Việt Nam cần rời xa tư tưởng XHCN

Theo Đàn Chim Việt - Hoàng Duy - 29-05-2006

Mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã chọn đã đưa nền kinh tế của đất nước Việt Nam vấp phải những khó khăn và trở ngại tưởng chừng như không vượt qua được. Những khủng hoảng về xã hội – kinh tế nghiêm trọng trong những năm thập niên 80 cho thấy rõ điều đó. Mặc dù đất nước Việt Nam đã chuyển hướng kịp thời sang con đường kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đời sống người dân khá lên kể từ khi có sự chuyển hướng đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao so với các nước trong khu vực nhờ lợi thế của một nước có xuất phát điểm thấp. Mặc dù nền kinh tế đang được chính phủ cố gắng lèo lái để sao cho vận hành theo quy luật thị trường thế nhưng cho đến hiện giờ đất nước chúng ta vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa. Mọi suy nghĩ, hành động của bộ máy nhà nước Việt Nam đều ít nhiều chịu sự chi phối và ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội. Sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Và chính nguyên nhân đó kềm hãm sự tăng tốc kinh tế, sự phát triển xã hội của Việt Nam.

“xã hội chủ nghĩa là một ngõ cụt của lịch sử nhân loại” ─ Nguồn: hicksville.co.nz
Mặc dù lịch sử các nước Đông Âu và Liên Xô cũ đã chứng minh rằng “xã hội chủ nghĩa là một ngõ cụt của lịch sử nhân loại” thế nhưng vẫn còn rất nhiều vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam vẫn “bám” vào cái phao chủ nghĩa xã hội như một kim chỉ nam để đưa mọi người dân Việt Nam đi đến đích. Có thể nhận thấy rằng cái đích đến mà Đảng luôn hứa hẹn đó là một đích đến “không tưởng”. Những phạm trù mà các báo cáo chính trị ở Việt Nam luôn nhấn mạnh: công bằng, dân chủ, văn minh, hạnh phúc lại là những phạm trù chưa được được nghĩa rõ ràng, luôn thay đổi sau mỗi kỳ đại hội. Việc không xác định rõ dung lượng và ngoại diên của các phạm trù đó làm cho con đường tiến tới xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trở thành một “cái mặt nạ” che dấu bản chất thật sự của Đảng. Nó làm cho người dân Việt Nam ảo tưởng về một xã hội không có thật nhưng vẫn luôn nghĩ rằng mình đang tiến tới xã hội đó.

Nhìn lại lịch sử Việt Nam, sau Cách mạng tháng Tám 1945, Việt Nam đi theo con đường xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, chính quyền đã ra sức xây dựng một nền kinh tế tập thể bằng cách dùng các biện pháp cưỡng chế để sung công tất cả tài sản thuộc sở hữu tư nhân, quốc hữu hóa tư liệu sản xuất và áp đặt người nông dân và những người sản xuất nhỏ khác vào các hợp tác xã. Tuy sử dụng các phương tiện “chuyên chính vô sản” như thế nhưng ngay từ ban đầu, nhờ những lời hứa hẹn “có cánh” mà chính quyền cộng sản đã được sự ủng hộ đông đảo của tầng lớp nghèo trong xã hội nhiễu nhương lúc bấy giờ, đa số là nông dân. Thế nhưng những hậu quả nghiêm trọng về kinh tế - xã hội của thời kỳ đó, đặc biệt là thời kỳ cải cách ruộng đất vẫn còn dư âm đến tận ngày nay.

Theo từ điển mở Wiki thì “đa số dân chúng là nông dân không được giao tiếp với thế giới bên ngoài nên hào hứng mới đầu đã ủng hộ hết mình cho chính quyền Hồ Chí Minh. Nhưng những sai lầm của công cuộc cải cách ruộng đất theo chỉ dẫn của cố vấn Trung Quốc đã đấu tố giết hại hàng chục ngàn nông dân miền bắc chỉ vì họ có ruộng đất”. Rõ ràng nếu không đi theo con đường xã hội chủ nghĩa thì sẽ không có việc cưỡng chế tài sản của nhân dân và cũng sẽ không có cải cách ruộng đất và chắc chắn là cũng sẽ không có việc cả triệu người dân Việt Nam di cư vào Nam. Tạo hóa đã ban cho mỗi người những quyền thiêng liêng bất cứ ai cũng không thể xâm phạm. Immanual Kant, cha đẻ của nền triết học cổ điển Đức, từng nhấn mạnh: “con người, cá nhân luôn luôn và trong tất cả mọi việc đều là mục đích, không bao giờ là phương tiện. Kể cả phương tiện để đạt mục đích”. Thế nhưng để đạt tới “mục đích” xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản đã phải dùng “phương tiện” cải cách ruộng đất. Đó là một hành động sẽ được lịch sử phê phán bởi vì đó là điều không thể chấp nhận được.

