Xã hội dân sự Việt Nam, nhìn từ trong và ngoài
Theo Thông Luận - KHIẾT HƯNG - 21-05-2006
“…Ở VN có một số người sợ rằng nếu thúc đẩy xã hội
dân sự (XHDS) sẽ có sự đối lập với chính quyền. Sợ như thế là hơi quá,
là không tin vào người dân. Chính vì vậy, chúng ta cần phải nghiên cứu
về XHDS…”
Đề tài xã hội dân sự đã được trực tiếp bàn đến nhiều trên Thông Luận.
Bàng bạc trên nhiều bài viết về các vấn đề Dân chủ cũng đã có nhắc đến
một đòi hỏi lớn của xã hội Việt Nam hiện nay là việc xây dựng và phát
triển xã hội dân sự ở trong nước. Dự án chính trị dân chủ đa nguyên mang tưa đề Thành Công Thế Kỷ 21
(phần IV) của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên cũng nhìn nhận xã hội dân sự là
hình thức tổ chức của một chế độ thực sự dân chủ. Bài viết “Xã hội dân sự và phát triển quốc gia”
là một đóng góp khác về mặt lí luận cho đề tài lớn này. Tuy vậy, ít
nhất là về mặt lý thuyết tổng quát, xã hội dân sự vẫn còn là một khái
niệm tương đối mới mẻ ; trong khi đó, nó lại có một vai trò vô cùng
quan trọng, thậm chí có tính sống còn cho sự phát triển quốc gia - đặc
biệt là đối với các nước còn chậm tiến như Việt Nam.
Hôm nay chúng tôi chuyển đến bạn đọc hai mẩu thông tin cùng liên quan
đến đề tài này vừa phổ biến mới đây. Mẩu thông tin này được chuyển đi
từ hai góc nhìn: một từ phía trong nước, một từ phía bên ngoài.
Xã hội dân sự ở VN còn chập chững
Một nghiên cứu đầu tiên về xã hội dân sự ở Việt Nam nói rằng
đời sống xã hội ở Việt Nam ngày nay rất rộng, phong phú, nhưng quan
hệ hợp tác giữa các nhóm và tổ chức trong xã hội còn yếu và tác động
của họ còn hạn chế. Nghiên cứu về xã hội dân sự ở Việt Nam là
công trình được thực hiện bởi Viện Những vấn đề phát triển Việt
Nam (VIDS), UNDP và Tổ chức Phát triển Hà Lan (SNV).
Nghiên cứu này được tiến hành từ tháng 4 năm 2005 đến tháng 3-2006
trong khuôn khổ của Dự án về Chỉ số xã hội dân sự quốc tế được thực
hiện ở hơn 50 nước. Theo tiến sĩ Đặng Ngọc Dinh, Giám đốc Viện
Những vấn đề phát triển Việt Nam, mục tiêu quan trọng nhất của báo cáo
là "giúp cho người dân Việt Nam hiểu biết thêm về xã hội dân sự ở Việt
Nam."
Đa dạng
Theo định nghĩa của một tổ chức phi chính phủ quốc tế có tên gọi
CIVICUS (Liên minh Thế giới về sự Tham gia của người dân), xã hội dân
sự là “lĩnh vực vượt ra ngoài phạm vi gia đình, nhà nước và thị trường,
mà ở đó người dân thành lập các hiệp hội để thúc đẩy những lợi ích
chung."
Theo kết quả nghiên cứu, Việt Nam hiện có một số lượng lớn các tổ chức
xã hội rất khác nhau về nguồn gốc, cơ cấu tổ chức, cơ sở pháp lý, mục
đích hoạt động và cơ chế tài chính. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy quan
hệ hợp tác và sự kết nối giữa các tổ chức này vẫn còn yếu. Đồng thời,
môi trường xã hội - chính trị cho sự phát triển của xã hội dân sự vẫn
còn chưa thực sự đầy đủ, làm hạn chế tác động nhiều mặt của họ.
| Một số hội ở Việt Nam
Liên hiệp các hội Khoa học Việt Nam
Liên hiệp các hội Văn học và Nghệ thuật VN
Liên hiệp các hội Hữu nghị Việt Nam
19 Hiệp hội và Liên đoàn Thể thao
70 Liên hiệp các Tổ chức Kinh tế
30 Hiệp hội trong lĩnh vực Từ thiện
28 Hiệp hội Kinh doanh Nước ngoài
Nguồn: Bộ Nội Vụ Việt Nam, 2005 |
Tại Việt Nam, trước năm 1986, các tổ chức xã hội chủ yếu bao gồm các
tổ chức quần chúng, gắn bó mật thiết và chịu sự kiểm soát của
Đảng Cộng sản, và hoạt động dưới ngọn cờ Mặt trận tổ quốc. Từ đầu
thập kỷ 90, việc mở cửa xã hội cho các thành phần kinh tế khác tạo điều
kiện cho các tổ chức xã hội và việc phục hồi các tập quán liên quan đến
sinh hoạt hàng ngày.
Một Xã hội dân sự rộng lớn hơn đã xuất hiện và nở rộ các tổ chức
Theo báo cáo, sự đối lập giữa Nhà nước và Xã hội dân sự "không phải
là đặc điểm chính của Xã hội dân sự ở Việt Nam và vì vậy, dường như
không phải là tiêu chí quan trọng để xác định Xã hội dân sự." "Những
nhân tố tạo biến chuyển dường như có nhiều cực và nhiều phương thức
biểu đạt ý kiến của họ, nhưng Xã hội dân sự vẫn còn yếu trong việc lĩnh
hội và khái quát những nguyện vọng của mình để trình bày với nhà nước
và xã hội."
