Bây
giờ không còn là lúc đặt nghi vấn: Tin tức về mức độ quy mô của những
cuộc đình công tại Việt Nam là chính xác hay không? Bây giờ cũng không
còn là lúc phân tích để lượng định xem những cuộc đình công kia có khả
năng lan rộng trên toàn lãnh thổ hay không? Bây giờ chính là lúc người
Việt Nam trong và ngoài nước nên nghĩ đến câu hỏi: Phải chăng phong
trào đình công tại Việt Nam là một vòng thòng lọng đang ôm lấy yết hầu
của đảng CS Việt Nam? Nhằm đi tìm giải đáp cho thắc mắc vừa nêu, bài
viết này xin được phân tích và nhận định các vấn đề sau đây: Nguyên
nhân, bản chất và giải pháp của phong trào đình công.
I.- Nguyên nhân của phong trào đình công
Năm
1989, CSVN quy định lương tối thiểu của công nhân Việt Nam làm việc cho
những doanh nghiệp có vốn đầu tư của ngoại quốc (gọi tắt: FDI ) là từ
45 đến 50 Mỹ Kim. Mười năm sau nhằm lấy lòng doanh nhân ngoại quốc,
chính phủ CSVN bằng quyết định số 53/1999/QÐTTg ngày 26/3/1999 đã hạ
mức lương tối thiểu của công nhân FDI xuống 35 - 45 Mỹ Kim. Mặt khác,
CS Việt Nam bao giờ cũng cưỡng bách công nhân phải nhận tiền lương với
hối suất 01 Mỹ Kim đổi lấy 13,910 đồng Việt Nam (giá cả thị trường hiện
nay là trên dưới 16,000). Như vậy công nhân bị bóc lột hai lần: Tiền
lương quá thấp và hối suất bị ép giá.
Từ
1999 đến 2006, thu nhập bình quân theo đầu người gia tăng 50%, giá cả
tiêu dùng gia tăng 40% (http://aseansec.org/macroeconomic/aq_ gdp
22.htm). Trong khi đó lương công nhân FDI hoàn toàn bị đông lạnh. Ðiều
này giúp chúng ta hiểu được bằng cách nào CSVN đã đưa mức sống của công
nhân xuống đáy xã hội. Ðây là lý do giải thích tại sao bà Elin Gauffin
(UBan Công Nhân Quốc tế Thụy Ðiển - Committee for workers international
- CWI - Sweden - 02/06/06) đã đưa ra nhận xét: “Công nhân tại Việt Nam
thuộc thành phần bị bóc lột nhất thế giới”. Ðây cũng là lý do khiến cho
Liên Hiệp Châu Âu EU đánh thuế 16% trên số lượng giầy do CSVN xuất khẩu
vào Âu Châu. Châu Âu cho rằng CSVN đã quy định giá giày thấp hơn bình
thường, đã phá giá. Sở dĩ CSVN có khả năng phá giá là vì họ đã tận lực
bóc lột tiền lương của công nhân.
Song
song với việc trả lương chết đói như kể trên, giới chủ nhân FDI còn
hành hạ công nhân Việt Nam qua nhiều hình thức khác nhau: Ðánh đập công
nhân. Không cho công nhân đi vệ sinh trong giờ làm việc. Làm trái ý
chủ, công nhân bị phạt quỳ gối. Phần cơm trưa do FDI cung cấp cho công
nhân bị ghi nhận là “không ăn thì đói, ăn thì ói”. Chủ nhân tùy tiện
tăng giờ làm việc hàng ngày của công nhân, nhưng trả lương cho giờ phụ
trội lại thường bị giới chủ lờ đi... (talawas.org, tuoitre.com.vn, đài
RFA Online ngày 4 tháng 3/2006, Thanh Niên Online ngày 3/3/2006: bài
viết “liên khúc đình công”...).
