...Dù có quy chế mậu dịch bình thường và là hội viên của WTO, Việt
Nam có thể vẫn gặp khó khăn về mậu dịch từ phía Quốc hội Hoa Kỳ, với
nhiều luật lệ khác được Quốc hội ban hành.
Suốt
tuần qua, dư luận tại Việt Nam hồi hộp chờ đợi kết quả đàm phán Mỹ-Việt
tại thủ đô Hoa Kỳ về việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới
WTO. Cuối cùng, hôm Chủ Nhật đôi bên công bố đã đạt thỏa thuận về
nguyên tắc khiến hy vọng gia nhập đã rộng mở cho Việt Nam.
Diễn
đàn Kinh tế đài RFA trao đổi cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa về viễn
ảnh đó trong tiết mục chuyên đề hàng tuần do Việt Long thực hiện sau
đây.
Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, sau những căng thẳng đến
tận giờ cuối, hai đoàn đàm phán Hoa Kỳ và Việt Nam cuối cùng đã đạt
thỏa thuận nguyên tắc về việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế
giới WTO. Như vậy, Việt Nam sẽ còn phải vượt qua những chặng nào nữa
trên con đường gia nhập này?
- Tổ chức WTO là câu lạc bộ quy
tụ khoảng 150 quốc gia đồng ý trao đổi buôn bán với nhau theo nguyên
tắc tự do mậu dịch, với tối thiểu hạn chế và với hàng rào hải quan thấp
nhất. Muốn gia nhập tổ chức này, Việt Nam phải được tất cả các hội viên
hiện hữu đồng ý, và từ đấy cũng có quyền duyệt xét việc gia nhập của
các nước khác, thí dụ như Liên bang Nga.
Thủ tục của việc gia
nhập này là đạt một số thỏa thuận gọi là đa phương với nhóm quốc gia
phụ trách hồ sơ của mình, gọi là nhóm Công tác, hiện do Đại sứ Na Uy
làm Chủ tịch, đồng thời cũng phải đạt thỏa thuận song phương với từng
quốc gia có nêu vấn đề về mậu dịch với mình. Mười năm sau khi đệ nạp hồ
sơ xin gia nhập, và sau mười mấy phiên họp, Việt Nam đang hoàn tất
những thỏa thuận đa phương trong khuôn khổ nhóm Công tác gồm hơn 40
nước, nếu kể Liên hiệp Âu châu như một nước. Song song, Việt Nam cũng
đã lần lượt đạt thoả ước song phương với từng quốc gia trong hơn hai
chục nước có nêu vấn đề và hiện chỉ cần thỏa thuận của Mexico và Hoa Kỳ
nữa là xong. Với Mexico thì chỉ còn vài dị biệt nhỏ, chặng đường khó
khăn nhất là với Hoa Kỳ thì coi như đã qua một bước đột phá Thứ Bảy vừa
qua sau 12 lần họp, nên phía Việt Nam mới uống rượu champagne để ăn
mừng.
Hỏi: Một cách cụ thể thì Việt Nam còn phải trải qua những thủ tục gì nữa trước khi chính thức trở thành hội viên của WTO?
-
Việt Nam phải qua hai cửa ải, đa phương là với nhóm Công tác WTO, và
song phương là với Hoa Kỳ. Và thỏa ước song phương này phải được Quốc
hội của hai nước liên hệ là Hoa Kỳ và Việt Nam phê chuẩn trước khi việc
gia nhập WTO được chính thức công nhận.
Hỏi: Ông dự đoán là bao giờ Việt Nam mới chính thức trở thành hội viên WTO?
-
Một số thỏa thuận hay thảo luận cả đa phương lẫn song phương vẫn chưa
được công bố về chi tiết nên ta khó đoán ra thời điểm cho chính xác.
Phần tôi thì dự đoán là Việt Nam sẽ chính thức thành hội viên sau kỳ
họp cuối tháng 12 này của WTO, vào ngày 22 tháng Chạp năm nay. Tức là
ăn mừng Giáng Sinh 2006 xong, Việt Nam sẽ bước qua một thời kỳ mới.
