Ngày 21-5-2006, từ Paris, Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam ra
thông cáo báo chí thương tiếc danh sĩ Jean-Francois Revel đã qua đời
ngày 30-4-2006. Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam cũng đồng thời
công bố bài phát biểu của ông tại cuộc hội luận "Đổi mới và Nhân quyền:
Việt Nam 20 năm sau" do Cơ sở Quê Mẹ tổ chức tại Paris vào đúng ngày
30.4.1995 tại trụ sở Lực lượng Thợ thuyền Pháp (Force Ouvrière).
Danh
sĩ Jean-Francois Revel là nhà văn và triết gia, Viện sĩ Hàn lâm viện
Pháp, thất lộc tại Paris vì bệnh tim ngày 30.4.2006, hưởng thọ 82 tuổi.
Ông đứng sừng sững trên nền học thuật Pháp và thế giới như con người
phản kháng độc hành theo phong thái Tocqueville và Raymond Aron trước
bao thói đời a dua và thời thượng. Có lần ông phát biểu: "Nếu ý nghĩa
triết học còn hiện hữu, thì điều đó chẳng khác chi ý nghĩa của nghệ
thuật, nghĩa là phát hiện sự dối trá".
Đọc một số tựa đề trên
30 tác phẩm của ông là thấy ngay sự phát hiện ấy: Pourquoi les
Philosophes? (Triết gia để làm gì?), Ni Marx ni Jésus (Không Marx cũng
không Jésus), La tentation totalitaire (Sự rắp tâm cực quyền), Comment
les démocraties finissent (Các nền dân chủ chấm dứt ra sao), Le voleur
dans la maison vide (Kẻ cắp trong căn nhà trống), L'Obsession
anti-américaine (Ám ảnh chống Mỹ). Sách của ông được dịch ra nhiều thứ
tiếng trên thế giới.
Độc giả Việt Nam nhiều năm qua rất tâm đắc
với tác phẩm bán chạy kỷ lục mang tựa đề Le moine et le philosophe (Nhà
sư và Triết gia). Sách liên quan đến Phật giáo và cuộc đối thoại Đông
Tây. Một cuộc đối thoại tư tưởng giữa hai cha con. Cha là Jean-Francois
Revel, triết gia Tây phương. Con là Mathieu Ricard, tiến sĩ khoa học,
nhưng đã bỏ sự nghiệp khoa học lẫy lừng ở Viện Pasteur đi tu theo Phật
giáo Tây Tạng. Nhiều lần ông tháp tùng Đức Đạt lai Lạt ma qua Pháp và
Âu châu làm thông dịch và cố vấn.
Jean-Franois Revel cũng là nhà
báo, nhà bình luận nổi danh trên tuần san Express mà ông làm Chủ nhiệm
và sau sang viết cho tuần san Le Point. Luôn luôn đánh phá những quan
điểm lạc hậu, khai phá lối nhìn mới đầy sáng tạo và nhân bản. Trong lời
chia buồn, Tổng thống Pháp đã gọi Jean-François Revel là Người bảo vệ
không mỏi mệt cho Nhân phẩm, Người canh gác khó tính và chu đáo cho Dân
chủ.
Đối với Việt Nam, khi thế giới còn thụy miên, câm tiếng
trước một chế độ sắc máu độc tài bao phủ xuống miền Nam sau ngày
30.4.1975, thì Jean-Francois Revel là một trong vài trí thức hiếm hoi
của Pháp và thế giới lên tiếng bênh vực cho nhân quyền của người dân
Việt. Ông đã thực tâm hỗ trợ Cơ sở Quê Mẹ: Hành động cho Dân chủ Việt
Nam trong thời gian này, và là một trong những vị có tên trong đoàn Cố
vấn Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam.
Sự qua đời của ông là một mất mát lớn cho phong trào Dân chủ Thế giới.
Vì
đi hoạt động nuớc ngoài, được tin trễ, về lại Paris ông Võ Văn Ái đã
viết lời chia buồn gửi đến bà Revel, tức nhà văn nữ Claude Sarraute,
như sau:
"Thưa Bà,
"Từ ngoại quốc trở về, được tin ông
mất. Lòng tôi buồn vô hạn. Không riêng nước Pháp chịu mất mát, mà còn
là sự mất mát cho những ai yêu chuộng tự do và dân chủ, những ai sống
bằng tinh thần và tư tưởng trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói
riêng.
"Sau năm 1975, khi mà toàn thế giới chẳng ai đoái hoài
đến nạn độc tài toàn trị đổ chụp xuống Việt Nam, thì ông Jean-Francois
Revel là một trong những người hiếm hoi đầu tiên hậu thuẫn chúng tôi và
phá tan sự im lặng nặng nề trước những vi phạm nhân quyền trầm trọng.