Hoạt
dộng của kinh tế thị trường tự do đòi hỏi: Mỗi khi có sự xung khắc
quyền lợi giữa chủ và thợ thì nghiệp đoàn liên hệ sẽ đứng ra bảo vệ
quyền lợi của công nhân. Dưới chế độ CS Việt Nam, liên đoàn lao động,
còn gọi là công đoàn (một tổ chức ngoại vi của đảng CS Việt Nam) đã làm
gì để bảo vệ công nhân? Bản tin sau đây là câu trả lời mạnh mẽ dành cho
câu hỏi vừa nêu: “Sáng thứ Năm, ngày 5 tháng 1 năm 2006, tại các khu
chế xuất và khu công nghiệp, lực lượng thanh niên xung phong, đoàn viên
thanh niên Cộng Sản, công an thành phố HCM, công an huyện Thủ Ðức, công
an tỉnh Bình Dương, cán bộ công đoàn, cán bộ liên đoàn lao động... đã
bủa ra khắp mọi nẻo đường nhằm tìm cách phát hiện sớm và ngăn chặn kịp
thời các vụ đình công (lời ông Vũ Huy Cận, Chủ Tịch Liên Ðoàn Lao Ðộng
Thành Phố HCM - tin RFA ngày 9 tháng 1 năm 2006)”. Liên đoàn lao động,
công đoàn hiển nhiên là các loại “công an lao động”. Công đoàn chỉ biết
phục vụ quyền lợi của đảng CSVN và của những chủ doanh nghiệp ngoại
quốc (những người đã “trà nước” rất hậu hỹ cho CSVN). Ðiều oái oăm là
cho tới ngày nay công đoàn vẫn sống nhờ vào đồng tiền thu góp từ tay
công nhân Việt Nam.
Trong
khi công đoàn cộng sản vẫn diễn vở tuồng “ăn cây nọ rào cây kia” thì
tòa án lao động tại Việt Nam đã giải quyết những tranh chấp lao động
như thế nào? Kính mời bạn đọc hướng mắt nhìn về tòa án lao động của
CSVN: “Trong mười năm qua, hệ thống tòa án chưa từng một lần xét xử một
vụ tranh chấp lao động tập thể của người lao động.” (talawas.org ngày
19/1/2006: “Tính Chính Ðáng Của Những Cuộc Ðình Công Bất Hợp Pháp”, tác
giả Lâm Yến).
Công
Ðoàn làm công tác “công an lao động”. Tòa án Lao Ðộng thản nhiên “ngủ
ngồi” mười năm. Sống trong guồng máy lao động không có bộ phận thoát
hơi an toàn, công nhân không còn giải pháp nào khác hơn là hành động
đình công hàng loạt. Ngày 28/12/05 phong trào đình công thực sự làm cho
dư luận chú ý. Chưa tới hai tuần sau đó, ngày 06/01/2006 Thủ Tướng CSVN
Phan Văn Khải đã vội vàng ký quyết định tăng 40% lương tối thiểu cho
công nhân FDI kể từ tháng 2/2006. Thế nhưng chữ ký chưa ráo mực, CSVN
lại ra lệnh đình hoãn việc tăng lương này đến tháng 4/2006. Sự kiện vừa
kể làm người VN nhớ tới một câu chuyện cũ: tháng 5/1975, CSVN đã thông
báo để mọi người hiểu rằng thời hạn “học tập cải tạo” dành cho quân
nhân và viên chức VNCH chỉ là 10 ngày. Trong thực tế, 10 ngày trở thành
một, hai thập niên. Mang chuyện “học tập cải tạo 1975” đem so với lời
hứa tăng lương hiện nay của CSVN, chúng ta không thể tìm thấy điều gì
khác hơn hai chữ “dối gạt”. Ðó là một trong những lý do giải thích tại
sao phong trào đình công tại VN vẫn tiếp tục lan tràn từ Nam ra Bắc.
II.- Bản chất chính trị của phong trào đình công
A.- Quan điểm thứ nhất
Ở
những xã hội kinh tế thị trường tự do thực sự, đình công chỉ là những
“đối thoại” thông thường giữa chủ và thợ. Những “đối thoại” kia mang
bản chất kinh tế xã hội. Từ hai thập niên qua, CSVN tự nhận là họ đã tự
nguyện đi theo kinh tế thị trường tự do. Vì vậy, phải chăng đình công
tại VN cũng chỉ là một biến cố kinh tế xã hội? Chúng ta hãy trở về quá
khứ để tìm giải đáp cho câu hỏi này. Trước ngày “đổi mới” xã hội VN chỉ
gồm hai thành phần: Thống trị và bị trị, chủ và thợ. Thống trị là đảng
CSVN. Bị trị là quần chúng nhân dân. Chủ là đảng CSVN trong những công
ty quốc doanh. Thợ là quần chúng nhân dân làm việc cho quốc doanh và
những tổ chức vệ tinh của quốc doanh. Như vậy đảng CSVN là nhà cầm
quyền kiêm nhiệm vai trò chủ nhân. Quần chúng VN vừa là công nhân vừa
là giới bị trị. Nằm giữa ông chủ CSVN và công nhân VN là tổ chức công
đoàn. Ðây là một tổ chức tay chân của đảng. Mặt phải, công đoàn có
nhiệm vụ “bảo vệ” công nhân. Mặt trái, công đoàn là công an lao động.
