không cho
tôi học chữ ấy từ lúc nhỏ” (Trích Nửa đời hư, trang 459). Vì thế cụ
mù tịt chữ Nho. Dù có sáng mắt, cụ cũng không hiểu bài ngự chế viết gì?
Tất cả đoạn văn nội dung đã được viết phóng mà thôi.
Kể ra cụ đến là tắc trách. Đi xem một cổ vật mà một tay nhà nghề như cụ
ít ra cũng phải mang theo dụng cụ tối thiểu như thước đo cự ly, cân
tiểu ly, kính lúp, máy ảnh vv.. Cụ không có kính lúp, không đọc được,
nhưng cụ lại biết nội dung bài chế ngự. Thật sự nội dung đặc tính
nghiên mực không nằm ở đáy như cụ xác nhận, nhưng khắc nổi ở mặt ngang.
Xin trích dẫn đoạn tả chữ khắc của vua Tự Đức Sur les faces latérales de l’encrier
sont gravés en lettres D1or ces deux phrases:Il ne présente aucune
défectuosité, ni la médisance, ni la perversité ne pourront l’entamer. Mặt đáy và mặt ngang khác hẳn nhau. Làm sao cụ có thể nhầm lẫn như thế được?
Riêng bài ngự chế, khắc dưới đít nghiên mực trong đó nhà vua tiên đoán
nghiên mực là đem lại sự tiến bộ cho văn chương, tiên đoán sự lớn mạnh
của xã tắc, sự thịnh vượng của chính chính quyền.. Nó sẽ đem lại một sự
nâng đỡ hữu hiệu cho việc giáo dục dân chúng. Nó là di sản mà thế hệ
sau chúng ta có bổn phận phải bảo tồn mãi mãi.
Trước khi kết luận tại sao nghiên mực được phong tước hầu, cụ Sển còn
tiếp tục phô trương đặc tính của nó đến độ dù có dễ tính lắm cũng khó
mà chấp nhận được. Cụ viết: Vua
Tự đức là ông vua hay chữ nên những gì thuộc văn phòng tứ bảo, ông hết
sức tâng tiu… Ông có nghiên mực làm bằng đá Đoan Khê, ông rất ưng ý đến
nỗi phong nghiên mực chức là Tức mặc Hầu. Một cục đá mài mực, vì biết
dâng mực cho ông cấp kỳ theo ý ông muốn. Cụ Sển theo hứng phóng bút viết tiếp: Tôi
vừa định hoàn lại ông Đào (Cụ Tôn thất Đào), nhưng ông biết ý nói nhỏ
vào tai tôi “Đâu cụ thổi mạnh một hơi vào, coi nào”. Tôi vâng lời, nâng
nghiên mực lên gần sát mặt, và thổi một hơi dài lên chỗ mài mực. Thổi
rồi, tôi giật mình, hết sức ngạc nhiên, vì dưới ánh sáng mặt trời rọi
vào chỗ tôi đứng, tôi thấy hơi thở trên nghiên mực đã thành một lằn
mống ngũ sắc, đang từ từ chạy lên xuống trên mặt nghiên, rồi vụt biến
mất. Ông Đào cười, bảo tôi lấy ngón tay quệt thử trên nghiên, quả đầu ngón tay tôi ướt đẫm những mực, không khác tôi đã nhúng tay vào mực do ai mài sẵn hồi nào không hay...
Đằng này, trước khi tôi hà hơi vào thì rõ ràng cục đá vẫn khô ráo cho
nên tôi cầm nó mà không bẩn tay, thế mà tại sao khi có chút hơi “cầm
thực” thổi vào để mượn sức thì tức khắc bảy tám chỗ cù dục nhãn
kia bèn thi hành phận sự và nương đà hơi thở của tôi mà tiết ra đủ số
nước cần thiết để làm cho có mực… Ô, sướng quá, thần bí quá, và quí hoá
quá. Phong tức mặc hầu thật đáng.
