Nhờ những phát minh khoa học và kỹ thuật, đã giúp thêm phương tiện
cho các cường quốc Âu Châu thời đó như Anh, Pháp, Hoà Lan, Bồ Đào Nha,
Tây Ban Nha... đánh chiếm được nhiều thuộc địa tại Phi, Á, Úc và Mỹ
Châu vào thế kỷ thứ XVIII.
Nhờ
các tài liệu lịch sử còn lưu trữ, nên ta biết được hầu hết bọn thực
dân, dù mang thú màu da hay chủ nghĩa nào chăng nữa, cũng đều tham ác,
dã man và ích kỷ. Chúng chỉ nghĩ tới cách nào vơ vét cho đầy túi tham.
Những danh từ hoa mỹ như đem văn minh nhân loại để khai hoá các dân tộc
còn lạc hậu, chẳng qua chỉ là lớp mặt nạ hào nhoáng bên ngoài, ngày nay
ai cũng biết.
Đó chính là nguyên nhân đã khiến cho dân địa
phương và nhiều trí thức da trắng sinh trưởng tại các thuộc địa bất mãn
và căm ghét bọn cầm quyền thực dân. Đây cũng là lý do làm cho MƯỜI BA
THUỘC ĐịA CŨ của Anh Cát Lợi ở Miền Đông Bắc Hoa Kỳ ngày nay, nổi dậy
đòi độc lập từ năm 1783.
Cuộc chiến đầu đầy gian khổ và huyết lệ
trên, do GEORGE WASHINGTON (1789-1797) lãnh đạo với sự viện trợ quân sự
của Pháp, sau 10 năm chiến tranh khốc liệt, đã buộc người Anh phải ký
Hòa Ứơc Versailles vào ngày 4-7-1883: CÔNG NHẬN NỀN ĐộC LẬP CỦA QUỐC
GIA HOA KỲ.
Ngày nay Mỹ chẳng những là một siêu cường số 1 của
thế giới về kinh tế, quân sự, mà còn là một Tiểu Lục Địa rộng lớn, có
lãnh thổ chạy từ bờ Thái Bình Dương qua Đại Tây Dương, diện tích xấp xĩ
với Âu Châu, đứng thứ tư sau Liên Bang Nga (6.592.812 Sq.Ml), Gia Nã
Đại (3.851.787 Sq.Ml) và Trung Cộng (3.691.000 Sq.Ml). Như vậy, tính
đến năm 2006, diện tích Hoa Kỳ là 3.623.420 Sq.Ml hay 9.384.658 Km2 và
dân số gần 250 triệu người. Do đất nước quá rộng lớn, còn dân chúng thì
tạp chủng, lại có nhiều nền văn hóa dị biệt, tự do quá trớn và cạnh
tranh ráo riết để mà sinh tồn. Bởi thế không ai sinh sống trên đất nước
này, dù là bản địa hay di dân, người bình thường hoặc Tổng Thống, dám
khẳng định nước Mỹ là thiên đàng hay địa ngục, vì sự tốt, xấu, may mắn
hay bất hạnh... đều do công ăn, việc làm, tức là Tiền chi phối.
Sự
kiện dân chúng Mỹ quyết định bỏ phiếu tiếp tục ủng hộ Bill Clinton làm
Tổng Thống nhiệm kỳ 2 (1996-2001), bất chấp dư luận, tư cách và đạo đức
của một nhà lãnh đạo. Hay hiện nay vì quyền lợi chiến lược toàn cầu,
gần như cả Tòa Bạch Ốc đều đổ xô bợ lưng cho một chế độ tàn bạo và phi
nhân nhất của nhân loại, đó là đảng cầm quyền Cộng Sản VN. Điều này đã
nói lên sự thay đổi lớn trong nếp nghĩ của người Mỹ hiện nay đã không
còn tin tưởng vào đạo đức của các cấp lãnh đạo chính trị và giới truyền
thông như trước đây.
Tóm lại, người Mỹ không cần biết tới đời tư
của bất cứ cá nhân nào, miễn sao các cấp lãnh đạo mang cho dân chúng có
đủ cơm ăn áo mặc, đất nước thanh bình, uy tín của Hoa Kỳ được tôn trọng
khắp thế giới là đủ rồi.
Ngoài các vấn đề trên, đối với người
Mỹ, cho dù là người địa phương hay di dân, trong thâm tâm bất cứ ai
cũng đều mang một sự hãnh diện với thế giới qua các công trình kiến tạo
của tiền nhân suốt 200 lập quốc với phố xá khanh trang, nhà cửa đồ sộ,
thư viện đầy ắp báo chí sách vở, chợ búa sạch ngon, bến tàu phi trường
tấp nập rộn rịp về cảnh sắc lẫn tình người. Tóm lại dân tộc Hoa Kỳ, dù
mới lập quốc nhưng hầu hết đều đạo đức, lương thiện và chan hòa tình
thương không biên giới (trong đó sự cưu mang hơn 3 triệu người VN Tị
Nạn Cộng Sản, từ tháng 5-1975 tới nay), nên đã nhanh chóng thu phục
được nhân tâm và đứng đầu thế giới về mọi mặt.
Ngày nay chúng ta
may mắn được sống hạnh phúc trên đất Mỹ với đầy đủ các quyền lợi, được
qui định từ Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền, mà đâu mấy ai hiểu rõ là Tiền
Nhân đã đổi lấy nó bằng máu và mạng sống trước bạo lực.
1- Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ
Sau
thời gian dài chiến đấu đẫm máu với thực dân Anh, cuối cùng 13 Tiểu
Bang trong Liên Hiệp Anh ly khai, đã đạt được chiến thắng khi dành được
Độc Lập cho xứ sở, mà ngày nay chúng ta trang trọng đón mừng hằng năm,
được công bố đầu tiên vào ngày 4-7-1776 với danh xưng 'BẢN TUYÊN NGÔN
NHÂN QUYỀN'.
Cũng từ đó, ách nô lệ của Anh tại đây chấm dứt. Để
tạo nên niềm tự hào của một dân tộc có độc lập và tự do thật sự, năm
1789 Webster Noah là người đầu tiên ấn hành quyển Tự Điển Tiếng Mỹ, nói
lên ngôn ngữ riêng của dân tộc mình. Cùng lúc Benjamin Franklin cũng đã
phát minh ra những chữ cái đơn giản. Nhận thức được tương lai của đất
nước sẽ mở rộng bờ cõi và đón nhận nhiều sắc dân tới lập nghiệp tại
Hiệp Chủng Quốc với nhiều nền văn hóa khác nhau. Bởi vậy Noah Webster
càng chú trọng rất nhiều tới ngôn ngữ học bằng cách phát hành nhiều
loại sách giáo khoa, giảng dạy về ngữ pháp, chính tả... tới nay vẫn còn
ảnh hưởng sâu đậm trong đời sống người Mỹ.
Sau này có M.Guffey
hợp tác với Noah, đã bộc lộ tinh thần ái quốc và đạo đức qua các tác
phẩm được phổ biến, làm cho mọi người cảm động và càng ý thức rõ hơn
bổn phận trách nhiệm của một công dân đối với xã hội và quốc gia của
mình. Tuy ngày nay theo bánh xe văn minh của nhân loại, những công
trình của các bậc tiền nhân đã bị lỗi thời với thời gian nhưng tên tuổi
của ông vẫn còn nguyên vẹn. Thật vậy, đối với lịch sử Hoa Kỳ, chính
Noah Webster đã có công tạo nên Ngôn Ngữ Riêng cho người Mỹ, dù nó có
nguồn gốc từ tiếng Anh mà thật sự không phải là tiếng Anh nguyên thủy.
Trường hợp này cũng tương tự như Ngôn ngữ Việt Nam, có nguồn gốc từ Hán
Tự và La Tinh nhưng không phải là chữ Hán hay La tinh nguyên thủy.
Cùng
với chiều hướng Độc Lập trên, Tổng Thống đầu tiên của Hoa Kỳ là
Washington đã phát biểu 'Hiệp Chủng Quốc bắt nguồn từ 13 thuộc địa của
Anh nhưng Nay Là Quốc Gia Độc Lập. Vậy tai sao chúng ta cần phải quay
về với Châu Âu hay Luân Đôn để bắt chước họ? Qua đợi chờ xin xỏ phê
chuẩn. Trong đó, sự học hỏi trên, xét cho cùng cũng chỉ là sự quê mùa,
lỗi thời'.
Để đổi lấy nền Độc lập cho đất nước Hoa Kỳ ngày nay,
nhiều đại biểu của 13 Tiểu Bang ly khai đã gục ngã trước súng đạn của
thực dân Anh. Thomas Jefferson được đề cử soạn thảo Bảng Tuyên Ngôn
Nhân Quyền cho Hiệp Chủng Quốc, trong lúc cuộc chiến vẫn đang tiếp diễn
giữa Anh-Mỹ. Thế rồi sau ba ngày tranh luận gay gắt, giữa các đại biểu
trong phòng họp, cuối cùng hội nghị cũng đã bỏ phiếu, thông qua và chấp
thuận Bảng Tuyên Ngôn Độc Lập trên, vào ngày 2-7-1776.