Hỏi: Từ nay đến đó, Việt Nam còn phải giải quyết những vấn đề nào khác với phía Hoa Kỳ?
-
Không khí hội họp khẩn trương giữa hai đoàn Việt Mỹ tại thủ đô
Washington tuần qua khiến tôi liên tưởng tới tạm ước ông Hồ Chí Minh đã
nửa đêm ký vội với Marius Moutet cách đây 60 năm. Lãnh đạo Việt Nam
muốn chứng tỏ quyết tâm đổi mới sau Đại hội X và sớm đạt thỏa thuận với
phía Hoa Kỳ trước khi có thượng đỉnh của Diễn đàn APEC tại Hà Nội nên
cuối cùng đã chấp nhận một số yêu cầu của phía Mỹ.
Kế tiếp,
Việt Nam còn phải vượt qua cửa ải gọi là Thoả ước Thương mại Bình
thường và Vĩnh viễn với Hoa Kỳ, là việc Hà Nội đang ráo riết chuẩn bị
và đã tác động vào truyền thông Mỹ.
Hỏi: Xin ông giải thích cho rõ hơn về thỏa ước mậu dịch bình thường ấy…
-
Hoa Kỳ có quy chế xưa kia bị gọi sai là Tối huệ quốc cho các nước buôn
bán với mình. Từ 1998, quy chế ấy được gọi là Thương mại hay Mậu dịch
Bình thường. Tuy nhiên, với một số quốc gia chưa thực sự có nền kinh tế
thị trường hoặc đang có vấn đề về ngoại giao, vì ách độc tài chẳng hạn,
thì quy chế ấy có thể bị thu hồi, hoặc chấp nhận cho từng năm. Hiện
nay, chỉ còn bốn nước chưa được quy chế ấy một cách vĩnh viễn, trong đó
có Việt Nam.
Muốn đạt quy chế ấy, Việt Nam phải ký thỏa ước
thương mại song phương với Mỹ, là điều hai bên đã thỏa thuận về nguyên
tắc vào tuần qua, và sau đó phải được Quốc hội Mỹ đồng ý, là điều Việt
Nam đang cố vận động để Quốc hội Mỹ thông qua, từ nay đến tháng Tám này.
Hỏi: Vì sao điều kiện ấy lại là tiên quyết?
-
Theo Đạo luật Thương mại Hoa Kỳ năm 1974, một xứ không có dân chủ mà
muốn đạt thỏa ước mậu dịch bình thường thì phải tôn trọng quyền tự do
di dân, gọi là Tu chính án Jackson-Vanik, hoặc được Tổng thống Mỹ yêu
cầu Quốc hội đặc miễn từng năm. Nếu muốn khỏi bị cứu xét hàng năm và
được quy chế ấy một cách thường trực, vĩnh viễn, Việt Nam cần sự thỏa
thuận của Quốc hội. Điều ngoắt ngoéo ở đây là tổ chức WTO không chấp
nhận thủ tục đặc miễn từng năm như vậy, cho nên nếu muốn cho phép Việt
Nam gia nhập WTO, Quốc hội Hoa Kỳ phải vĩnh viễn chấp nhận quy chế mậu
dịch bình thường cho Việt Nam, là điều Hà Nội đang vận động rất mạnh.
Hỏi: Theo dõi tình hình này, ông dự đoán ra sao về kết quả vận động ấy?
