Tưởng giếng sâu tui nối sợi dây dài.
Ai ngờ giếng cạn, tui tiếc hoài sợi dây.
(Câu hò miền Nam, VN.)
Trong
cuốn Một Mảnh Tình Riêng, do nhà Văn Nghệ (VN) xuất bản năm 2000, Sơn
Nam tâm sự: "Mẹ tôi đi làm dâu nơi xa nhà hàng năm mươi cây số đường
giao thông hồi đầu thế kỷ khó khăn, vượt rừng qua hai con sông đầy sóng
gió... Lâu năm lắm mẹ tôi với về quê thăm xứ một lần, tình trạng này
tôi thử hư cấu, qua truyện ngắn 'Gả Thiếp Về Rừng'.. .Qua sông Cái Bé
thì dễ, nhưng gian nan nhất là qua sông Cái Lớn. "
Muốn biết
chuyện làm dâu nơi xa, hồi đầu thế kỷ trước, gian nan và khó khăn ra
sao, xin đọc vài đoạn (chính) trong truyện ngắn này của Sơn Nam:
"Câu
chuyện xảy ra tại rạch Bình Thủy, làng Long Tuyền, tỉnh Cần Thơ, đâu
cũng vào khoảng năm 1939 ... tháng chạp năm đó, nhà ông Cả treo bông
kết tuội để gả con, giữa tiếng dị nghị của bao chàng trai tơ ở rạch
Bình Thủy."
"Cô Út về làm dâu đất Cạnh Đền.
"Hai năm qua.
"Ba năm qua...
"Chuyến đầu, đôi vợ chồng về thăm ông Cả bà Cả, đèo theo một đứa con gái nhỏ... sổ sữa dễ thương.
"Chuyến sau họ về, lại thêm một đứa gái. và một đứa thứ ba nữa đang nằm trong bụng mẹ.
"Hai ông bà quá đỗi vui mừng.
"Nhưng liên tiếp mấy năm sau họ bặt tin, ngày Tết ngày giỗ cũng chẳng về. Lo ngại quá! Có chuyện gì xảy ra bất lành không?
"Hai
ông bà muốn xuống Cạnh Đền thăm con nhưng ngại mình già sức yếu, đường
xa xôi, phải vượt qua sông Cái Lớn. Nằm đêm, lắm khi bà khóc lóc mà
trách ông:
"-Tôi nói muỗi rừng ăn thịt hai đứa nó rồi. Xứ gì mà
muỗi kêu như sáo thổi. Không đau bịnh rét thì cũng chói nước lớn bụng
mà chết... Hồi đó ông cãi tôi, nhớ không?
"Ông Cả vô cùng buồn bực. Nhứt là khi nghe con nít chòm xóm hát đưa em:
Má ơi đừng gả con xa,
Chim kêu vượn hú, biết nhà má đâu?
...
"Suốt tháng ngày, ông chống gậy đi quanh quẩn bên gốc tre già ở mé sông, mắt mòn mỏi nhìn bóng dáng các ghe thương hồ qua lại.
" Trời đất nào phụ kẻ có lòng như ông!
"Mãi đến buổi trưa đó, có chiếc ghe chèo chậm chậm ngang bến. Chồng trước mũi hỏi vợ sau lái:
"- Phải chỗ cây mù u này không? Cậu Quỳnh nói nhà bên vợ ở đâu đây.
"Chị vợ đáp:
"-Không chừng... Đúng quá, cách ngã ba, qua hai cây cầu khỉ, nhà ngói có vườn quít.
"Anh chồng ngó tới ngó lui, cãi lại:
"- Mình mới qua một cây cầu. Chèo tới trước chỗ cây cấu khỉ, đằng kia kìa, họa may...
"Ông Cả cố gom tất cả sức già, la lớn:
“- Ở đây nè, bà con ơi! Nhà vợ thằng Quỳnh ở đây nè...
"
Ghe đậu lại. Hai vợ chồng nọ được mời lên ăn cơm với thịt gà tại bộ ván
gõ giữa nhà ông Hương cả. Trong đời, họ chưa bao giờ được hân hạnh lớn
như vậy! Ông Cả, bà Cả, người lối xóm xúm lại hỏi nhiều câu quá. Họ bối
rối, trả lời vắn tắt:
"- Dạ, vợ chồng cậu Quỳnh mạnh khỏe. Nhờ trời sanh được sáu đứa con. Bốn đứa sau đều là con trai.
"Bà Cả mừng quýnh:
"- Úy! Bộ con Út đẻ năm một sao? Con nhỏ đó thiệt giỏi!