Từ đó, ông luôn có mặt khi chúng tôi cần ông cố vấn, cần chữ ký cho
những chiến dịch quốc tế, hay cần sự tham gia của ông. Những ý kiến và
nhận xét, những lần tham luận của ông luôn sáng suốt và thống thiết.
"Chúng
tôi đã vinh dự biết bao khi ông nhận lời tham gia Cố vấn đoàn cho Ủy
ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam và cơ sở Quê Mẹ. Thật khó quên sự
hiến tặng trân quý và vô giá nầy.
"Nhân danh Cơ sở Quê Mẹ: Hành
động cho Dân chủ Việt Nam, Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam và
những người Việt Nam đấu tranh cho dân chủ, tôi xin biểu tỏ nơi đây
lòng tri ân của chúng tôi với lời chia buồn chân thực".
Đánh dấu
20 năm độc tài đàn áp dân lành, Cơ sở Quê Mẹ tổ chức tại Paris vào đúng
ngày 30.4.1995 tại trụ sở Lực lượng Thợ thuyền Pháp (Force Ouvrière)
cuộc hội luận "Đổi mới và Nhân quyền: Việt Nam 20 năm sau". Tham gia
cuộc hội luận này gồm có Jean-Francois Revel (triết gia và nhà văn),
Leonid Pliouchtch (nhà toán học và nhà văn Ukraine), André Glucksman
(triết gia và nhà văn), Olivier Todd (nhà văn, nhà báo), Robert Ménard
(Chủ tịch RSF, Phóng viên Không Biên giới), Patrick Baudoin (Chủ tịch
FIDH, Liên Đoàn Quốc tế Nhân quyền) và Võ Văn Ái.
Để tưởng niệm
Jean-François Revel, chúng tôi xin đăng tải dưới đây bản dịch Việt ngữ
lời phát biểu của ông trong cuộc hội luận hôm ấy. Năm năm đã trôi qua,
nhưng nhận định của Jean-François Revel còn nguyên giá trị tiên tri và
sắc bén trước thời cuộc hiện tại, thời điểm mà Tây phương vẫn mắc phải
những sai lầm cố hữu làm chậm tiến trình dân chủ tại Việt Nam.
Lời phát biểu của ông Jean-François Revel ngày 30.4.1995
Điều đáng chú ý trong vấn đề Việt Nam ngày nay, là chân nhận rằng, từ
phía các quốc gia dân chủ Tây phương có nền kỹ nghệ phát triển và các
quốc gia khác, chúng ta đang lập lại những sai lầm trước đây đối với
Liên Xô cũ, đặc biệt vào những năm 70, 80. Nhưng bây giờ thì khó miễn
thứ hơn.
Những sai lầm ấy là sai lầm gì? Sai lầm cơ bản là đã
liên hệ với chủ trương gọi là chính sách Hòa hoãn được cụ thể hóa qua
Hiệp ước Helsinki nhằm bày tỏ công khai việc chu cấp viện trợ kinh tế
cho Liên Xô và các nước chư hầu. Một mặt giải thích rằng, viện trợ sẽ
tiết chế chủ nghĩa đế quốc và quân phiệt Liên Xô, mặt khác làm gia tăng
sự tôn trọng nhân quyền mà có thể bất thần chuyển sang mức độ dân chủ
chính trị nào đó.
Đỉnh cao của chiến dịch này là Hiệp ước Helsinki năm 1975 mà kết quả là: Chúng ta thu đạt được gì?
Trên
lĩnh vực nhân quyền, Trời biết cho rằng biết bao người ở Tây phương đã
hoạt động, đã tranh đấu cho việc thực thi Hiệp ước Helsinki, bằng cách
liên hệ với các ủy ban Helsinki khác nhau bên Đông Âu. Nhưng đáp lại,
chúng ta chỉ biết rằng nhiều bệnh viện tâm thần hay bệnh viện đặc biệt
được xây cất nhiều gấp ba bốn lần hơn trước. Rồi còn xây thêm nhiều hơn
nữa, ngay cả sau khi bằng hữu chúng ta vượt thoát sang phương Tây tố
cáo, như trường hợp bạn Leonid Pliouchtch của chúng ta. Các bệnh viện
này do nhân vật lỗi lạc Andropov điều khiển, ông là Tổng bí thư tương
lai của Đảng Cộng sản Liên Xô.