Loại công an này có nhiệm vụ tiêu diệt trong trứng nước mọi toan tính,
đình công của công nhân.
Sau
20 năm đổi mới, CSVN ngày nay đã trở thành tư bản ÐỎ cấu kết với tư bản
XANH (Ðại Hàn, Ðài Loan, Nhật Bản...) để cùng nhau bóc lột công nhân
VN. Trên địa bàn cấu kết này, tư bản Ðỏ vẫn là ông chủ chính, ông chủ
lớn có binh quyền. Tư bản Xanh chỉ là “thuộc viên” của tư bản Ðỏ. Tư
bản Xanh có nhiệm vụ mang lại lợi nhuận cho tư bản Ðỏ. Lợi nhuận này
vừa là những quyền lợi tài chánh được chia phần chính thức trong kinh
doanh, vừa là tiền “trà nước”, “tiền lót tay” do tư bản XANH đút lót tư
bản đỏ. Ðể đền ơn, đáp nghĩa tư bản Xanh, tư bản Ðỏ ngày đêm chăm chỉ
điều động “công an lao động” (công đoàn) và các loại binh quyền khác
tích cực bảo vệ tư bản Xanh. Nếu không có cái dù tư bản Ðỏ, làm sao tư
bản Xanh lại có thể vừa bóc lột, vừa chà đạp nhân phẩm công nhân VN
theo kiểu quan hệ chủ thợ dưới chế độ tư bản sơ khai, tư bản rừng rú?
Tại VN, tư bản Ðỏ và tư bản Xanh chỉ là một. Ðình công chống tư bản
Xanh chính là đánh vào tư bản Ðỏ, chính là chống nhà cầm quyền CSVN.
Ðây là bản chất chính trị của phong trào đình công hiện nay được nhìn
bằng quan điểm thứ nhất.
B.- Quan điểm thứ hai
Năm
1972, Hoa Kỳ giội bom xuống miền Bắc VN. Ðảng CSVN đoàn kết chung quanh
những súng phòng không để được tồn tại. Lượng là bom, chất là đoàn kết.
Sau 1975 Cộng Ðồng VN Hải Ngoại, Hoa Kỳ và các quốc gia khác trong cộng
đồng quốc tế rắc Mỹ Kim xuống toàn lãnh thổ VN. Ðảng CSVN trở nên tham
ô và chia rẽ cùng cực. Lượng là Mỹ Kim. Chất là tham ô và chia rẽ.
Lượng đã đổi từ bom đến Mỹ kim. Chất đã đổi từ đoàn kết đến chia rẽ và
tham ô. Ðó là chân ý nghĩa của quy luật triết học, lượng đổi làm chất
đổi và ngược lại.
Trong
quan hệ giữa kinh tế và chính trị, trước 1985, kinh tế VN là kinh tế
quốc doanh. Chính trị VN là chính trị CS độc tài toàn trị. Lượng kinh
tế quốc doanh ăn khớp với chất chính trị độc tài. Sau 1985, kinh tế VN
đổi thành kinh tế thị trường tự do. Thế nhưng thay vì kinh tế tự do
phối hợp với chính trị tự do dân chủ, CSVN do mưu đồ tham ô đã cưỡng
bách lượng kinh tế tự do phải chung sống với chất chính trị độc tài. Từ
đó lượng đổi nhưng chất không đổi. Từ đó xung khắc chất và lượng đã là
một tảng đá lớn chặn ngang bước tiến của lịch sử. Làm thế nào để phá vỡ
tảng đá kia? Chắc hẳn xã hội VN không thể từ bỏ kinh tế thị trường tự
do để trở về với kinh tế quốc doanh của CS. Chọn lựa còn lại chỉ có thể
là chế độ CSVN độc tài phải bị đào thải. Phong trào đình công hiện nay
tại VN chính là dấu hiệu đầu tiên cho chúng ta thấy: Lượng kinh tế thị
trường tự do đang nỗ lực cưỡng bách chất chính trị độc tài phải nhường
chỗ cho chất chính trị tự do dân chủ. Ðó là bản chất chính trị của cuộc
đình công được nhìn từ quan điểm thứ hai.