"Khách trả lời:
"-
Dạ, đẻ năm một. Đứa ăn thôi nôi, đứa lôi đầy tháng. Mẹ tròn con vuông.
Hồi tôi đi đây, cô Út gần nằm chỗ một lần nữa. Thưa ông bà, miệt dưới
ai cũng vậy. Như vợ chồng cháu đây có tám đứa con.
"- Sao vậy cà? Sao vậy cà? Ở dưới cỡ này ra sao mà thiên ha "đẻ nhiều quá vậy?
"Khách ngượng nghịu, chập sau mới nói:
"-Dạ ở miệt dưới muỗi dữ lắm. Chạng vạng là cả nhà, vợ "chồng con cái rút vô mùng... nói chuyện. Ít ai đi đâu.
"Ai
nấy phá lên cười to. Đến lúc bấy giờ, ông Cả bà Cả mới hiểu thêm một sự
bí mật quan trọng của tiếng 'muỗi kêu như sáo thổi' ở Cạnh Đền. Nó làm
hại sức khỏe con người. Nhưng nó gắn bó mối tình chồng vợ hơn ở xứ
không có muỗi.
"Để đánh trống lảng, ông nói:
"-Ừ! Phải vậy mới được. Xứ mình cần có dân đông để tạo lập thêm ruộng vườn, khai phá đất hoang.
"Bà Cả nóng ruột:
- "Anh chị đây có nghe vợ chồng nó nhắn chừng nào đem mấy đứa cháu ngoại của tôi về cho biết mặt?
"Khách trả lời:
"-
Dạ không nghe. Con cái lũ khũ cả bầy, chắc vợ chồng cậu Quỳnh khó đi
xa. Năm rồi mùa màng thất bát, ai cũng lo tay làm hàm nhai để nuôi con.
Sông Cái Lớn mấy năm nay lại thêm sóng gió bất thường.
"Bà thở dài, nói như rên siết:
"- Nhớ mấy đứa nhỏ quá. Ông ơi! Hồi đó ông cãi tôi...
"Ông
Cả im lặng, nghĩ đến cái ngày gần đất xa trời của mình. Nó không còn
bao xa nữa. Ngày đó, ai phò giá triệu, ai rinh quan tài? Nhìn bụi tre
già dưới bến mà ông tủi thân: Măng non mọc kề bên gốc. Phận ông có
khác; con gái, con rể và đám cháu ngoại ở chốn xa xôi kia làm sao được
gần gũi để ông thấy mặt lần đầu- và cũng là lần chót - khi ông tàn hơi.
Nước mắt muốn tươm ra, ông cố dằn lại. Ông hiểu đời ông chưa tới mức
đen tối, còn chút ánh sáng lập lòe trong tương lai vô biên vô tận:
-
"Ờ... ở dưới nó có lập vườn chưa? Lát nữa, anh chị chịu khó chở về dùm
cho vợ chống con Út một gốc tre Mạnh Tông để làm giống. Chừng thấy măng
non cận gốc già, mấy đứa cháu của tôi luôn luôn nhớ ông ngoại bà ngoại
nó trên Bình Thủy.
Phật Trời thiêng liêng xin phù hộ chứng giám!
Từ bao nhiêu thế kỷ rồi, trên đất nước mình luống chịu cảnh sinh ly như
ông Cả, như co Út. Để cho nước mạnh dân còn" (*).
Truyện "Gả
Thiếp Về Rừng" lấy bối cảnh rạch Bình Thủy, làng Long Tuyền, tỉnh Cần
Thơ, vào khoảng năm 1939 - 40, khi tôi chưa ra đời. Ba mươi năm sau,
lúc tôi đủ lớn để đọc và yêu thích Sơn Nam thì ghe thuyền gắn máy (đuôi
tôm) đã chạy ngang dọc tá lả khắp sông rạch miền Nam. Thế hệ của chúng
tôi khó mà hiểu được nỗi "gian truân" của một người con gái lấy chồng
xa nhà (cỡ)... năm mươi cây số! Dù vậy, tôi vẫn cứ mến thương hết sức
cái tình của Sơn Nam dành cho lớp người tiên phong, đi khai khẩn miền
cực Nam của quê hương.
Cùng với Sơn Nam, nhà văn Bình Nguyên Lộc
cũng ghi lại nhiều tình cảm sâu đậm của mình đối với những lưu dân.
Trong truyện ngắn "Rừng Mắm" của ông, có đoạn đọc mà muốn ứa nước mắt:
"--Bờ
biển nầy mỗi năm được phù sa bồi thêm cho rộng ra hàng mấy ngàn thước.