Thế rồi, thay vì muốn chận đứng
chủ nghĩa đế quốc và quân phiệt, chúng ta bỗng chứng kiến từ Liên Xô sự
dàn hàng những tên lửa xuyên Âu trứ danh SS-20, chúng ta chứng kiến
Liên Xô xâm nhập vào một số quốc gia Phi châu như Ethiopie, Angola,
Mozambique để dựng lên các chế độ thao túng nạn diệt chủng. Cuốn sách
đáng ghi nhớ mà André Glucksman viết chung với Thierry Wolton báo động
về hiện trạng ở Ethiopie. Rồi tập đại thành cho những sự kiện ấy, hồng
quân Liên Xô xâm chiếm A Phú Hãn. Thành công đến thế là cùng, phải vậy
không!
Nhưng cuối cùng, không để hối lỗi mà để lấy cớ, chúng ta
đành nói: Phải biết rằng Liên Xô là một siêu cường chiến lược, và vì
thế trong sự cân bằng của sự khiếp sợ, chúng ta buộc lòng chấp nhận yếu
tố an ninh sơ cấp.
Còn một điều quá bí ẩn, là sự sụp đổ của đế
quốc Liên Xô trong cơ chế tập trung, quân sự và đế quốc, không mang
nghĩa chế độ độc tài toàn trị đã vĩnh viễn ra đi. Bởi vì ai cũng rõ,
nhiều nét của chế độ cũ còn giữ nguyên tại Liên bang Nga ngày nay.
Trong mọi trường hợp, sự sụp đổ một trung tâm thế giới mang sắc thái đế
quốc và độc tài toàn trị, lẽ ra phải giúp chúng ta thay đổi sâu xa tập
tính của các nền dân chủ Tây phương khi đứng trước các dinh lũy cũ, khi
đối phó các chư hầu cũ của Liên Xô. Bởi vì, nếu chúng ta thận trọng với
các quốc gia như Cuba, như Bắc Hàn hay như Việt Nam, là vì các nước này
nằm trong hệ thống Xô viết. Thay vì tìm cách lật đổ thể chế độc tài
toàn trị ở các nơi ấy, thì trong thực tế, chúng ta trút hết trách nhiệm
cho bậc "đàn anh" của họ. Nhưng khi "đàn anh" kia khuất bóng, ít nhất
là dưới hình thức trước kia, người ta không hiểu vì sao các quốc gia
nói trên lại được tiếp tục đối xử với nhiều đặc ân, hay với những sai
lầm đã phạm, hoặc với nhiều miễn thứ, trong khi chúng ta đang đối diện
trước một hiểm nguy chết người thực sự.
Hiện chúng ta đang chứng
kiến chuyện cũ tái hiện. Ví dụ như Bắc Hàn đem chuyện xây dựng vũ khí
nguyên tử ra hù dọa, thì Hoa Kỳ liền tham gia tài trợ cho kỹ nghệ
nguyên tử. Ai kiểm soát được chuyện Bắc Hàn hứa không biến thành vũ khí
nguyên tử chiến lược? Rồi trong khi thiết lập kỹ nghệ nguyên tử gọi là
dân sự ấy, Hoa Kỳ còn cung cấp miễn phí cho Bắc Hàn chất đốt dầu hỏa
trong vòng năm hay sáu năm cần thiết cho công trình nói trên. Chẳng ai
hiểu vì sao! Bao lâu kẻ quá cố Kim Nhật Thành còn là người của Mạc Tư
Khoa, người ta còn sợ Mạc Tư Khoa đứng sau lưng y, nhưng bây giờ đây, y
đã chết mà Mạc Tư Khoa cũng không còn dưới hình thái trước kia.
Trường
hợp Việt Nam cũng mắc phải sai lầm như vậy, xem ra còn tệ hơn, vì chúng
ta ai cũng biết nội chiến đã chấm dứt. Gọi là nội chiến vì không hề có
chuyện Tây phương xâm lược để ngăn cản một dân tộc muốn tự mình giải
phóng hầu thiết lập nền dân chủ họ ưa thích. Nhiều sử gia thực hiện
nhiều công trình nghiên cứu vấn đề này. Thực tế là một cuộc nội chiến
thực sự giữa một khả năng tiến tới chế độ độc tài, là điều đã thể hiện,
và một mưu toan chấm dứt chế độ thực dân đồng thời với công cuộc xây
dựng dân chủ. Cho nên, ta có thể nói tình thế hiện nay buộc các nền dân
chủ Châu Âu và Hoa Kỳ bước vào con đường sáng sủa trong cách can thiệp
hay không can thiệp một cách thảm hại trong vấn đề Việt Nam. Và chúng
ta đang mắc lại sai lầm.