C.- Quan điểm thứ ba
Ðiều
4 hiến pháp 1992 của CSVN viết như sau: “Ðảng CSVN, đội tiên phong của
giai cấp công nhân VN, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công
nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội”.
Bây
giờ chúng ta hãy xét xem trên bàn cờ đình công, đảng CSVN và công nhân
VN đã gây những tác động gì đối với điều 4 hiến pháp? Có thể nói được
rằng đảng CSVN và công nhân VN đã đánh đấm lẫn nhau trên một sân khấu
có tên là “những công ty có vốn đầu tư của tư bản ngoại quốc.” (FDI).
_
Ðảng bỏ rơi công nhân để ra mặt bênh vực công ty ngoại quốc.
(nhandan.com.vn/tinbaidang/noidung/?top=37&sub=50&article=
51276)
_ Ðảng bắt bớ giam cầm 100 công nhân đình công. Số phận của những người này hiện vẫn bị đảng giấu kín. (Vietmedia 9/1/2006).
_ Ðảng đánh đập công nhân tàn tệ nhằm dẹp tan đình công. (Vietmedia 9/1/1006).
_
Cuộc đình công lan rộng từ công ty ngoại quốc qua công ty quốc doanh và
tư doanh Việt Nam, từ Nam ra Trung ra Bắc. (BBCvietnamese.com- 20/2/06).
_ Công nhân đập phá công xưởng để phản đối liên minh CSVN và công ty Freetrend-saigon. (VNN ngày 28/12/05).
Những
thù, tạc giữa công nhân và cộng sản Việt Nam nhiều vô hạn, bài viết này
chỉ nêu ra một số trường hợp điển hình để đi đến hai nhận xét:
_ Nhận xét một: Ðảng CSVN đã mặc nhiên xé bỏ điều 4 hiến pháp thông qua hành động chống lại quyền lợi của công nhân.
_
Nhận xét hai: Công nhân Việt Nam đã mạnh mẽ xóa bỏ điều 4 hiến pháp
bằng cách ngang nhiên đình công chống lại những công ty được đảng đỡ
đầu, chống lại CSVN.
Không
còn nghi ngờ gì nữa, trên kịch bản đình công: CSVN ở vào thế vạn bất
đắc dĩ, công nhân ở vào thế chống bóc lột, đôi bên đều quyết liệt xóa
bỏ điều 4 hiến pháp. Ðó là bản chất chính trị của cuộc đình công được
nhìn từ quan điểm thứ ba.
Cả
ba quan điểm nêu trên đều làm nổi bật một chủ điểm: Cuộc đình công mang
bản chất chính trị. Có nhìn ra bản chất kia chúng ta mới có thể tiên
liệu được một giải pháp cho phong trào đình công.
III.- Giải pháp cho phong trào đình công
Bản
chất chính trị của phong trào đình công mang hàm ý rằng phong trào đình
công chỉ có thể kết thúc bằng một giải pháp chính trị. Giải pháp chính
trị đó được hình thành từ những giao đấu giữa hai thế lực đối nghịch
lẫn nhau. Tìm hiểu đấu pháp của CSVN và của công nhân VN sẽ giúp chúng
ta thấy được một cách cụ thể: Thế nào là giải pháp cho phong trào đình
công.
A.- Ðấu pháp của giới công nhân: Ðấu pháp gồm hai yếu tố thế và lực.
1/. Thế của công nhân: “Thế” là yếu tố tâm lý hối thúc con người mạnh mẽ hành động. Công nhân có các thế sau đây:
a.-
Thế của những người bị bóc lột tân xương tủy: CWI (Committee for
Workers International) Ủy Ban Công Nhân Quốc Tế Thụy Sĩ xác nhận: “Công
nhân tại Việt Nam thuộc thành phần bị bóc lột nhất thế giới”.
b.-
Thế của công bằng và lẽ phải: Công Ước Quốc Tế Về Các Quyền Kinh Tế, Xã
Hội và Văn Hóa, điều 7 khoản a quy định: “(quốc gia thành viên) bảo đảm
trả thù lao cho tất cả mọi công nhân ít nhất với: Tiền lương thỏa đáng
và thù lao bằng nhau cho những công việc có giá trị như nhau, không có
sự phân biệt đối xử nào...”