Trong bài viết của vua Tự Đức cũng nêu lên đặc tính ẩm của nghiên mực,
nhưng trong một chừng mực chấp nhận được: “On tente de faire de la
littérature, la moindre haleine caressant sa surface suffit à
l’humecter. Từ humecter trong tự điển dịch là mouiller légèrement như
humecter ses doights, chỉ nghiên mực tạo ra hơi ẩm. Nhưng từ chỗ đó
cung cấp mực cấp kỳ theo ý muốn, làm ướt đẫm tay. Đã thế các chỗ túi
mực được thể theo đà hơi của ông tiết ra đủ số mực cần thiết. Xin độc
giả ghi nhớ một điều, nghiên mực lúc vua Tự Đức hà hơi vào có thể vẫn
được dùng mỗi ngày. Còn nghiên mực lúc cụ Sển hà hơi có thể năm này qua
năm khác chưa được xử dụng một lần nào. Vậy mà nước ở đâu ra đẫm cả
tay. Chính cụ cầm nghiên mực thấy khô queo. Một chi tiết nữa là những
chỗ túi mực, vua Tự Đức nêu ra có 5 điểm trông giống mắt chim cù dục.
Trên bản vẽ của cụ Tôn thất Sa, người viết đếm được 4 điểm, có thể một
điểm không thấy rõ. Theo cụ Vương Hồng Sển, có đến 7, 8 điểm túi mực,
nước theo đà cứ thế chảy ra. Chả thế mà cụ phải kêu lên: Ô sướng quá, thần bí quá và quí hoá quá. Chẳng hiểu bằng cách nào cụ đếm dư ra như thế? Viết quá tải như thế thì làm sao tin được?
Trong bài viết của ông Nguyễn Đắc Xuân, dựa theo ý thầy của ông, thầy
nào trò đó, ông còn tưởng tượng đi đâu nghiên mực này cũng được Tự Đức
mang theo. Rồi khi thi hứng đến, vội vã đến không kịp sai thị nữ mài
mực, ngài chỉ việc hà hơi vào nghiên mực thì mớ mực cũ còn lại ướt lên
và ươm ra óng mướt đủ cho ngài dùng để ghi chép ý thơ và tạo ra những sáng tác đủ lại. Cuối cùng , ông Nguyễn Đắc Xuân kết luận: chiếc nghiên đã gắn liền với hơi thở của con người văn nhân Dực Tôn, với lịch sử Việt Nam nửa sau thế kỷ 19. Chẳng hiểu một chiếc nghiên mực đã gắn liền với lịch sử đất nước về điểm nào, lúc nào, gắn với cái gì. Ông viết tiếp: Nó biết dâng mực cấp kỳ theo ý muốn của vua nên được vua Dực Tôn phong quan với tước Hầu.
Tất cả ý kiến của hai người, theo người viết chỉ là câu chuyện tán dông
dài, không chuẩn mực, không cân nhắc và thiếu hẳn ý thức trách nhiệm về
điều mình viết.
Và nếu dựa theo cụ Sển thì phải đánh giá cái được gọi là sưu tầm đồ cổ
của cụ ở tầm mức nào? Có vẻ, cụ chỉ là tay chơi đồ cổ rất tài tử, rất
phóng khoáng, soi mói tìm tòi kể lại, huyễn hoặc câu truyện cho thêm
đậm đà. Vì thế, đọc cụ cần tỉnh táo để phân biệt cái nào là thực, cái
nào là hư. Cái hư thực như chính những món cổ vật vậy.
Về bức tranh mầu nước Aquarelle của cụ Tôn thất Sa
Bài viết của vua về nghiên mực dã dược ông Diệm dịch ra vào năm 1917 đã kèm trước đó như một bổ túc là bài của E. Gras tựa đề: Sur un encrier de Tự Đức.
Bài viết của E. Gras nhằm mô tả hình dáng cũng như cái hộp bên ngoài
đựng nghiên mực. Và phần quan trọng nhất là có cho in bức hình vẽ mầu
nước của cụ Tôn Thất Sa. Nhờ hình vẽ nầy và rất nhiều hình vẽ khác đã
giúp người tìm hiểu cổ vật có một số ý niệm căn bản về một cổ vật. Cụ
Sa là người vẽ các bức trướng, các cửa cung điện, các vạc, các đỉnh,
các súc vật như sư tử ngồi chầu, các bộ mũ áo dùng trong cung đình.
![]() |
| Nghiên mực của vua Tự Đức do cụ Tôn Thất Sa vẽ lại bằng màu nước Nguồn/Ảnh: Nguyễn Văn Lục/E. Gras |