Điều bi
thảm mà tới nay con cháu ít ai biết tới. Đó là vào ngày 4-7-1776 công
bố nền độc lập của Hoa Kỳ được diễn ra trong thầm lặng, chết chóc, máu
lệ khổ đau. Bởi thực dân Anh đâu có để yên cho những người chủ xướng,
nên ra tay triệt hạ tất cả ai lúc đó dám nói tới Độc Lập cho Hoa Kỳ.
Theo
sử liệu, có 56 người đã ký vào Bảng Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Độc Lập
Mỹ. Tất cả đều là sĩ phu trí thức đương thời, biết trước hậu quả về
hành động của mình nhưng bất chấp mạng sống của mình và gia đình, chấp
nhận hy sinh cho đại nghĩa dân tộc, đất nước.
'Nhân sinh tự cổ thuỳ vô tử
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh'
Làm
người mà chỉ biết hưởng thụ thì dù có nhà cao cửa rộng, sống tới 100
tuổi, cuộc sống và kiếp người, đâu có gì đáng nói? Bởi vậy, đã có nhiều
người chấp nhận dấn thân, trong số này có Francis Hopkinson quê New
Jersey là một tài hoa hiếm có. Ông chính là tác giả của Lá Quốc Kỳ Mỹ
được lưu hành và tồn tại tới ngày nay. Tóm lại tất cả những người trong
cuộc đều có gia đình, lớn tuổi nhất là Benjamin Franklin (70 tuổi) và
ba người chỉ mới 20 tuổi.
Ngay khi phát giác được Bảng Tuyên
Ngôn Độc Lập, Thực dân Anh lồng lộn điên cuồng, ra lệnh truy tìm và hạ
sát những người có tên trong đó. Ngoài ra còn treo giá 500 Bảng Anh cho
ai chỉ điểm, phát giác họ. Cuối cùng Anh tuyên bố Treo Cổ Tất Cả.
Do
sự khủng bố trên nên hầu hết những người liên hệ tới Bảng Tuyên Ngôn,
lớp chết, lớp ở tù. Nhiều người bị thương tật khốn khổ vì sự tra tấn
đánh đập dã man của kẻ thù, khiến cho nhà tan cửa nát, gia đình ly tán.
Trong số ít ỏi sống sót sau này, hai người đã trở thành Tổng Thống Mỹ
là John Adams và Thomas Jefferson. Cái giá độc lập của Hoa Kỳ là thế
đó, mà những người khai sinh ra nó phải đổi bằng mạng sống, máu lệ đem
về. Cho nên các thế hệ sau ai nấy đều vô cùng cảm kích và trang trọng
noi theo truyền thống yêu nước của tổ tiên mọi thời. Đó là kết quả của
quốc gia Hoa Kỳ ngày nay, một miền đất tạp chủng nhất trên thế giới,
lại là đệ nhất siêu cường, một xứ sở tự do cá nhân nhưng ai cũng biết
dừng lại trước giới hạn của mình đối với quyền lợi chung của Tổ Quốc.
Cho nên đừng phân biệt Dân Chủ hay Cộng Hoà, Kissinger hay Rice. Tất cả
tuy hai mà một vì ai cũng chỉ có quyền lợi của dân tộc và đất nước Hoa
kỳ mà thôi.
2- Tòa Bạch Ốc Tại Thủ Đô Liên Bang Hoa Thịnh Đốn
Cho
tới thế kỷ thứ XX, dự thành công của nhân loại, đứng đầu cũng vẫn là
các công trình kiến tạo, được con người bắt đầu xây dựng ngay từ thời
thượng cổ. Thời kỳ đầu tiên, theo sử gia Hy Lạp Antipater, lúc đó đã có
7 kỳ quan là Kim Tự Tháp Cheop ở Ai Cập, Vườn treo Babylone tại
Mésopotamie, Đền Nữ Thần Artemis, Tượng Thần Zéus ở Olympia (Hy Lạp),
Mộ Vua Mausole tại Halicarnasse, Tượng Thần trên Đảo Rhodes và Hải đăng
Alexandria tại Ai Cập. Do các công trình thời xưa rất hiếm hoi, nên sự
lựa chọn để xếp vào kỳ quan thật dễ dàng. Do đó hầu như tất cả đã bị
lãng quên vào quá khứ để nhường chỗ cho các công trình mới tân tiến và
vĩ đại hơn của nhân loại, trong đó có sự góp mặt của nhiều nuớc Á Châu
như Trung Hoa, Đài Loan, Nhật Bổn, Dại Hàn, Mã Lai Á.
Mới đây,
nhà xuất bản The Preservation Press đã phối họp với các đại nhật báo Mỹ
US Today, Miami Herald, Tampa Tribune... mở một cuộc thăm dò rộng rãi ý
kiến trong dân chúng để lựa chọn Hai Chục Công Trình Xây Dựng được ưa
thích nhất tại Hoa Kỳ. Tất cả các kiến trúc trên đều có liên hệ mật
thiết tới những trang lịch sử dựng và giữ nước của tiền nhân. Điều này
đã nói lên tình yêu nước nồng nàn của đồng bào cả nước đối với di sản
của quốc gia họ.
+ Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Toà Bạch Ốc
Từ
ngày lập quốc tới nay, Hoa Kỳ vẫn là một Liên Bang Dân Chủ, chịu ảnh
hưởng của nền chính trị Châu Âu, dựa trên nguyên tắc phân quyền và chủ
quyền thực sự, do lá phiếu của người dân tín nhiệm quyết định. Hiện Mỹ
có 50 Tiểu Bang và Thủ Đô là Washington (Hoa Thịnh Đốn), có diện tích
178 km2, dân số 606.900 người theo thống kê năm 2004. Hằng năm thủ đô
đón tiếp hơn 20 triệu du khách muôn phương, đổ về thắm viếng các công
trình kiến trúc tại đây. Có điều ít ai ngờ được là thủ đô Hoa thịnh Đốn
đã được khai sinh từ một kiến trúc sư tài ba người Pháp, P.C L'enfant,
nhưng sau đó ông đã bị lãng quên vì sự bội bạc của người Mỹ.
Theo
tài liệu từ L'Histoire, thì ngày 11-3-1791, tám năm sau khi 13 thuộc
địa cũ của Anh Cát Lợi được độc lập, trở thành Tân Quốc Gia Hoa Kỳ.
Việc lựa chọn thủ đô cho Liên Bang gặp nhiều trở ngại khi chỉ có một
địa điểm thích hợp. Trong lúc đó khắp lãnh thổ, đâu cũng là những vùng
thích hợp và đủ điều kiện lịch sử, vì sự liên hệ tới cuộc chiến đấu
chống quân Anh như Boston, Philadelphia, Yorktown... được các đại biểu
đề nghị. Tuy nhiên cuối cùng, Hội Đồng Quốc Gia quyết định theo đề nghị
của Thomas Jefferson, một thành viên trong Quốc Hội, đồng thời là Thống
Đốc Tiểu Bang Virginia, chọn một địa điểm trung gian, nằm trong Quận
Columbia để xây dựng thủ đô Liên Bang.
Đây là ý kiến dung hòa
của Quốc Hội được Vị Tổng Thống đầu tiên của Hoa Kỳ, George Washington
(1732-1798), chấp thuận và giao phó việc tìm địa điểm, lập đồ án xây
dựng Thủ đô được chọn, tọa lạc trên hai bờ sông Potomac. Công trình
trên được ủy nhiệm cho một Thiếu Tá Công Binh người Pháp tên Pierre
Charles L'Enfant thực hiện.
Ông sinh ngày 2-8-1754 tại Ba Lê
(Pháp), là con trai của Họa sư Pierre L'enfant, phụ trách xây dựng cung
điện cho Hoàng đế Pháp Louis XV. Xuất thân là một Trung Úy Pháo Binh
của quân đội Pháp. Ông đã cảm khái trước tinh thần yêu nước và sự hy
sinh cao cả của Nghĩa Quân Hoa Kỳ lúc đó, đang chiến đấu anh dũng chống
lại quân Anh. Bởi vậy L'enfant đã tình nguyện theo Đoàn Chí Nguyện
Pháp, sang giúp người Mỹ đang tranh thủ cho nền độc lập xứ sở. Năm
1779, L'Enfant bị trọng thương trong trận ác chiến tại Savannah và bị
Anh bắt làm tù binh, khi cùng đồng đội cố thủ tại cứ điểm Charleston.
Được trao trả cho Hoa Kỳ qua cuộc thương thuyết của Bá tước Rochambeau
và trở thành Sĩ Quan Huấn Luyện đầu tiên của Quân Đội Mỹ.
Ngày
13-12-1971, dự án xây dựng thủ đô Hoa Thịnh Đốn của L'Enfant hoàn tất,
được đệ trình Quốc Hội và Tờ Công Báo Mỹ đăng tải với những lời khen
ngợi, gọi công trình trên như là 'Trung tâm của Lý Trí, Tuyên Ngôn đẹp
nhất của Thế kỷ, Biểu tượng kính yêu của Quốc Gia trẻ trung Hoa Kỳ vừa
được độc lập. Nhưng dù dự án được Tổng Thống Washington rất ưa thích
tán đồng lại bị đám Nghị Viên thới nát lúc đó, vắt chanh bỏ vỏ, cấu kết
với bọn nhà giàu, đầu cơ trục lợi, ém nhẹm trù dập, từ chối. Cuối cùng
L'Enfant đã bị người Mỹ lãng quên và chết trong cảnh nghèo đói thảm thê
vào năm 1825.