CSVN
xin gia nhập công ước này ngày 24/9/82 (Lời kêu gọi cho Quyền Công Nhân
tại Việt Nam của 22 nhà đấu tranh quốc nội - Người Việt Online
03/21/2006). Thế nhưng, CSVN đã làm ngược lại những gì họ ký cam kết.
Xã hội Việt Nam đang sống dưới chế độ độc đảng toàn trị. CSVN là chủ
nhân ông lớn nhất của toàn bộ guồng máy sản xuất đã chủ trương trả
lương cho công nhân bằng những phân biệt đối xử trắng trợn: FDI, quốc
doanh, tư doanh VN, công nhân, nông dân, quân đội, công an, v.v...
c.-
Thế của tiếng gào thét bởi dạ dầy: Như chúng ta đã biết: công nhân FDI
là những công nhân có “lương cao nhất”. Ðiều bi thảm nằm ở điểm: Lương
cao ở đây chỉ là 2 Mỹ Kim mỗi ngày với hối suất bóc lột 13,910 đồng ăn
một Mỹ Kim. Từ 2 Mỹ kim vừa kể nhìn xuống đời sống của công nhân làm
việc cho quốc doanh và tư doanh nội địa, nhất là công nhân trong khu
vực nông nghiệp, chúng ta mới hiểu được mức độ đói khổ cùng cực của
công nhân Việt Nam, quần chúng Việt Nam, giới bị trị Việt Nam.
2/.
Lực của công nhân: Thế phẫn nộ của người bị bóc lột cộng với thế của
lòng yêu chuộng công bằng, cộng với thế của tiếng gào thét từ dạ dầy
cộng với bản chất chính trị của phong trào đình công đang từng bước một
làm cho phong trào này lan rộng từ Nam ra Bắc, từ công nhân qua nông
dân và lan tới toàn dân bị trị.
Mặt
khác do tâm lý “máu chảy ruột mềm” đồng bào VN hải ngoại không thể
không nhập cuộc phong trào đình công quốc nội. Hành động nhập cuộc có
thể là biểu tình phản đối CS Việt Nam toa rập với doanh nhân ngoại quốc
bóc lột công nhân Việt Nam tận xương tủy. Hành động nhập cuộc còn có
thể là gây quỹ đình công, quỹ hỗ trợ pháp lý cho công nhân trong các
thủ tục tài phán lao động quốc gia và quốc tế, kêu gọi thế giới, đặc
biệt là những tổ chức lao động quốc tế tích cực bênh vực quyền lợi
chánh đáng của công nhân và nhân dân lao động VN... Những công tác nhập
cuộc phong trào đình công tại quốc nội đã và sẽ được các tổ chức cộng
đồng VNHN trên khắp thế giới cụ thể hóa, chi tiết hóa trong tương lai
trước mắt.
Các
diễn tả sơ phác kể trên nhằm giúp bạn đọc hình dung được thế nào là lực
của phong trào đình công. Lực này sẽ phát triển đúng quy luật triết
học: “Vạn vật vận động theo hình trôn ốc”. Cuộc đình công đầu tiên nằm
ở tâm hình trôn ốc. Những cuộc đình công kế tiếp nối đuôi nhau tạo
thành những vòng xoáy trôn ốc liên tục và lớn dần cả về chất lẫn lượng.
Chất của phong trào đình công trên hình trôn ốc là quyết tâm chống bóc
lột ngày càng gay gắt. Lượng của phong trào đình công là số lượng công
nhân, nông dân, quần chúng tham gia đình công ngày càng trở nên dồn dập
như nước vỡ bờ. Những vòng ngoài cùng của hình trôn ốc là biểu thị của
tình trạng khủng hoảng xã hội, khủng hoảng chính trị, chế độ độc tài
tham ô bị quần chúng hạ bệ. Ðương đầu với sóng thần “hình trôn ốc đình
công” nhà cầm quyền CSVN đã có những đấu pháp nào?
B.- Ðấu pháp của nhà cầm quyền CSVN
1/. Thế của CSVN: thế của chế độ CS Việt Nam hiện nay là thế thất.
a-
Thất thế vì chống lại quyền lợi của công nhân, quần chúng nghèo khổ.