Sau giải phóng, để thực hiện đúng “kim chỉ nam” của Mác-Lênin, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên quyết “đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” bằng cách thực hiện “tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Thực chất là kế hoạch hóa toàn bộ kinh tế miền Nam nhằm hợp nhất với kinh tế miền Bắc. Rất nhiều người gọi đó là sai lầm chủ quan duy ý chí của những một số lãnh đạo của Đảng chứ không phải là sai lầm của chủ nghĩa Mác-Lênin. Thực chất đó không phải là do sai lầm của một cá nhân lãnh đạo nào mà đó là sai lầm của một hệ tư tưởng. Chủ nghĩa Mác-Lênin luôn khẳng định rằng cuộc cách mạng vô sản sẽ diễn ra và để người dân tin vào điều đó, những tín đồ của chủ nghĩa xã hội hứa hẹn rằng mọi bất công trong xã hội sẽ được xóa bỏ. Để thực hiện những lời hứa đó, sau khi nắm quyền lực trong tay “sự tước đoạt đối với những kẻ chiếm đoạt” sẽ xảy ra ngay lập tức. Việc quốc hữu hóa các nhà máy, xí nghiệp, ngân hàng, … là điều không thể tránh khỏi và tiếp theo đó là quá trình tập trung hóa và kế hoạch hóa sản xuất. Đó chính là sai lầm của chính những tín đồ Đảng Cộng sản mà bắt nguồn của nó chính là những tư tưởng của Mác.

Để “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” không còn cách nào khác hơn là buộc phải kế hoạch hóa toàn bộ nền kinh tế. Những người kế tục Mac-Lenin nghĩ rằng kế hoạch hóa là một nhiệm vụ đơn giản và dễ thực hiện. Thế nhưng kinh nghiệm cho thấy, kế hoạch hóa là một vấn đề cực kì phức tạp, không thể thực hiện được ngay cả trong một nền kinh tế phát triển ở trình độ cao. Chính vì thế, những giải pháp kế hoạch hóa do bộ máy quan liêu của Đảng vạch ra thực tế chứa đầy những va chạm, những đặc điểm sai chức năng, lãng phí, không hiệu quả và và kết quả là những tới những xung đột nội bộ không thể nào cứu vãn nổi. Thực tế sự khủng hoảng của hệ thống kinh tế ở Việt Nam những năm 80 là một điều tất yếu khó tránh khỏi. Sự khủng hoảng ấy cũng giống như sự khủng hoảng của Liên Xô và Đông Âu trước đây những năm năm mươi.

Hệ thống xã hội chủ nghĩa đã không thể hiện được tính ưu việt của mình so với hệ thống tư bản chủ nghĩa như nó đã từng hứa hẹn trong nhiều giá trị ví dụ như công bằng và đoàn kết xã hội. Rất nhiều giá trị khác như phúc lợi, tính hiệu quả, và tự do, chủ nghĩa xã hội kém xa những gì mà tư bản chủ nghĩa hiện đại và phát triển hoạt động dưới hình thức chính trị dân chủ đạt được. Hệ thống này chỉ có thể tồn tại khi mà sự bất mãn bị bóp nghẹt. Cuộc thanh trừng Nhân văn Giai phẩm, đưa đi cải tạo, kiểm điểm hoặc treo bút không biết bao nhiêu trí thức, nhà văn, nhà báo vì họ viết bài tỏ vẻ bất mãn là một minh chứng cụ thể. Có thể nhận xét sơ bộ rằng cuộc thanh trừng này đã khiến cho một tầng lớp trí thức đông đảo ở miền Bắc lúc bấy giờ không dám sáng tác thơ văn, mọi cảm hứng sáng tác đều bị cuộc thanh trừng “đè nén” đến nỗi tất cả phải ngưng bút một thời gian dài. Đây là một thiệt hại không gì bù đắp cho nền văn hóa nghệ thuật của nước nhà mà hơn ai hết chính Đảng phải chịu trách nhiệm trực tiếp.