Thủ đô Liên Bang được chính thức thừa nhận vào
tháng 12-1800, khi Đoàn Đại Biểu từ các Tiểu Bang tới trú ngụ tại Dinh
Capital. Năm 1900 kỷ niệm 100 thành lập thủ đô. Quốc Hội Mỹ cử một Ủy
Ban lo phát triển và xây dựng thủ đô trong tương lai. Nhân dịp này, các
vị lãnh đạo Hoa Kỳ đã tuyên bố rất hối tiếc trong quá khứ, đã phủ nhận
Đồ Án Xây Dựng Thủ Đô của Hoạ Sư L'Enfant, nên ngày nay phải tốn nhiều
công sức và ngân khoản tu sửa lại thành phố. Đồng thời người Mỹ cũng
quyết định Cải Táng Hài Cốt của L'Enfant từ một khu nghĩa địa nghèo nàn
về Nghĩa Trang Quốc Gia Arlington, để Ông được nằm chung với các đấng
Anh Hùng liệt Nữ của nước Mỹ, ngày đêm nhìn ngắm lâu đài, phố thị nguy
nga, núi sông hùng tráng bên hai bờ Potomac.
Đây là một thành
phố độc lập về hành chánh mang tên là Washington D.C. (District of
Columbia), để phân biệt với Tiểu Bang Washington ở phía tây bắc Hoa Kỳ,
giáp giới với Canada. Do không lệ thuộc vào bất cứ tiểu bang nào, nên
thủ đô hiện phải đương đầu với tỷ lệ tội phạm đứng đầu cả nước, mặc dù
đây là trung tâm đầu não, tượng trưng cho quyền lực của Hoa Kỳ. Có
nhiều lý do giải thích như thành phố có quá nhiều người da đen sinh
sống tại trung tâm, trong khi hầu hết giới trung lưu da trắng thích cư
ngụ ở vùng ngoại ô yên tĩnh. Mặc khác hệ thống an ninh tại đây luôn bị
chòng chéo, đụng chạm giữa lực lượng của địa phương và Liên Bang, tạo
nhiều kẽ hở trong công tác chung là trấn áp các tội ác.
Thủ đô
tập trung tất cả các cơ cấu của chính quyền liên bang với những dinh
thự nguy nga và các đền đài hùng tráng, nằm dọc hai bên Đại lộ
Constitution, bên bờ sông Potomac. Còn có Tòa Bạch Ốc trên Đại lộ
Pennsylvania. Điện Capitol, nơi đặt Trụ sở Quốc Hội Mỹ, được khánh
thành từ năm 1867. Thư viện Quốc hội (Library of Congress) lớn nhất thế
giới, xây dựng năm 1800, kế đó là Tối Cao Pháp viện (Supreme Court)..
Ở
đây còn nổi tiếng qua các đài kỷ niệm với lối kiến trúc hài hòa nhưng
vô cùng độc đáo. Đài tưởng niệm TT Washington có 898 bậc thang cao 150
m, giống như một tháp bút giữa trời. Đài kỷ niệm TT Lincoln là một ngôi
tượng khổng lồ, tạc bằng đá cẩm thạch cao 57m. Trong khi đó bức tượng
của Jefferson được đúc bằng đồng, ngự trong một đại sảnh với mái vòm
đứng trên những hàng cột tròn. Nhưng cảm động và có nhiều du khách tới
thăm viếng hiện nay, vẫn là Đài Kỷ Niệm Những Chiến Binh Hoa Kỳ đã hy
sinh tại chiến trường Đông Dương, trong cuộc chiến bảo vệ tự do độc lập
cho các nước VNCH, Kampuchia và Lào, trước cuộc xâm lăng của Cộng Sản
Đệ Tam Quốc Tế, do Hà Nội đảm nhận, từ 1960-1975. Đài này nằm trên Đại
lộ Constitution với biểu tượng Ba Người Lính sát cánh bên nhau trong
chiến đấu, bên trong có những bức tường đá hoa cương đen, khắc tên
58.000 tử sĩ đã hy sinh vì nước.
Ngoài ra Khu kỷ niệm Tổng
Thống Lincoln tại Hoa Thịnh Đốn, cũng được đánh giá là một trong 20
công trình xây dựng nổi tiếng của Mỹ, được kiến trúc sư Henry Bacon
thiết kế và xây dựng từ năm 1922 theo kiểu cách của Cổ Hy Lạp. Trong
công trình này có Pho tượng của TT Lincoln cao 5,8m (19 Ft), do Điêu
khắc gia Daniel Chester sáng tạo.
+ Tòa Bạch Ốc
Là nơi
cư ngụ và làm việc của 42 vị Tổng Thống Hoa Kỳ, từ người đầu tiên là TT
John Adams (1797-1801), cho tới đương kim Tổng Thống G.W. Bush (2001-).
Riêng Tổng Thống đầu tiên của Mỹ là George Washington (1789-1797), từ
trần trước khi Tòa Bạch Ốc hoàn thành. Công trình được khởi công từ năm
1792 tới năm 1799 mới xong, do Kiến Trúc Sư Janet vẽ đồ án và thiết kế.
Đây là Trung tâm quyền lực chẳng những của Mỹ mà là cả thế giới, nên
thu hút rất nhiều du khách trong và ngoài nước tới tìm hiểu thăm viếng,
những bí mật của Tòa Dinh Thự nhưng ít ai biết được gì đã xãy ra bên
trong, sau lằn cửa khép.
Dù Washington là nguời đã đặt viên đá
đầu tiên để xây dựng tòa nhà nhưng ông đã mất trước khi được khánh
thành. Nên vị Tổng Thống thứ nhất vào cư ngụ trong Dinh lại là John
Adam và Đệ Nhất Phu Nhân là Abigail Adam. Gọi là Tòa Bạch Ốc vì toàn
thể dinh thự được sơn màu trắng, nên từ ngoài nhìn vào rất lạnh lẽo cô
đơn. Ngày 24-8-1914, quân Anh tấn công thủ đô Hoa Thịnh Đốn và đốt rụi
Tòa Bạch Ốc, nên Kiến trúc Sư Janet Hoban lại phải tái tạo và sơn phết
lại toàn diện. Theo Robert Riplay, tác giả "Sưu Tập Những Chuyện Kỳ
Lạ", thì danh từ Tòa Bạch Ốc, xuất xứ từ ý tưởng của Tổng Thống
Washington, muốn kỷ niệm mối tình thơ mộng giữa ông và bà Martha
Curtis, lúc đó hai người đang sống tại Trang Trại White House, bên bờ
sông Pamunkey, thuộc Tiểu Bang Virginia.
Khởi đầu, tòa dinh thự
chỉ có 132 phòng nhưng qua lần sửa chữa vào năm 1940, mới được phân
biệt thành các khu vực riêng biệt. Hiện nay mỗi buổi sáng từ thứ hai
tới thứ sáu, đều có nhiều phái đoàn du lịch cũng như quan khách, tơi
thăm viếng những cơ sở của chính phủ, nằm dưới tầng trệt. Khu vực phía
tây lầu là nơi sinh hoạt của tổng thống và gia đình. Khu này nổi tiếng
nhất là các Phòng Green Room, dùng làm phòng ăn thời TT Bill Clinton.
Đây là nơi quàng xác Willie Lincoln, con trai của TT Lincoln mất lúc 11
tuổi vì bệnh thương hàn. Đó cũng là nơi gặp gở giữa hai đệ nhất phu
nhân Nancy Reagan (Mỹ) và Raisa Gorbachev (Liên Bang Sô Viết), khi Tổng
Bí Thư LBXV Gorbachev tới thăm viếng Hoa Kỳ. Phòng Bầu Dục (Blue Room)
là phòng Khánh Tiết, nơi tiếp xúc hầu hết các Phái đoàn Ngoại giao các
nước, mới đây có Thủ tướng VC Phan Văn Khải tới thăm Mỹ vào tháng
6-2005. Phòng Đỏ (Red Room) là khu vực đặc biệt, nên còn được gọi là
Dolles Madison, sử dụng nhiều mục đích.
Nhưng quan trọng hơn
hết vẫn là Phòng ngủ của cố Tổng Thống Lincoln. Chính nơi này ngày xưa,
ông vừa dùng làm nơi ăn, ngủ và hội họp với các thành viên trong Nội
Các. Cũng chính nơi này, vào năm 1863 Tổng Thống Abraham Lincoln đã ký
vào Văn Bản Tuyên Bố Giải Phóng Nô Lệ tại Liên Bang Hoa Kỳ. Sau này chỉ
có hai Tổng Thống Theodore Roosevelt (1901-1909) và Woodrow Wilson
(1913-1921) là dám ngủ tại đây, vì ai cũng sợ hồn ma của TT Lincoln,
theo lời đồn đãi thường xuất hiện.
Tòa Bạch Ốc là nơi linh
thiêng nhất của nước Mỹ, vì tất cả tồn vong của nhân loại như xuất phát
tại đây, một trung tâm quyền lực tối cao vô thương, điển hình là cuộc
chiến Đông Dương lần thứ hai (1960-1975) và Cuộc Chiến Biên Giới
Việt-Hoa (1979-1989). Thế nhưng từ khi Tổng Thống Bill Clinton trở
thành chủ nhân ông của nước Mỹ (1993-2001), đã biến nơi này thành một
Khách Sạn siêu đẳng, với các dịch vụ công khai như cho thuê phòng ngủ
của TT Lincoln, tổ chức các tiệc tùng, với mục đích kiếm tiền vận động
cho Đảng Dân Chủ, trong các cuộc bầu cử Tổng Thống và Quốc Hội.