Phù sa là đất bùn mềm lủn và không bao giờ thành đất thịt được để ta
hưởng nếu không có rừng mắm mọc trên đó cho chắc đất. Một khi kia cây
mắm sẽ ngã rạp. Giống tràm lại nối ngôi mắm. Rồi sau mấy đời tràm, đất
sẽ thuần, cây ăn trái mới mọc được.
"Thấy thằng cháu nội ngơ ngác chưa hiểu, ông cụ vịn vai nó mà tiếp:
"--Ông
với lại tía của con là cây mắm, chơn giẫm trong bùn. Đời con là tràm,
chơn vẫn còn lấm bùn chút ít, nhưng đất đã gần thuần rồi. Con cháu của
con sẽ là xoài, mít, dừa, cau.
"Đời cây mắm tuy vô ích, nhưng
không uổng, như là lính ngoài mặt trận vậy mà. Họ ngã gục cho kẻ khác
là con cháu của họ hưởng"
(http://dactrung.net/truyen/noidung.aspx?BaiID=%2bxDS8sIbzUvmvf%2fUjIUh6A%3d%3d).
Đã
bao nhiêu đời tràm, bao nhiêu đời mắm ngã rạp, bao nhiêu thế hệ phải
chịu cảnh sinh ly như ông Cả, như cô Út... nhưng quê hương mỗi lúc một
lụn bại hơn, chứ không giàu mạnh thêm - như kỳ vọng của Sơn Nam hay
Bình Nguyên Lộc. Và vì nghèo đói, cảnh chia ly xẩy ra mỗi ngày một
nhiều.
"Hiện nay, ở Nam Hàn, trên bất kỳ nhật báo nào cũng dễ
dàng tìm thấy những lời quảng cáo: 'Người già, người muốn tái hôn,
người khuyết tật đều có thể kết hôn với những trinh nữ xinh đẹp ở Việt
Nam .. . Thậm chí những quảng cáo này còn liệt kê ưu điểm của con gái
VN như 'xuất giá tòng phu', 'tôn trọng người già, thờ cúng tổ tiên đến
bốn đời', 'dáng người đẹp nhất thế giới',' giữ gìn trinh tiết và chung
thủy với chồng'" (Bán tuần báo Việt Luận, số 2063, phát hành từ Sydney
ngày 28/04/2006).
Chuyện "lấy chồng xa" của phụ nữ VN đã trở
thành kỹ nghệ, ở mức "đại trà" - theo như tin của nguyệt san Khởi Hành,
số 134, phát hành từ California, tháng 4 năm 2006:
"Cảnh sát
Cam Bốt mới khám phá một tổ chức bán các bé gái Việt Nam tại một khu
phố ở Nam Vang. Các em cho biết đã được chở từ quê nhà vùng nông thôn
miền Nam qua biên giới trong những thùng sắt dùng chở đồ xuất cảng."
Những
chuyện tủi nhục xót xa như thế đã xẩy ra (thường xuyên) từ mấy thập
niên qua. Trong thời gian này, Sơn Nam vẫn cặm cụi cầm bút và vẫn in ấn
đều đều. Tác phẩm mới nhất của nhà văn, có tên là Bình An, tập cuối
trong bộ hồi ký của ông, và được giới thiệu là "cuốn sách đề cập đến
những biến đổi lớn lao của Sài Gòn kể từ ngày giải phóng miền Nam
30/04/75 đến nay"
(http://vnexpress.net/Vietnam/Van-hoa/2005/03/3B9DCB7A ).
Dù
không phải là thầy bói, tôi vẫn biết chắc rằng, trong cả bốn tập hồi ký
của Sơn Nam sẽ không có một dòng chữ nào - nửa dòng cũng không - viết
về những em bé Việt Nam bị "gả" đi xa, "trong những thùng sắt dùng chở
đồ xuất cảng" như thế.
Tập Hương Rừng Cà Mau, trong đó có
truyện "Gả Thiếp Về Rừng", được mở đầu bằng một bài thơ của (chính) Sơn
Nam, có đoạn như sau:
Trong khói sông mênh mông,
Có bóng người vô danh
Từ bên này sông Tiền
Qua bên kia sông Hậu
Mang theo chiếc độc huyền
Điệu thơ Lục Vân Tiên
Với câu chữ:
"Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả."
Cái
gì đã giết chết tinh thần "kiến nghĩa bất vi vô dõng giả" nơi Sơn Nam
như thế? Ông đâu có chức quyền gì như Huy Cận hay Tố Hữu để mà sợ mất?