Câu hỏi được đặt ra là hệ thống xã hội chủ nghĩa đã vượt qua khủng hoảng kinh tế như thế nào. Câu trả lời đó là: các nhà lãnh đạo Đảng đã kịp thời nhận ra những khiếm khuyết của cơ chế kế hoạch hóa của hệ thống xã hội chủ nghĩa nên đã bổ sung cho nó cơ chế thị trường. Và họ hi vọng rằng nó sẽ hoạt động hiệu quả. Có thể nhận định rằng con đường đổi mới ở VN chính là con đường mà Liên Xô và Đông Âu trước đây đã thử nghiệm: xã hội chủ nghĩa thị trường. Đông Âu và Liên Xô đã thất bại khi thử nghiệm con đường này. Vậy còn Việt Nam liệu sẽ thành công?

Thật đáng tiếc cho đến bây giờ, nhìn nhận một cách khách quan thì câu trả lời lại là không thể. Những thành tựu kinh tế, xã hội mà đất nước chúng ta đạt được lại là nhờ vận hành theo kinh tế thị trường, huy động được sức dân. Để thấy rõ hơn có thể lấy ví dụ về điện ảnh Việt Nam. Những đặc trưng của “phong cách” xã hội chủ nghĩa như làm phim phải theo kế hoạch hóa, phải ca ngợi xã hội chủ nghĩa, được kiểm duyệt nội dung chặt chẽ tồn tại rất lâu trong nền điện ảnh Việt Nam khiến cho điện ảnh Việt Nam không thể phát triển. Chỉ từ khi “mở cửa” với điện ảnh, cho phép tư nhân đầu tư làm phim thì mới có thể kéo khán giả đến rạp đông hơn. Một ví dụ khác trong lĩnh vực giáo dục đó là những môn học mà học sinh chán ghét nhất đó là những môn học mang tính xã hội chủ nghĩa nhiều nhất, có thể điều tra để thấy rằng những môn như giáo dục công dân, lịch sử lại bị học sinh không thích học nhất. Trên đại học thì sinh viên thường cúp tiết, không thích những môn như Triết học Mác-Lênin, Xã hội chủ nghĩa khoa học, Lịch sử Đảng, Kinh tế chính trị, Tư tưởng Hồ Chí Minh.

Điều đáng tiếc nhất đó là tư tưởng về xã hội chủ nghĩa đã ăn sâu vào đầu óc của rất nhiều thanh niên Việt Nam khiến họ nghĩ rằng có thể xây dựng được một hệ thống xã hội chủ nghĩa mà Đảng đã hứa hẹn mà không nhận ra được những cản trở của nó trong việc phát triển kinh tế. Việc níu kéo tư tưởng xã hội chủ nghĩa chỉ làm cho tốc độ đất nước chậm đi, đời sống người dân không được cải thiện nhiều trong tương lai. Có thể kết luận rằng Việt Nam cần phải xa rời tư tưởng xã hội chủ nghĩa càng sớm chừng nào thì những di sản mà nó để lại sẽ đỡ nặng nề hơn cho con cháu mai sau.

Sài Gòn, 24/05/2006

Copyright © 2006 by DCVOnline


In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè:

     http://tudovis.com/kktd/binh_luan/bl_vn_can_xa_tu_tuong_xhcn_.htm

Người gửi:

Địa chỉ email: *


Người nhận:

Có thể gửi cho nhiều địa chỉ, nhớ bỏ dấu phẩy trước khi bắt đầu địa chỉ mới.
Địa chỉ email: *
Lời nhắn:
Quí vị có thể copy hết cái bài ở trên và bỏ vào trong hộp Lời nhắn
 
* Thông tin bắt buộc        
Note: Chi tiết bạn điền vào trang này sẽ không được dùng để gửi thư không mời, hoặc bán cho nơi khác.