Theo
các tài liệu được báo chí Mỹ công bố hồi tháng 3-1997, thì giá cả trong
khách sạn White House rất bóc lột: 50.000 USD cho bất cứ ai muốn uống
một ly cà phê sáng với TT. Clinton cùng các quan chức cao cấp trong
Hành Pháp. 100.000 USD để được đánh Golf với Tổng Thống và 250.000 USD
cho 24 giờ ăn, chơi, nhậu nhẹt và ngủ lại tại Phòng TT Lincoln. Qua
thống kê của tờ New York Post, thì suốt thời gian nhậm chức của TT Bill
Clinton, đã có hơn 1000 thượng khách hưởng ứng chương trình chiêu đãi
trên. Hầu hết là những thành phần tai to mặt lớn lắm bạc nhiều vàng
đương thời như Barbra Streisand, Steven Spielberg, Tom Hanks, Jane
Fonda, Leuwasser Mann, Billy Graham.. đều đã ngủ qua đêm tại Tòa Bạch
Ốc. Dù hành động phạm pháp trên đã bị Quốc Hội điều tra Đảng Cộng Hòa
tố cáo nhưng Clinton và Gore, vẫn tuyên bố với báo chí là họ rất lấy
làm hãnh diện khi được đón tiếp các nhân vật quan trọng, trong cũng như
ngoài nước, để vào vui chơi, ăn nhậu và ngủ đêm trong Dinh Tổng Thống,
dù họ đã phải trả bằng nhiều tiền.
+ Bảo vệ Tổng thống Mỹ
Nhưng
đối với người Mỹ không thuộc thành phần trên, thì mọi việc lại khác, kể
cả các nhà báo cũng không thể nào chụp hình bất kỳ một thành viên nào
trong gia đình của Tổng Thống Mỹ, ngoài khuôn khổ rất ngặt nghèo mà Tòa
Bạch Ốc qui định. Trong các buổi lễ lớn, những tiệc tiếp tân, các cơ
quan truyền thông bị tập họp một chỗ sau hàng rào chắn cản, khiến họ
chỉ còn ghi lại được hình thức bên ngoài rồi từ đó mao tôn cương, vì
không thể nào khai thác nội dung chính trị của nó. Hình ảnh của Tổng
Thống và gia đình, cũng được kiểm soát chặt chẽ tới cả góc độ của ảnh,
nên nhiều người phải bỏ cuộc vì không làm xoay sở được khả năng của
nghề phóng viên, chụp ảnh, ngoại trừ các tay chuyên môn chụp lén.
Hằng
ngày trên báo chí và truyền hình Mỹ, luôn luôn có những chuyện lớn nhỏ
va chạm tới vị nguyên thủ quốc gia. Đây cũng chỉ là chuyện bình thường
theo quan niện tự do dân chủ của Hoa Kỳ. Nhưng đó là hình thức, vì sự
thật không phải là vậy, nhất là đối với Hiệp Chủng Quốc, Tổng Thống
được dân tín nhiệm bầu lên, nên có địa vị quan trọng bậc nhất, phải
được bảo vệ. Đó là một nhiệm vụ thật là khó khăn, nặng nề.
Từ
sau cuộc nội chiến Nam-Bắc Mỹ, bắt đầu năm 1901, việc bảo vệ Tổng Thống
và gia đình được giao cho Sở An Ninh thuộc Bộ Ngân Khố Hoa Kỳ. Những
người được tuyển dụng vào Đơn vị đặc biệt này, đã phải qua một cuộc
khảo nghiệm lựa chọn rất nghiêm ngặt bằng các điều kiện qui định như
tuổi từ 24-30, tốt nghiệp Đại học, từng phục vụ trong quân đội, có hình
dạng tuấn tú, cử chỉ lịch thiệp.
Đội quân trên có quân số
chừng 300 người, đảm nhận tất cả các công tác tại Tòa Bạch Ốc, là nhân
viên nổi hay chìm tùy theo chức phận đang giữ. Trước khi chính thức
được thuyên chuyển về nhiệm sở trên, các nhân viên đã trải qua thời
gian thực tập, từ 2-3 năm, tại 57 Cơ quan Dã chiến của Sở An ninh và
tốt nghiệp một khóa học đặc biệt về các chuyên môn sắp được giao phó.
Tóm lại nhiệm vụ bảo vệ Tổng Thống Hoa Kỳ, bao gồm từ hành động A-Z,
trong đó có cả phần điều tra, theo dõi, những kẻ viết thư nặc danh,
chửi bới, hăm dọa Tổng thống. Năm 1955, TT Eisenhower tới Genève họp
thượng đỉnh, nhân viên An ninh đã tới địa điểm trên hàng tháng trước,
để an bài lại tất cả mọi công tác, từ chỗ ngủ, sân golf, hý trường,
phòng họp... đều được điều nghiên một cách nghiêm chỉnh và hiệu lực.
Trước
khi Sở An ninh Bảo Vệ Tổng Thống ra đời, 3 trong số 9 vị TT Mỹ đã bị ám
sát nhưng từ năm 1901 về sau, chỉ có hai vị Tổng Thống đang tại chức bị
ám sát, đó là John Kennedy (chết năm 1963) và Ronald Reagan bị thương.
Cùng thời gian, khắp thế giới đã có nhiều vị nguyên thủ quốc gia như
Vua, Hoàng Hậu, Thái Tử, Tổng Thống, Thủ Tướng, các chính khách bị
giết. Bởi vậy dù bị nhiều chính phủ phản đối dữ dội, qua các biện pháp
thi hành của Sở An ninh BVTT Mỹ. Thế nhưng Hoa Kỳ vẫn phớt tỉnh và luôn
thi hành đúng nguyên tắc và nhiệm vụ của mình.
+ Văn phòng tình báo riêng của Tòa Bạch Ốc
Theo
tường thuật của báo chí, cơ quan này có tên là White House Situation
Room, viết tắt là WHSR (Phòng tình huống Dinh Tổng Thống), ở trong lòng
đất về hướng tây nam của Tòa Bạch Ốc. Cơ quan này không lớn lắm, chỉ
gồm một Phòng Họp và hai phòng làm việc nhưng được thiết kế như mạng
nhện bằng các dụng cụ truyền tin điện tử tối tân nhất. Cơ quan này được
chính Tổng Thống John Kennedy cho thành lập vào năm 1961, sau khi CIA
bị thất bại trong chiến dịch đổ bộ vào Cu Ba tại Vịnh Con Heo. Phòng
gồm 5 Tổ Tình Báo, làm việc 24/24 giờ/1ngày và suốt năm không có ngày
nghĩ.
Nhiệm vụ chủ yếu của WHSR là Tổng Hợp và Ghi chú tất cả
những sự kiện quan trọng, đệ trình Tổng Thống và các yếu nhân tham khảo
nghiên cứu. Đây là một nhiệm vụ đầy gian khổ và phải chịu nhiều áp lực
từ mọi phía. Nhân viên của Phòng được thuyên chuyển từ các nơi về, đa
số đều trẻ tuổi, phải phục vụ thời gian 2 năm nhưng hầu hết đều mong
mãn hạn để trở về đơn vị gốc. Tuy nhiên đây là cơ hội để thăng tiến sau
này, vì họ thường xuyên và trực tiếp gặp gỡ Tổng Thống hay các yếu nhân
để báo cáo tin tức hằng ngày, mà quan trọng nhất là Công Tác Báo Cáo
Buổi Sáng (Morning Book), có liên quan tới Bộ Quốc Phòng và nhiều Bộ
khác. Đồng lúc là công tác Tổng Hợp tất cả các bức Điện Văn của những
Tòa Đại Sứ, Lãnh Sự Hoa Kỳ ở hải ngoại gởi về, để Tổng Thống nắm rõ các
chi tiết, sử dụng vào Phiên Họp mỗi ngày, lúc 8giờ 30, với Hội Đồng An
Ninh Quốc Gia.
Theo các tài liệu lưu trữ phổ biến, thì dù WHSR
không phải là cơ quan duy nhất cung cấp tin tức cho Tổng Thống, vì bên
cạnh còn có CIA cũng báo cáo tóm tắt thường ngày cho Vị Nguyên thủ Quốc
Gia (President's Daily Brief), nhưng qua các đời TT Reagan, G. Bush,
Clinton đều ưa thích các báo cáo của WHSR, cũng như CIA. Tóm lại Cơ
quan này là đơn vị thừa hành mệnh lệnh của Cố vấn An ninh Quốc Gia,
ngoài ra họ còn đặc biệt thiết lập đường dây điện thoại nóng của Tổng
Thống Mỹ, liên lạc với các nguyên thủ quốc gia khác trên thế giới, với
nhiệm vụ ghi chép, thông dịch và bảo mật các cuộc điện đàm của Tổng
Thống.