-
Khi đàm phán với phái đoàn của Việt Nam, phái đoàn của Mỹ thường xuyên
tham khảo ý kiến của bộ Ngoại giao, của Quốc hội và của doanh giới Hoa
Kỳ để đạt thỏa thuận từ các thành phần liên hệ bên phiá Hoa Kỳ. Việc họ
chấp nhận cho Việt Nam một thời hạn là 12 năm vẫn thuộc loại quốc gia
chưa có kinh tế thị trường đích thực, so với 15 năm của Trung Quốc, cho
thấy thiện chí biệt đãi từ phiá Hoa Kỳ. Tuy nhiên, vì Việt Nam chưa có
nền pháp quyền nhà nước đáng tin, tức là luật lệ chưa có sức cưỡng hành
đúng đắn so với đảng quyền mờ ảo và mờ ám phía sau, và lại thường vi
phạm tự do và nhân quyền của người dân trong nước, nên Quốc hội Mỹ có
thể sẽ nêu vấn đề khi thảo luận về quy chế mậu dịch bình thường và vĩnh
viễn.
Tôi dự đoán là cuối cùng thì Quốc hội Hoa Kỳ cũng phê
chuẩn việc này, nhưng có thể đề ra một điều kiện cho bộ Ngoại giao Mỹ
là hàng năm phải báo cáo với Quốc hội là sau khi đạt thỏa thuận về tự
do thương mại với Mỹ, Việt Nam có cải thiện tình hình dân chủ và nhân
quyền không. Nếu vẫn còn tình trạng đáng tiếc ấy thì dù có quy chế mậu
dịch bình thường và là hội viên của WTO, Việt Nam có thể vẫn gặp khó
khăn về mậu dịch từ phía Quốc hội, với nhiều luật lệ khác được Quốc hội
ban hành.
Hỏi: Bây giờ, chúng ta nói đến chuyện tương lai, Việt Nam có lợi gì khi gia nhập tổ chức WTO?
-
Câu hỏi đầu tiên của kinh tế học, là "lợi cho ai?" Khi Việt Nam trở
thành hội viên WTO, người dân nói chung được lợi vì làm ăn mua bán dễ
dàng hơn với hầu hết mọi quốc gia trên thế giới. Để so sánh thì ta hãy
nhớ đến thời kỳ ngăn sông cấm chợ ngày xưa so với tình hình sinh hoạt
ngày nay thì rõ. Thứ nữa, sau khi gia nhập WTO, Việt Nam phải chấp nhận
những luật lệ quy định của thế giới và không thể tiện thiện làm luật
theo lối chủ quan, khờ khạo hoặc có dụng ý riêng của đảng cầm quyền,
nhờ vậy mà việc làm luật và thi hành luật pháp sẽ thông thoáng và minh
bạch hơn. Luật lệ công minh - công bằng và minh bạch - là điều có lợi
rất nhiều cho người dân, một mối lợi không thuần tuý kinh tế.
Tuy
nhiên, vì quy luật "khó người khó ta, dễ người dễ ta", việc mở cửa làm
ăn rộng rãi như vậy cũng khiến Việt Nam phải mở cửa cạnh tranh với các
nước khác ngay trên thị trường của mình. Vì vậy, luật chơi sẽ thay đổi
và một số thành phần sẽ phải thay đổi quy cách kinh doanh và sinh hoạt
của mình, nếu không nổi thì sẽ bị thiệt, hoặc thậm chí phá sản.
Hỏi: Ông có thể đơn cử cho một số thí dụ về lợi hại hay không?
-
Nói chung, khi là thành viên của WTO, Việt Nam có thể bán hàng cho các
nước khác với thuế suất nhập nội là 5%, thay vì ba bốn chục phần trăm
như hiện nay. Các doanh nghiệp hay ngành nghề hướng về xuất khẩu đều có
mối lợi lớn so với hiện nay. Ngược lại, từ nay Việt Nam sẽ phải chấp
nhận thuế suất 5% đó cho hàng hoá nước ngoài bán vào thị trưòng của
mình, nếu không cải tiến về quản trị và kinh doanh thì mình khó cạnh
tranh với làn sóng ngoại hoá ấy. Kết cuộc thì dân chúng được mua hàng
rẻ, nhưng các doanh nghiệp hay ngành nghề được bảo vệ như hiện nay, thí
dụ doanh nghiệp và ngân hàng của nhà nước, sẽ khốn đốn, và người dân
làm việc tại các nơi ấy có khi bị thiệt thòi hoặc mất việc. Thí dụ cụ
thể là khi nhà nước bỏ bốn tỷ ra yểm trợ ngành dệt sợi của Việt Nam thì
đấy là một biện pháp bảo vệ mà Hoa Kỳ đòi bãi bỏ và Việt Nam đành chịu.