Mặc nhiên xé bỏ điều 4 hiến pháp do chính CSVN tuyên xưng.
b-
Thất thế vì tham ô nhũng lạm, mua quan bán tước, bằng cấp giả mạo. Tại
VN ngày nay mọi thứ, kể cả tình đồng chí, đều là giả. Chỉ có một sự
kiện thực: Ðồng tiền chạy vào túi tham quan ô lại là đồng tiền thật.
c
- Thất thế vì mặt nạ “chính quyền cách mạng” đã bị quần chúng xé bỏ từ
lâu. Tâm lý sợ hãi chế độ độc tài đã được thay thế bằng tâm lý khinh
miệt nhà cầm quyền. Người dân thách thức CSVN bằng cách công khai chế
diễu viên chức cao cấp của đảng và nhà nước từ thành thị đến thôn quê.
2/. Lực của CSVN: Thế đã thất thì lực phải tàn.
Lực
tàn do chia rẽ: Chia rẽ trong tham ô, chia rẽ trong phân biệt CS Nam-CS
Bắc; thân Mỹ-thân Tàu; quân đội-công an; hồi hưu-tại chức...
Lực tàn do “thượng bất chính hạ tắc loạn”, người CSVN gọi là bệnh “trên bảo, dưới không nghe”.
Lực
tàn do khả năng điều hành guồng máy kinh tế, tài chánh, pháp lý... của
CSVN vốn đã tồi tệ, nay lại càng tồi tệ hơn. Lý do: Thay vì lo trau dồi
kỹ thuật và nghệ thuật điều hành việc nước, CSVN đã dành trọn thời gian
và tâm trí vào việc mua quan bán tước, tham ô bóc lột, thanh trừng nội
bộ...
Lực
tàn do hoảng hốt trước một thực tế kinh hoàng: sau nhiều thập niên tham
ô, độc tài, CSVN đã biến công quỹ thành một nhà kho trống rỗng, được
niêm phong bởi tấm bảng “bí mật quốc gia”. Chung quanh “bí mật quốc
gia” là vô số cán bộ tiền bạc đầy túi, bằng giả đầy mình. Với nhân lực
và tài lực như vừa kể, CSVN đã ứng xử như thế nào khi phải đối diện với
sóng thần đình công? Chỉ sau hơn một tuần phong trào đình công khởi sự,
thủ tướng CSVN đã hấp tấp ra lệnh tăng 40% lương tối thiểu cho công
nhân FDI kề từ đầu tháng 02/2006, nhưng ngay sau đó lại hoãn tới tháng
04/06. Sự việc này chứng tỏ CS Việt Nam đang hiển nhiên lâm vào tình
huống tài cực kỳ hèn, sức cực kỳ mọn khi phải đối mặt với sóng thần
đình công. Vả lại GIẢ SỬ ( chữ giả sử xin viết thật đậm nét) CS Việt
Nam có khả năng diệt trừ tận gốc rễ tệ nạn tham ô trong một sớm một
chiều họ vẫn không cách chi vực dậy mực sống của toàn dân bằng sự hỗ
trợ của “nhà kho bí mật quốc gia” đi kèm với quả núi bằng giả. Xin nhớ
cho rằng do tham o,â triều đình Hà Nội đã đẩy lùi và cột chặt mực sống
kia vào quá khứ của một hai thập niên về trước.
Công
việc phân tích và nhận định nguyên nhân, bản chất và giải pháp của
phong trào đình công tại QUÊ NHÀ đã đưa dẫn người Việt Nam đứng trước
một hoạt cảnh: Phong trào đình công chẳng khác nào một vòng thòng lọng
đang ôm lấy yết hầu của đảng CSVN. Mỗi cuộc đình công là một động tác
làm cho vòng thòng lọng siết chặt thêm. Sau cùng CSVN mất hết dưỡng
khí. Giờ gục chết của chế độ độc tài tham ô chính là giờ thể chế TỰ DO
DÂN CHỦ thăng hoa trên quê hương Việt Nam. Ðó là chân ý nghĩa của nhận
thức: Phong trào đình công của công nhân, nhân dân VN mang bản chất
chính trị phải được kết thúc bằng một giải pháp chính trị vậy.
Ðỗ Thái Nhiên
| Những Bài Liên Quan: |
| LTS: Ý kiến bày tỏ trên trang Diễn Ðàn là của các tác giả, không nhất thiết phản ảnh quan điểm của nhật báo Người Việt và Người Việt Online. |