+ Bầu cử Tổng thống Mỹ
Hoa Kỳ là một quốc gia tự
do, nên có rất nhiều đảng phái hoạt động, tuy nhiên chỉ có hai chính
đảng là Dân Chủ và Cộng Hòa. Theo truyền thống, thì đảng Cộng Hòa luôn
được giới tài phiệt ủng hộ, còn đảng Dân Chủ được trí thức, giới trẻ và
tầng lớp dân nghèo ưa thích. Tuy nói là dân chủ tự do nhưng có một
nghịch lý tại đất nước này. Đó là tuyệt đại người Mỹ không thích đi bầu
cử. Điều này đã khiến cho Hoa Kỳ, từ trước tới nay, chưa có một vị Tổng
Thống nào đạt được số phiếu tuyệt đối.
Do tình trạng trên, nhiều
Tu Chính Án đã được bổ sung liên tiếp, để mở rộng quyền Bầu và Ứng Cử.
Năm 1870 xóa bỏ sự phân biệt chủng tộc. Năm 1920 Phụ nữ được quyền đi
bầu. Năm 1964 công dân không đóng thuế vẫn được đi bầu. Năm 1971 hạ
thấp tuổi đi bầu xuống tuổi 18. Dù vậy tỉ số người dân đi bầu cũng
chẳng thay đổi là mấy. Bằng chứng là năm 1964, Lyndon B. Johnson là vị
tổng thống Mỹ đầu tiên, đạt được số phiếu đi bầu nhiều nhất, nhưng cũng
chỉ có 37,8%. Riêng tổng thống Martin Van Buren đắc cử năm 1836 với số
phiếu đi bầu thấp nhất, chỉ có 11,4%.
Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787
qui định nhiệm kỳ tổng thống là 4 năm nhưng không nói tới thời gian
được phép tái tranh cử. Ngày 12-4-1945 mới có Tu Chính Hiến Pháp số 22,
được ban hành ngày 27-2-1951, ấn định Tổng Thống Hoa Kỳ chỉ được tối đa
Hai Nhiệm Kỳ.
Hiện nay có nhiều ý kiến nhận xét việc Ứng và
Tranh cử Tổng Thống Mỹ quá phức tạp so với Tây phương, cho dù cả hai
đều cùng theo một thể chế. Nhưng theo quan niệm của người Mỹ, thì việc
chọn người ra tranh cử chức Tổng Thống, mới là điều hệ trọng nhất trong
tiến trình bầu cử. Vì vậy việc này chỉ được diễn ra trong Nội Bộ các
Đảng Phái Chính trị, từ tháng 1-8, gọi là Bầu Cử Sơ Bộ và Đại Hội Đảng.
Người được đề cử ra tranh chức tổng thống, phải đạt được hơn 50% số
phiếu của Đại Biểu đi bầu. Cũng vì các thể thức và nguyên tắc quá phức
tạp, nên năm 1924, đảng Dân Chủ phải bỏ phiếu tới lần 103 mới chọn được
ứng viên. Riêng các ứng cử viên độc lập thì không cần nguyên tắc trên
nhưng không bao giờ hy vọng đắc cử vì đâu có hậu thuẫn của các đảng
chính trị.
Ngày bầu cử Tổng thống Mỹ trên toàn quốc, được diễn
ra vào ngày thứ Ba đầu tiên của tháng 11 Dương lịch. Công dân Mỹ trực
tiếp bầu các đại diện cử tri, ứng vào số Nghị Sĩ Liên bang hiện nay là
540 người (438 Hạ viện + 100 Thượng viện + 2 cho Hawaii và Alaska)..
Theo Hiến pháp, các Nghị sĩ và Công chức, không được quyền ứng cử Đại
Cử Tri. Còn Tu Chính Án số 12, qui định khi hai ứng viên Tổng Thống
không đạt được số phiếu bầu tuyệt đối hay số phiếu bằng nhau, thì Hạ
Viện sẽ bỏ phiếu Bầu một trong hai người làm Tổng Thống. Cuối cùng nếu
mọi sự vẫn không giải quyết được, thì tới ngày 4-3, Phó Tổng Thống
đương nhiệm Sẽ lên thay Tổng Thống.
Vì sợ các tổng thống Mỹ
được dân chúng bầu trực tiếp, họ sẽ có uy tín và thực quyền lớn, sinh
ra độc tài và lấn áp quốc hội., nên những người làm luật mới bày ra
cách bầu cử gián tiếp bằng Thể Thức Đại Cử Tri. Tuy nhiên đã có nhiều
rắc rối khiến cho người dân càng thêm bất mãn. Đó là năm 1876, Samuel
J.Tilden (Cộng Hòa) được 4.284.757 phiếu hơn Rtherford B. Hayes (Dân
Chủ) nhưng Hayes lại đắc cử, vì hơn Samuel một phiếu của Cử tri đoàn.
Bi kịch lại tái diễn hiện nay, qua hai lần tranh cử của W.Bush và Gore
cùng John Kerry, làm cho người dân thêm phê phán. Nhưng với một Hiến
Pháp sắt đá như Hoa Kỳ, thì sự thay đổi rất khó thực hiện được.
3- Vòng Quanh Nước Mỹ Trong Ngày Độc Lập 4-7 Của Hoa Kỳ
Chiến
trạnh lạnh giữa Hoa Kỳ và Liên Xô đã kết thúc, để lại những dấu ấn trên
đời sống của người Mỹ một cách sâu đậm và thiết thực nhất, mà theo nhận
xét chung, không gì hơn được Hệ Thống Siêu Xa Lộ trên toàn quốc, nay
trở thành biểu tượng của nền văn hóa quốc gia. Nhờ nó mới phát sinh ra
vô số vùng ngoại ô, tạo nên công nghiệp ngành sản xuất xe hơi đủ loại,
để chuyển vận người và hàng hóa khắp lục địa. Việc mở mang đường xá tại
Hoa Kỳ đã có từ thập niên 30 của thế kỷ XX nhưng chính Tổng Thống
Eisenhower là người đã đưa nó vào hiện thực, qua kinh nghiệm học hỏi
được khi ông còn là một tướng lãnh chiến đấu tại Âu Châu, trên lãnh thổ
nước Đức.
Vào cuối thập niên 1990, Liên Bang Mỹ đã khánh thành
Hệ Thống Xa Lộ toàn quốc mang tên Eisenhower, có chiều dài 72.000 km,
được xây dựng theo tiêu chuẩn đồng nhất: mỗi lằn xe chạy rộng 12 feet
(3,65m), với tốc độ ấn định từ 45-55 mile (80-112 km/giờ), tối thiểu
mỗi chiều có 2 lằn xe chạy. Đặc biệt Siêu Xa lộ không có đèn đường hay
ngã tư cắt ngang, thường hai bên đường chỉ có các nhà trọ và các hàng
quán bán đồ ăn nấu sẵn.
Tuy cùng là những di dân trên đất Mỹ
nhưng người Châu Á (Hoa, Nhật, Cao Ly, Thái Lan, Ấn Độ..) trong đó có
người Tị Nạn Cộng Sản VN, suốt 31 năm qua, đã góp phần không nhỏ, làm
đổi thay đời sống xã hội Hoa Kỳ, qua quá trình hoàn thành các Các Cộng
Đồng Người Việt tại các Thành phố có đông người Việt cư ngụ như San
José, Los Angles, San Francisco, Little Sai Gòn (California), Texas,
Washington DC, New York..
+ New York, thành phố lớn nhất nước Mỹ
Trước
năm 1974, New York có Tòa nhà cao nhất thế giới. Đó là Empire State
Building với 102 tầng, cao 443m, nằm trên Đại lộ thứ 5, giữa khu thương
mai Manhattan. Được hoàn thành bởi các kiến trúc sư Shreve, Lamb và
Harnon, thiết kế theo kiểu cách Art-Déco năm 1930. Những bộ phim ghê
rợn loại King Kong được thực hiện tại đây.
Từ sau khi Hai Tháp
của Tòa Nhà World Trade Center bị 19 tên khủng bố Hồi giáo cực đoan
dánh bom tự sát bằng máy bay, vào ngày 11-9-2001, làm chết gần 7000
người và sụp đổ toàn diện, thì Empire State Building lại trở thành tòa
nhà cao nhất nước Mỹ. Đây là nơi thu hút du khách trong và ngoài nước,
khi tới thăm viếng thủ đô tài chánh của Hoa Kỳ, với những cảm giác
mạnh, khi đứng trên hai đài quan sát tại tầng số 86 và 102., với hệ
thống thang máy chuyển động rất nhanh. Đài quan sát có song sắt bảo vệ
ở phía ngoài, để tránh những tai nạn đáng tiếc. Nơi này cũng cấm hôn
hít với lý do là nụ hôn sẽ tạo nên hiện tượng điện giật làm chết người.
Từ đây du khách có thể chiêm ngưỡng được toàn cảnh thành phố, trong
phạm vi 120 km khi trời tốt, bằng không từ trên nhìn xuống chỉ thấy mây
trắng mịt mùng, khói sương lãng đãng, khiến cho ta có cải cảm giác như
đang sống trong ở cõi trên, quên đời quên tất cả.