Cần giúp đỡ một quốc gia phát triển
kinh tế chứ. Ví dụ như điều có thể chấp nhận, là nếu họ muốn, thì cứ để
cho các nhà kinh doanh thử nghiệm đầu tư vào các quốc gia này, với điều
kiện nhân dân ở đó được hưởng lợi. Nhưng khi một quốc gia trợ cấp cho
một quốc gia chẳng mang lại lợi lộc gì khác hơn việc nuôi dưỡng giới
chóp bu nomenklatura mafia duy trì tham nhũng và bảo vệ độc tài chính
trị; rồi cứ tiếp diễn cung cách trợ cấp vô ích như thế; rồi bảo lãnh
giúp Việt Nam tại các thiết chế quốc tế như Qũy tiền tệ quốc tế, Ngân
hàng thế giới, trong khi Việt Nam không ở địa vị được hưởng tín dụng từ
hai thiết chế này; như nước Pháp đã làm khi bảo lãnh để Ngân hàng thế
giới chấp nhận cho chế độ ở Hà Nội vay tiền. Đó là những điều khó hiểu,
vì chẳng lợi lộc gì trên bất cứ phương diện nào.
Hiển nhiên
chẳng lợi lộc gì cho Việt Nam, là nơi đang tiếp diễn một chế độ độc tài
hấp hối nhưng không chết, vì người ta đang cung cấp một cách tạm bợ
dưỡng khí cần thiết cho nó sống sót. Và cũng chẳng lợi lộc gì cho riêng
nước Pháp, bởi vì đó là những nố vay mượn, những tín dụng từ Pháp hay
quốc tế mà trong thực tế và theo kinh nghiệm cho thấy các khoản tiền
này chẳng bao giờ được hoàn trả. Khoản tiền mà người ta gọi là tái định
kỳ trả góp, là một cách nói trại rằng nợ sẽ quỵt vĩnh viễn và người ta
chẳng biết khoản tiền ấy dùng vào việc gì, nếu không là biết quá rõ.
Trong
trường hợp nước Pháp, còn được bổ túc thêm một trò lừa trẻ con bằng thứ
ảo ảnh được gọi là khối Pháp thoại (Francophonie). Tôi không chống đối
khối Pháp thoại đâu, nhưng phải nói ra sự kiện giới chức Pháp háu hức
tin rằng tài trợ cho Việt Nam, cho quốc gia Việt Nam, là cách thuyết
phục quốc gia này và toàn thể nhân dân chuyên tâm vui thú với các tác
phẩm văn chương cổ điển Pháp. Hiển nhiên đây là điều mà giới quan chức
lãnh đạo Việt Nam khôn khéo sử dụng, khi họ thấy diễu hành trên nước họ
những tên khờ khạo sẵn sàng đớp mồi, và họ thừa biết miếng mồi ấy chỉ
là món thù lao cho họ.
Cho nên, tôi tin rằng, với buổi hội luận
"Đổi mới và Nhân quyền: Việt Nam 20 năm sau" hôm nay sẽ phục vụ cho một
điều, đó là trước hết, chúng ta phải tìm cách, phải duy trì áp lực trên
các cơ quan ở Pháp và các quốc gia tương tự để tố cáo sự gian trá, để
minh chứng rằng, dù có bỏ rơi đạo đức đi chăng nữa, dù có mặt dày mày
dạn đến đâu, cũng không thể nào biện bạch cho chính sách nói trên. Vì
đây là một chính sách ngu xuẩn. Nếu cần cầu viện đến đạo đức, thì hiển
nhiên trên mọi phương diện, chính sách này đáng kết tội. Bởi đó mà tôi
tin rằng, với sự vô ý thức như bầy cừu của giới chính trị gia, đặc biệt
tại Pháp, họ sẽ thấy bị ô nhục nếu một ngày nào đó họ không được làm
cuộc hành hương về Hà Nội. Chúng ta phải cho họ thấy rằng việc làm ấy
vô dụng, Việt Nam tương lai là một nước Việt Nam dân chủ. Nuớc Việt Nam
dân chủ ấy sẽ trách cứ nước Pháp đã làm chậm tiến trình dân chủ thay vì
giúp đỡ cho dân chủ hình thành tại Việt Nam.
Đây là mấy điều tôi
muốn đóng góp vào cuộc hội luận hôm nay. Tôi tin rằng điều khích động
chúng ta, qua những phân tích và những thông tin mà chúng ta thu thập
khi xem cuốn phim trình chiếu hôm nay, qua những yếu tố do ông Võ Văn
Ái cung cấp, càng làm cho chúng ta khích động, và nếu có thể, thuyết
phục giới lãnh đạo Pháp để chỉ cho họ thấy tính cách lỗi thời và vô ích
của nền chính trị giả tạo trong vấn đề Việt Nam.
Jean-François Revel
(http://www.queme.net)