Ông đâu có đụng chuyện với "cách mạng", vào thời Nhân Văn Giai Phẩm" mà
hoảng hốt đến độ bị bắt ăn bánh vẽ nhưng vẫn phải làm bộ khen ngon -
như Chế Lan Viên? Ở tuổi 80, Sơn Nam còn ngại gì nữa mà không (dám) nói
lên đôi lời phải/quấy với bọn giặp cướp - đang tụ họp ở làng Ba Đình,
Hà Nội - trước khi nhắm mắt?
Trong một chế độ "không cho phép ai
được có một thái độ thứ ba" thì sự im lặng của Sơn Nam cũng chỉ là
chuyện... bình thường thôi sao? Thời phải thế, thế thời phải thế. Cả
đống tu sĩ, nhân sĩ, văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ, bác sĩ - ở trong nước
cũng như hải ngoại - đều giữ thái độ tương tự, trước việc phụ nữ VN bị
gả bán như nô lệ, chứ đâu có riêng chi nhà văn Sơn Nam. Với thời gian -
rồi ra - cả dân tộc Việt sẽ quen dần hết với mọi chuyện xấu xa tồi tệ,
và có thể chấp nhận tất cả những tội ác một cách thản nhiên thôi.
Nghĩ
cho cùng, có lẽ, đây chỉ là chuyện nhỏ và là chuyện (riêng) của cá nhân
tôi với Sơn Nam. Chỉ vì lúc thiếu thời tôi yêu thích, quí mến ông ấy
quá nên mới đặt thành vấn đề và cứ băn khoăn mãi.
Cho đến sáng
nay, qua Tuổi Trẻ Online, tôi tình cờ tìm ra được lý do khiến cho Sơn
Nam đã bỏ rơi cái quan niệm sống "lộ kiến bất bình vung đao bạt tụy" -
của Lục Vân Tiên - trong con người Nam Bộ của ông.
"Ngày 7-3,
tổng công ty du lịch Sài Gòn khánh thành tượng chân dung nhà văn Sơn
Nam tại làng du lịch Bình Quới 1 (Thanh Đa), để ghi nhận đóng góp của
ông đối với nền văn hóa phương Nam."
(http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=24010&ChannelID=61 ).
Ý
trời đất, quỉ thần, thiên địa (mèng đéc) ơi, như vậy là Sơn Nam đã bị
hóa đá rồi - chớ còn khỉ gì nữa! Hèn gì, ông không còn nghe được "Tiếng
Kêu Giữa Rừng U Minh Hạ"
(http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=1662).
Ông cũng không còn bận lòng gì nữa về số phận gian truân của những
người đồng hương đi lấy chồng xa - dù là xa nhà đến năm ngàn (hoặc hơn)
chứ không phải chỉ là năm mươi cây số - và sang sông (tập thể) bằng tầu
chở hàng, trong thùng container, thay vì bằng một chuyến đò ngang hay
đò dọc.
Khi bàn về số phận của một số những người cầm bút ở miền
Nam -bị cấm viết sau tháng 4 năm 1975 - nhà văn Võ Phiến gọi họ là
những "tài năng bị chôn sống". Sơn Nam (của tôi) dù được cho phép tiếp
tục cầm viết, vẫn bị chôn sống như thường - bằng một hình thức khác,
nhẹ nhàng hơn, vậy thôi. Thôi, vĩnh biệt Sơn Nam!
Tưởng Năng Tiến
(*)
Sách được in lại (và in lậu) tại hải ngoại, tuyệt nhiên không có ghi
một chi tiết nào về nhà xuất bản hay năm xuất bản. Nguyên tập truyện
Hương Rừng Cà Mau của Sơn Nam có thể đọc được qua website Đặc Trưng
(http://dactrung.net/truyen/noidung.aspx?BaiID=zjXbo72c3XVa375iWxEu4A%3d%3d.
Riêng truyện "Gả Thiếp về Rừng", nơi web site này, thiếu một đoạn cuối
như sau: "Phật Trời thiêng liêng xin phù hộ chứng giám! Từ bao nhiêu
thế kỷ rồi, trên đất nước mình luống chịu cảnh sinh ly như ông Cả, như
cô Út. Để cho nước mạnh dân còn."
Nhân cơ hội này, người viết
cũng xin được ngỏ lời ghi ân nhóm chủ trương Đặc Trưng vì đã xử dụng
tài liệu trong thư viện nhỏ ("trên không") của quí bạn nhiều lần.