Theo thống kê,
tính từ ngày được khánh thành vào năm 1931 tới nay, đã có hơn 80 triệu
du khách tới thăm viếng tòa nhà nổi tiếng này, được xếp vào kỳ quan thứ
8 của thế giới, tốn hết 60.000 tấn thép, 1860 bậc thang dẫn từ dưới đất
lên tới đỉnh ở tầng 102, hơn 5000 km đường dây điện thoại, 96 km đường
ống dẫn nước và 6500 cửa kính, được lau chùi thường xuyên.
New
York có Rockerfeller Center, gồm 19 tòa cao ốc của tỷ phú Rockerfeler
chuyên về thương mại, giải trí và buôn bán bất động sản. Ở đây còn có
Viện Bảo Tàng Guggenheim là công trình xây dựng của Kiến trúc sư nổi
tiếng nhất nước Mỹ và thế giới là Frank Lloyd Wright. Còn có Trung tâm
tài chánh chứng khoán thế giới Wall Street, nằm trong một dãy phố hẹp,
cổ kính New York Stock Exchange (Thị trường chứng khoán NY), được hình
thành từ năm 1792, từ 24 Hội viên lên tới 1300 ngày nay. Trên Đại lộ
Broadway náo nhiệt, còn có Trung tâm kịch nghệ nổi tiếng, thường trình
diễn những tác phẩm nổi tiếng của thế giới. Trụ sở Liên Hiệp Quốc một
trong những điểm thăm viếng của du khách, nay cũng được hạn chế tối đa
để đề phòng khủng bố, sau ngày 9-11-2001.
Nhưng niềm tự hào của
người dân New York nói riêng và nước Mỹ, vẫn là Tượng Nữ Thần Tự Do,
tay cầm ngọn đuốc sáng, để soi đường dẫn lối, cho các đoàn tàu vượt Đại
Tây Dương vào Hải Cảng New York.
Đây là một trong những biểu
tượng vĩ đại nhất của nước Mỹ, được đặt trên Đảo Bedloe còn gọi là
Liberty Island, bên bờ biển New York. Tượng tượng trưng cho sự tự do,
liêm chính và lòng nhân ái của người Mỹ khi lập quốc. Với chiều cao từ
nền tới bó đuốc là 92,97m và trọng lượng 325 tấn, do Điêu khắc gia lừng
danh người Pháp trong thế kỷ XIX là Augusste Bartholdiv thực hiện. Đây
là món quà quý giá của nước Pháp, tặng cho người dân Mỹ, để kỷ niệm
Ngày Độc Lập Hoa Kỳ 4-7. Nhưng vì lúc đó Pháp đang có chiến tranh với
Phổ, nên phải giao việc thực hiện tượng cho các hội từ thiện đảm trách.
Vì
công trình quá vĩ đại mà ngân khoản của chính phủ trợ cấp có giới hạn,
nên công tác phải gián đoạn nhiều lần cũng như mất nhiều thời gian để
tiết kiệm tiền.Vì vậy tới ngày 12-8-1876 chỉ mới hoàn thành xong cánh
tay cầm ngọn đuốc của Nữ thần. Để tranh thủ thời gian cho kịp, nhà điêu
khắc phải đóng thùng gửi trước sang Mỹ, trong lúc tiếp tục những phần
còn lại, mãi cho tới tháng 5-1884 mới xong.
Tại Mỹ, dân chúng đã
quyên góp được 250.000 USD để xây chiếc bệ đặt Tượng Nữ thần trên đảo
Bedloe. Một buổi lễ trọng thể được tổ chức ngày 28-10-1886, để khánh
thành pho tượng với sự tham sự đông đảo của đồng bào và các quan chức
Chính phủ. Dịp này Ủy Ban Quốc Hội đã để một chiếc hộp màu đỏ, tượng
trưng cho niềm tin, được niêm kín, trong đó có Bản Hến Pháp và Tuyên
Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ, dưới chân Nữ Thần Tự Do, như một nhân chứng
lịch sử. Tên tuổi của Nhà Điêu khắc Pháp Auguste Bartholdiv được vinh
danh. Từ năm 1931, Tượng lại được bảo trì cẩn mật và tô bồi thêm cho
xứng đáng với ý nghĩa thiêng liêng. Riêng Bó đuốc trong tay Nữ thần,
luôn luôn cháy sáng, nhờ một hệ thống ống dẫn dầu cung cấp liên tục.
Hằng
năm Tượng Nữ thần đã thu hút du khách muôn phương tới đây chiêm ngưỡng.
Đi tàu từ đất liền ra đảo và sắp hàng để được thang máy đưa lên tận
Vương Miện của Tượng, tha hồ chụp hình, ngắm cảnh. Nếu không muốn chờ
đợi, thì tự leo 22 bậc thang để tới chân tượng Nữ thần, để mua những kỷ
vật hay vào thăm khu bảo tàng trưng bày những hình ảnh liên hệ tới lịch
sử của nước Mỹ.
+ California, miền đất ấm
Tính tới nay đã
có hơn ba triệu người Việt tị nạn chính trị, định cư tại Hoa Kỳ. Một số
lớn tập trung tại các thành phố lớn của Tiểu Bang nắng ấm California
như San Francisco, San Jose, Los Angeleve và nhiều nhất tại Thủ Đô Tị
Nạn: Little Sài Gòn, thuộc Orange County. Đây là miền đất tượng trưng
của Dân tộc VN hiền lành nhân ái, có văn minh văn hiến tình người,
không phải chỉ một Sài Gòn thu nhỏ, mà hàm chứa tất cả tinh hoa Người
và Đất của mọi miền đất nước thân thương, không chấp nhận chủ nghĩa vô
thần Cộng Sản.
San Jose ở miền Bắc California có nhiều người
Việt tị nạn sinh sống. Nếu Tiểu Sài Gòn được mệnh danh là thủ đô kinh
tế Việt thì San Jose là thủ đô chính trị của người tị nạn, tuy sinh
hoạt ít tấp nập và rộn rịp như ở miền Nam. Nhưng đa số đồng bào lại
thích ở San Jose hơn, vì nơi này rất thanh bình hạnh phúc, địa thế lại
nằm trong thung lũng hoa vàng nên có nắng ấm quanh năm, tuy khí hậu có
hơi lành lạnh hao hao như Đà Lạt của quê nhà. San Jose còn dễ kiếm công
ăn việc làm, vì nằm kế Silicon Valley, Trung tâm sản xuất máy tính của
Hoa Kỳ, sào huyệt của Đại Công Ty Apple nổi tiếng khắp hoàn cầu, trong
đó có nhiều kỹ sư người Mỹ gốc Việt (thế hệ thứ hai) đang phục vụ.
Ở
miền bắc Calif còn có Thành phố San Francisco, một thành phố du lịch
nổi tiếng của Mỹ, mỗi năm thu hút nhiều triệu du khách ngoại quốc tới
thắm viếng. Tại đây người ta còn giữ lại nhiều di tích xa xưa như những
chiếc tàu điện chạy bằng dây cáp và đường rầy (Cable Car), với những
hồi chuông luôn đổ, để báo hiệu cho du khách khi xe tới những địa điểm
quan trọng cần chú ý, hoặc đang leo dốc xuống đồi. Đây cũng là nơi phát
sinh ra phong trào Hippy Mỹ thời chiến tranh VN, mà bài hát nổi tiếng
vẫn còn được truyền tụng 'Nớ cài hoa trên tóc, khi tới San
Francisco..'. Bây giờ nó lại là thánh địa của những cặp 'Đồng tình
luyến ái', sinh hoạt chung trong một cộng đồng mang tên 'Castro' qua
màu cờ hình cầu vòng bảy màu, được treo trước nhà các hội viên.
Tới
Francisco, không thể không thăm viếng các địa danh nổi tiếng như China
Town, Bến Ngư Phủ (Fisherman's Wharf), Công viên Golden Gate và nhất là
chiếc cầu treo Golden Gate, niềm tự hào của người dân bản địa.
Chiếc
cầu này do kỹ sư Joseph B. Strauss đôn đốc thực hiện. Cầu dài 2824m,
sau năm 1964 đã nhường dịa vị hạng nhất về chiều dài, cho những chiếc
cầu khác trên thế giới như Verrazano Narrows, Akashi, Kaikyo.. nhưng
vẫn giữ kỷ lục về độ cao nhất từ hai cột tháp (746 Ft - 227m), và một
cặp dây cáp treo dài 1200m, có đường kính 1m. Cầu bắt đầu xây dựng hơn
4 năm và khánh thành vào năm 1937, với chiều rộng đủ cho 8 lằn xe xuôi
ngược, cùng với hai hành lang dành cho người đi bộ, nên cũng là địa
điểm thuận lợi và nổi tiếng về hiện tượng tự sát mà thống kê ghi nhận,
đã có hơn ngàn người nhảy sông chết, kể từ ngày thành lập tới nay.
Los
Angeles hiện là thành phố lớn thứ nhì của Hoa Kỳ, không những là thủ đô
của nhiều Cộng đồng di dân Người Mỹ gốc Á Châu như Trung Hoa, Nhật Bản,
Triều Tiên và người Đông Dương Tị Nan Cộng Sản Quốc Tế Việt, Miên, Lào.