Những ngành được nâng đỡ hay bảo vệ vì vậy sẽ gặp khó khăn nếu không
sửa soạn thay đổi.
Hỏi: Nếu luật chơi là một triển vọng lớn với những thách thức cũng gay go không kém, Việt Nam cần phải làm gì?
-
Tôi nghĩ là trước tiên phải làm một cuộc cách mạng về thông tin, là
thông báo rồi tổ chức học tập, tìm hiểu về những quy định mới, về tình
hình thị trường của thế giới lẫn của mình, hầu mọi người đều biết trước
và sửa soạn. Đổi mới hay không chính là ở lối suy nghĩ và làm việc và
điều ấy đòi hỏi thông tin thông thoáng.
Thứ nữa là thúc đẩy
cải cách hành chính công quyền cho hữu hiệu hơn vì bộ máy hành chính
Việt Nam chưa được xây dựng cho nếp sinh hoạt kinh tế tự do với luật lệ
công minh. Trong khi ấy và đây là việc trước mắt, Quốc hội Việt Nam
phải ráo riết hoàn chỉnh hệ thống luật lệ phù hợp với những đòi hỏi của
WTO, càng sớm thì càng hoàn tất giai đoạn đa phương ta đã nói ở trên.
Ngần
ấy vấn đề, như thông tin, cải cách hành chính và hoàn chỉnh luật lệ,
đòi hỏi một điều kiện tiên quyết, là đảng Cộng sản Việt Nam phải duyệt
lại vai trò của mình và tăng cường vai trò của nhà nước, Quốc hội và
Chính phủ, để nhà nước thực sự phục vụ dân chứ không phải là một công
cụ của đảng.
Hỏi: Câu hỏi cuối, Hoa Kỳ được lợi gì khi thỏa thuận cho Việt Nam gia nhập WTO?
-
Về mặt tâm lý, Hoa Kỳ muốn bình thường hoá quan hệ đôi bên một cách
toàn diện và thực sự cũng muốn Việt Nam phát triển trong ổn định vì đấy
là một yêu cầu về an ninh trong toàn khu vực.
Về mặt kinh tế,
các doanh nghiệp đầu tư hoặc xuất khẩu vào Việt Nam cũng muốn Việt Nam
trở thành một thị trường bình thường, đáng tin, an toàn và có lợi. Họ
muốn chính quyền, cả Hành pháp lẫn Quốc hội, tạo điều kiện thuận tiện
cho việc bình thường hoá ấy.
Ngược lại, một số doanh nghiệp
hay ngành nghề tại Mỹ có thể gặp sự cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam
thì nêu vấn đề, thí dụ như dệt sợi hay thủy sản, và cũng vận động để
bảo đảm là sự cạnh tranh này phải được thể hiện công bằng.
Dù
sao, đối với kinh tế Mỹ, thị trường Việt Nam chưa đáng kể, xuất khẩu
vào Việt Nam mới chỉ chiếm 1% của tổng số xuất khẩu của Hoa Kỳ, cho nên
Việt Nam đừng nghĩ rằng phiá Hoa Kỳ có những ý đồ này khác.
Kinh
nghiệm toàn cầu cho thấy tự do mậu dịch và đầu tư cuối cùng có lợi cho
mọi người và người dân ở các xứ tự do nhất cũng có mức sống cao nhất và
không nhất thiết là xứ này có lợi thì xứ khác bị thiệt theo khái niệm
trao đổi kinh tế là có bóc lột. Khái niệm đôi bên cùng có lợi được họ
gọi là "win-win situation", khi nói về việc Việt Nam gia nhập WTO.