Hollywwod
từ lâu nổi tiếng là kinh đô ánh sáng trung tâm sản xuất phim nhựa về
nghệ thuật thứ bảy. Đối với các giới hâm mộ điện ảnh, không ai không
nhớ tới những địa danh quen thuộc như Đại Lộ Hoàng Hôn (Sunset
Boulevard), Beverly Hill... sang trọng với nhà cửa dinh thự của các tài
tử điện ảnh. Nhưng tình nhất vẫn là Chinese Theatre, một rạp hát nổi
tiếng lâu đời, được coi như một nhân chứng của lịch sử điện ảnh Hoa Kỳ,
qua các dấu ấn thời gian từ chữ ký, dấu chân, dấu tay kể cả dấu son môi
của hằng trăm nữ tài tử điện ảnh nổi tiếng bao đời như marilyn Monroe,
Lý Tiểu Long, Madonna, Michael Jackson..
Vào phim trường
Universal tại Hollywood, để chứng kiến tận mắt những xảo thuật dựng
phim giả tạo của đạo diễn, từ các pha nghẹt thở hiểm nguy, mà vai chính
do các 'Stunt men' đóng thế, cho tới kỹ thuật lắp ráp trên màn ảnh,
khiến cho ai cũng có cảm giác như mình đang ở trên mây. Cuối cùng là
Disneyland, vương quốc của các loại phim hoạt hình Walt Disney, trung
tâm giải trí của mọi lứa tuổi, với các khu vực được xây dựng theo chủ
đề nhưng được ưa thích nhất vẫn là các nhân vật thần thoại hay ảo như
Bạch Tuyết với bảy chú lùn, Cô bé quàng khăn đỏ, Thằng người gổ
Pinocchio, chú chuột Mickey, vịt Donald, chó Pluto... Tại đây du khách
còn được đáp chuyến tàu chạy bằng hơi nước, trên con sông đào mang tên
Mississipi, chảy vòng quanh khu vực.
California còn là vùng đất
của học vấn, vì trong tổng số 12 viện đại học danh tiếng nhất hoàn cầu,
thì Hoa Kỳ đã chiếm 8, trong số này có hai của Tiểu bang Cali. Điều này
cũng dễ hiểu vì miền đất này đông dân nhất Hợp Chủng Quốc, với hơn 30
triệu người sinh sống tại đây, lại có một nền kinh tế cao và sung túc,
cho nên hệ thống giáo dục được phát triển mạnh nhất nước.
Đó là
hai đại học công lập University of Calif-Berkeley, thường được viết tắt
là UC Berkeley, cùng với đại học tư Stanford, cả hai đều lớn mạnh. Hiện
nay UC Berkeley có tới 1500 giáo sư giảng dạy và 30.000 sinh viên +
nghiên cứu sinh đang theo học. Trường thành lập từ năm 1868, qua thời
gian đã tạo được một bề dầy thành tích, qua hai lãnh vực trí thức và
chuyên nghiệp, nhát là sự nghiên cứu khoa học, đã mang về cho trường
các giải Nobel danh tiếng về Nguyên tử và tin học.
UC Berkeley
còn có lò phản ứng nguyên tử, do chính tiến sĩ J.R.Oppenheimer thực
hiện, vì ông chính là cha đẻ của quả bom đầu tiên mà Mỹ chế tạo được
vào năm 1945. Calif còn có 8 viện đại học khác, cùng có trình độ và tầm
vóc ngang hàng với UC Berkeley, hợp thành University of Calif (UC) công
lập, do một hội đồng quản trị và điều hành (Regent), đứng đầu là một
chủ tịch và nhiều thành viên, trong đó có Thống đốc tiểu bang, cùng với
các viện trưởng đại học liên hệ. UC đào tạo đủ trình độ như cử nhân
(Bachelor - 4 năm), cao học (Master), tiến sĩ (Doctor) có giá trị văn
bằng, chẳng những tại Mỹ mà còn khắp thế giới. Điều này đối với các đại
học khác tại Calif như UC San Diego, UC Los Angeles, UC Riverside, UC
San Francisco,... cũng không có gì khác biệt, tuy mỗi trường có riêng
chuyên môn của mình.
Song song hệ thống đại học công lập của
liên bang, còn có hệ thống đại học của tiểu bang Calif (CSU), rãi rác
từ nam lên bắc có 23 viện như Humbold, Hayward, Stanislaus, Monrerey
Bay, San Diego.. chỉ đào tạo hai ngạch cử nhân và cao học mà thôi, tuy
rằng trình độ giảng dạy giữa hai viên đại học liên bang (UC) và tiểu
bang (USC) đều giống nhau. Còn phải kể tới các đại học chuyên môn
(College) và cộng đồng (Community College), đều thuộc hệ thống công lập
hạng ba.
Trong khi đó các đại học tư nhân được phát triển tự do,
bao gồm 30 đại học hỗn hợp (University) và Chuyên môn (College), trong
số này có 10 trường của các giáo hội Thiên Chúa, Tin Lành và Thanh Giáo
như đại học Sacramento, Los Angeles, đại học quốc tế, nhưng nổi tiếng
nhất của hệ thống này vẫn là đại học Stanford.
Viện thành lập
năm 1891, hiện có 1400 giảng sư, 14000 sinh viên, 7 phân khoa, được xếp
hạng trong 5 viện đại học danh tiếng nhất của nước Mỹ: Harvard,
Berkeley, Cal Tech và Massachusetts Institute of Technology (MIT). Viện
chuyên đào tạo giáo sư các ngành, giảng dạy tại các trường phổ thông
của Mỹ. Tóm lại, trong hệ thống đại học tại tiểu bang Calif, 90% sinh
viên là người địa phương, số còn lại từ các tiểu bang khác và ngoại
quốc. Người gốc Châu Á theo học chưa tới 3% nhưng chiếm 8% là sinh viên
giỏi, trong số này đứng đầu vẫn là người Việt tị nạn, Trung Hoa, Nhật
Bản và Nam Hàn.
+ Las Vegas, thiên đàng hay đia ngục
Thiên
đàng hay địa ngục tùy theo cảm xúc của con bạc thắng hay thua. Tuy
nhiên theo thống kê của báo chí, thì từ trước tới nay, đã có 90% dân đỏ
đen bị sạt nghiệp vì bạc bài. Nhiều người vỡ mộng, cháy túi sau 4 ngày
miệt mài điên đảo tại Las Vegas. Điều lạ kỳ là hầu hết các con bạc dù
đã bị cháy túi nhiều lần nhưng vẫn cứ vui vẻ trở lại chốn cũ, với hy
vọng gỡ vốn kiếm lời, để rồi lại cứ thất thiểu quay về như bao lần mộng
mị.
Las Vegas là một thành phố phi thời gian, vì tại đây không
hề có một chiếc đồng hồ được treo tại các nơi công cộng. Đây cũng là
dụng ý của các chủ sòng, muốn con bạc đừng thèm quan tâm tới ngày giờ
cho bận rộn cuộc chơi. Các phòng ngủ trong mọi khách sạn cũng được
thiết kế một cách nhạt nhẽo sơ sài, gây chán nản cho khách trọ để họ
mau mau rời giường, xuống ngay sòng bạc sát phạt cuộc đỏ đen.
Khởi
đầu chỉ là một thị trấn nhỏ, nằm trong sa mạc Nevada, có con đường sắt
từ các tiểu bang miền Nam ngược lên vùng tây bắc California để săn tìm
vàng. Những năm nước Mỹ bước vào thời kỳ suy thoái kinh tế, thị trấn
trên cũng chuyển mình bằng cách phân thành 1200 lô đất, bán cho công
chúng và các công ty để đầu tư vào việc xây dựng sòng bạc và khách sạn.
Nơi đó hiện nay trở thành khu phố chính Strip và Glitter Gulch, nằm dọc
theo hai siêu lộ 15 và 95. Chính thức ra đời ngày 15-5-1905, Las Vegas
rộng 293 km2, mang tên 'Đồng Cỏ' vào thời kỳ thuộc Tây Ban Nha, còn bây
giờ người Mỹ gọi la 'Sin City' thành phố tội lỗi. Phi trường quốc tế Mc
Carran, lối dẫn vào thành phố Las Vegas xa 8 km, thật tình không giống
bất cứ một nơi nào trên thế giới, vì được dàn chào gần như khắp nơi
bằng những Máy Kéo Tiền mà người Mỹ gọi là One Armed Bandits, còn dân
chơi cầu ba cẳng thì xưng tụng là Tướng Cướp Một Tay, vì máy nào cũng
chỉ có một cánh tay, cũng là chiếc cần kéo khi bỏ vào máy một đồng 25
xu USD. Sẽ 'Hit the Jackpot' khi nhìn thấy ba hình vẽ giống nhau hiện
trên nền truyền hình, đồng thời với tiếng rổn rảng của các đồng xu chảy
ra từ máy. Nhưng đó chỉ là họa hoằn, vì ngàn người như một, bỏ tiền vào
mà đâu có thấy đồng nào trở lại.
Ngày 2-8-2004 tờ Times cho biết
tỷ phú Kirk Kerkorian đã ký hợp đồng sáp nhập trung tâm giải trí MGM
Mirage của mình với Mandalay Resort Group, thành một đại công ty cờ bạc
lớn nhất thế giới. Còn Harrah's Entertainment đã mua Caesars Enter với
giá 9,25 tỉ USD để khuếch trương to hơn đại công ty trên. Tóm lại hai
tập đoàn cờ bạc và giải trí lớn nhất của hoàn cầu đổ hết tiền bạc vào
Las Vegas, biến nó thành chốn thiên đàng với bốn món ăn chơi đúng
nghĩa, trong đó đâu có thiếu công nghiệp Sex chỉ đứng sau cờ bạc mà
thôi. Hiện MGM Grand đã phá bỏ hai công viên giải trí cũ để xây dựng
những hộp đêm thác loạn đúng nghĩa, mà giới giang hồ quen gọi là 'Chỗ
Bốc Lá', mô hình tương tự như Quán Crazy Horse ở Ba Lê (Pháp). Sex hiện
diện khắp nơi ở Las Vegas qua hình thức nghệ thuật, trong mọi chương
trình của đoàn xiệc Cirque du Soleil thường trực tại Rạp, gần như khỏa
thân và gợi dục. Tại Trung tâm Treasure Island, có màn cướp biển và các
nàng tiên cá bán thân.
Theo Billy Vassiliadis, chuyên viên quảng
cáo thì nhờ Sex đã hấp dẫn hằng triệu du khách Anh, Đức, Nhật, Úc, Nam
Hàn... ùn ùn kéo tới Las Vegas mua vui và đánh bạc. Để cung ứng nhu
cầu, các đại công ty đã mở các chuyến bay trực tiếp từ Âu Châu, Nhật,
Úc, Nam Hàn tới thẳng phi trường quốc tế của thiên đàng đỏ đen là sân
bay Mc Carran, đem bạc tỷ lợi nhuận về cho ông chủ của MGM Mirage, The
Strip, nâng thành phố Las Vegas lên hàng đầu nước Mỹ về sự tăng trưởng
(từ 600.000-1,6 triệu năm 2005) và mức thu nhập trung bình 32.000 USD.
Thiên
đàng hay địa ngục, ai muốn nói gì cũng mặc, trước mắt Las Vegas mỗi năm
thu hút hằng năm hơn 33 triệu du khách muôn phương đổ về để thử thời
vận hay hưởng cảnh nhất dạ đế vương trong thiên đường tội lỗi, đã mang
tới lợi tức cho thành phố hằng năm hơn 5,25 tỉ USD. Hiện Las Vegas có
19 đại khách sạn hàng đầu thế giới, trong đó mỗi nơi là một sòng bạc
(casino) đồng thời là chỗ giải trí trình diễn ca vũ nhạc do các tài tử
thượng thặng khắp năm châu về. Đó là El Rancho ra đời năm 1941,
Flamingo năm 1946 thực hiện cả một khu hoang dã, thả đầy chim Hồng Hạc,
biểu tượng cái tên của khách sạn. Còn Circus Circus lại mang hơi hướng
của những đoàn xiệc lừng danh quốc tế. Vào New York hotel du khách có
cảm tưởng như mình đang sống ở thành phố trên được thu nhỏ với tượng nữ
thần tự do, tay cầm bó đuốc rực sáng đêm ngày.
Nói chung thì
thiên đường nào cũng không bằng các sòng Casino được vây quanh bằng đủ
kiểu, từ các máy đánh bạc ở vòng ngoài cho tới những sòng Roulette,
Poker mà không khí sát phạt hiện thực bằng đồng phỉnh đủ màu, tượng
trưng cho giá trị của USD. Từ năm 1931 tới nay, ngoài cờ bạc đo đen,
Las Vegas còn đảm nhận dịch vụ kết hôn, với thủ tục giản tiện nhất
trong 50 tiểu bang của Mỹ. Ở đây có tiền thì có tất cả, nên chỉ cần vài
phút đợi chờ, người ta có thể lấy hay bỏ nhau còn dễ hơn thay đổi quần
áo. Các tổ chức cưới (Wedding Chapel) phục dịch khách hàng từ A-Z. Dễ
như vậy nên mỗi năm có hơn 100.000 cặp tổ chức đám cưới ở xứ thần tiên
đầy lạc thú, nếu có đủ tiền trả.
Tuy nhiên ngoài cờ bạc, Las
Vegas cũng có nhiều thắng cảnh danh lam như đập nước Hoover, hồ chứa
Mead khổng lồ, hùng vĩ. Hẻm núi đá đỏ Rock Canyon được hình thành từ 65
triệu năm trước. Năm 2001 đã khánh thành Viện Bảo tàng nghệ thuật
Guggenheim trưng bày tranh của các danh họa Picasso và Cézanne cũng chỉ
với mục đích làm cho thành phố bớt đi chút mặc cảm tội lỗi.
+ Honolulu chốn ăn chơi đắt giá nhất của nước Mỹ
Từ
năm 1959, quần đảo Hawaii chính thức trở thành tiểu bang thứ 50 của Hợp
Chủng Quốc, khiến cho người Mỹ khắp nước, ai cũng ao ước tới thăm chốn
thần tiên này một lần. Tại thủ phủ Honolulu hiện có gần 1 triệu dân,
chính phủ liên bang vẫn duy trì khu di tích lịch sử Trân Châu Cảng
(Pearl Harbor), một địa danh ghi nhớ lại trận đại chiến long trời lở
đất của Nhật và Hoa Kỳ vào ngày 7-12-1941. Chứng tích của xác tàu
Arizona trong Hạm đội Mỹ bị Nhật đánh chìm, nay được biến thành một khu
bảo tàng để tưởng niệm hương hồn của hơn 4000 quân nhân Mỹ đã hy sinh
vì nước.
Người Việt định cư ở đây từ năm 1965 cho tới nay, qua
nhiều đợt như theo chồng, du học nhưng tuyệt đại đa số vẫn là Tị Nan
Cộng Sản từ sau ngày 1-5-1975; theo thống kê cả tiểu bang có chừng vài
ngàn người, nhiều nhất là Honolulu, sau đó đảo Maui, Big Island,
Kuwaii, sống đủ nghề nhưng nhiều nhất là lái taxi, bán Manapua, làm
hãng xưởng và khách sạn... nhưng dù hành nghề nào chăng nữa, ngưởi Việt
tị nạn cũng cảm thấy thoải mái vì thời tiết khí hậu hao hao chốn quê
nhà.
Tới du lịch Hawaii, khách chơi thoải mái với quần cụt áo
thun, một truyền thống lâu đời của bản địa. Mọi người sẽ được thở hít
không khí trong lành của trời đất, vẫy vùng nơi sóng bạc biển xanh, tha
hồ thưởng thức các món ăn trân quý của đại dương, mà bất cứ khách sạn
nào cũng có. Đó là sự hãnh diện chung của bất cứ du khách nào khi tới
thăm đảo quốc thần tiên này và ai này khi giả từ cũng đều nói 'Mahalo'
như một lời hứa hẹn trở lại trong nụ cười.
Hỡi ơi đất người nơi
nào cũng đẹp, cũng rộng mở thâm tình. Chắc là vậy cho nên đâu có mấy ai
chịu nghĩ tới là Tổ Tiên Xưa phải dùng xác người, máu lệ và tài sản gia
đình đổi lấy đem về. Cho nên tự do không phải là của bố thí để xin xỏ,
nó cũng không là trái sim chín để ta nằm chờ rụng, cũng không phải là
mộng mơ viễn tượng để đem về bằng ảo giác trong đầu, trên giấy hay lời
nói lúc vui vầy.
Chín năm toàn dân VN kháng chiến chống và đuổi
được thực dân Pháp ra khỏi nước. Hai mươi năm tang tóc trầm luân tại
VNCH chống chọi với cộng Sản Đệ Tam Quốc Tế. Rốt cục VN cũng đâu có
được tự do hạnh phúc.
Bởi vậy đừng nghe những gì Việt Cộng nói,
mà phải nếu có dịp về thăm VN, nên nhìn tầng lớp đồng bào cả nước để
biết việc gì Đảng đã làm được suốt ba mươi mốt năm qua.
Cũng
đừng tin những gì người Mỹ đã nói, cho dù đó là đảng Dân Chủ hay Cộng
Hòa, Ngoại trưởng Kissinger hay Rice, mà phải nhìn lại những tàn tích,
hậu chứng và ngươi dân bản địa, khi Hoa Kỳ tháo chạy tại Đông Dương,
Phi Châu và mới đây tại Iraq.
Không có gì quý hơn độc lập tự do,
đó là một chân lý có ghi trong Bảng Tuyên Ngôn Độc Lập của Mỹ và Pháp.
Nhưng từ trước tới nay VN đâu có tự do, bởi vậy 'Mua ba ký gạo không
cho đem về'. Người Mỹ có tự do, dân chủ nên hàng hóa, sản phẩn văn hóa
từ khắp nơi kể cả VN, đem ra bày bán, ai muốn thì mua. Nhưng VN bây giờ
chưa có tự do, nên dù Mỹ chấp thuận, liệu sách báo, sản phẩm văn nghệ
của người Việt được WTO qui định đem về nước hợp lệ. Tuy nhiên không
biết ai là người bày bán?
Chân lý là vậy đó, cho nên cố Tổng
Thống Nguyễn Văn Thiệu đã nói rất chí lý 'còn nước thì còn tất cả'.
Chúng ta nay còn gì để mơ mộng? ngoài việc về thăm quê xưa, để rồi khi
rời cố quốc, ai cũng phải ngậm ngùi vì đã không còn cơ hội làm một công
dân dưới chế độ xã nghĩa -/-
Xóm Cồn
4-7-2006
MƯỜNG GIANG