Báo cáo nói vì chỉ mới tồn tại như một khái niệm về Xã hội dân sự ở
Việt Nam, thậm chí chưa thành định nghĩa, nên các khuynh hướng tăng
thêm các hoạt động của các nhóm và các tổ chức trong xã hội thường được
gọi là các tổ chức mới chứ không phải là các hoạt động của các tổ chức
xã hội. "Xã hội dân sự có khi mang hàm ý tiêu cực và cho đến gần đây
cụm từ này đôi lúc còn được xem như “nhạy cảm”, nghĩa là dấu hiệu của
một vấn đề không nên bàn luận quá cởi mở."
Báo cáo nói nhà nước vẫn còn đóng vai trò chủ đạo trong việc lập
những quyết sách và rằng xã hội dân sự ở Việt Nam vẫn còn những ràng
buộc với nhà nước. Tuy vậy, sau 20 năm, hiện nay ở Việt Nam, xã hội
dân sự đã trải qua những biến đổi cơ bản và đã dần dần gia tăng về sức
mạnh và tổ chức từ nửa đầu thập niên 90.BBC, Tiếng Việt, ngày 15/5/2006
Đừng sợ xã hội dân sự!
“…Ở VN có một số người sợ rằng nếu thúc đẩy xã hội
dân sự (XHDS) sẽ có sự đối lập với chính quyền. Sợ như thế là hơi quá,
là không tin vào người dân. Chính vì vậy, chúng ta cần phải nghiên cứu
về XHDS…”
Gs. Ts Đặng Ngọc Dinh - viện trưởng Viện Những vấn đề phát triển (VIDS)
- nói như vậy về khái niệm XHDS, một trong những khái niệm được xem là
“nhạy cảm”, ít được khuyến khích bàn luận cởi mở tại VN.
| |
| Vườn Mai Xuân Thưởng (Hà Nội) |
* Thưa ông, phải hiểu khái niệm XHDS như thế nào?
- Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy XHDS đã tồn tại ở VN từ rất lâu.
Nói nôm na, đó là các tổ chức xã hội nằm ngoài Nhà nước, nằm ngoài các
hoạt động của doanh nghiệp (thị trường), nằm ngoài gia đình, để liên
kết người dân với nhau trong những hoạt động vì một mục đích chung.
Như vậy, thành phần quan trọng của XHDS là các hội, hiệp hội trong dân
chúng, trong làng xóm, mang tính chất liên kết cộng đồng.
Theo quan niệm đó thì ở VN Mặt trận Tổ quốc là tổ chức XHDS lớn nhất,
bao gồm các đoàn thể (công đoàn, phụ nữ, thanh niên, nông dân...), hội
nghề nghiệp, các tổ chức phi chính phủ... Mặt khác có thể coi XHDS là
diễn đàn, là nơi mọi người bắt tay nhau để thúc đẩy quyền lợi chung.
XHDS hỗ trợ người dân thực thi luật pháp, đồng thời phản ánh nguyện
vọng người dân. Nếu thể chế nhà nước hoạt động dựa vào luật, thể chế
thị trường hoạt động dựa vào lợi nhuận thì XHDS vẫn tuân theo pháp
luật, tuân theo thị trường, nhưng thúc đẩy khía cạnh đạo đức, khai thác
tính nhân văn, tính cộng đồng.
* Hiện nay, XHDS tại VN hoạt động như thế nào?
- Chúng tôi đánh giá các chỉ số XHDS dưới dạng một hình thoi với bốn
đỉnh phản ánh gồm: cấu trúc XHDS, môi trường để XHDS hoạt động, các giá
trị trong XHDS và tác động của XHDS tới xã hội chung.
Theo kết quả nhận dạng ban đầu, XHDS tại VN có cấu trúc rất rộng nhưng
không sâu, tức là người dân thường là thành viên một tổ chức nào đó
(phụ nữ, thanh niên, hội nghề nghiệp...) của XHDS nhưng tính tự nguyện
còn thấp. Trong khi đó, môi trường để XHDS hoạt động đã được thúc đẩy
trên văn bản, nhưng trên thực tế yếu tố khích lệ phát huy sự tham gia
của XHDS trong công cuộc phát triển còn yếu. Điều này khiến tác động
của XHDS đến xã hội còn yếu tuy các giá trị XHDS được đánh giá là ở mức
độ tương đối cao. Đánh giá bốn lĩnh vực trên ở VN, các chuyên gia cho
điểm chung ở mức trung bình thấp.
Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng không có nước nào đạt điểm tối đa cho bốn
lĩnh vực nói trên. Một nước mạnh thể chế pháp lý, công nghiệp hóa, chưa
chắc đã mạnh về XHDS. Trong số 50 quốc gia được khảo sát, XHDS ở VN nằm
ở loại trung bình. Những nước có XHDS phát triển mạnh là những nước Bắc
Âu như Na Uy, Đan Mạch, Thụy Điển, Phần Lan. Đây là những quốc gia phát
triển bền vững tốt, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với các vấn đề về
xã hội, bảo vệ môi trường và sự tham gia tích cực của người dân trong
công cuộc phát triển quốc gia.
Điểm giống nhau cơ bản của XHDS ở VN so với các nước là đều gồm các tổ
chức liên kết trong dân. Điểm khác nhau là các tổ chức liên kết trong
dân ở VN do truyền thống nhiều năm chống ngoại xâm nên mang màu sắc
đoàn thể cách mạng, được hỗ trợ một cách đặc biệt từ phía chính quyền
nên nếu những chính sách của chính quyền có sai sót (điển hình là căn
bệnh tham nhũng) thì các tổ chức XHDS rất khó nói. Ngoài ra, người dân
chưa quen với việc đòi hỏi chính quyền phải giải trình.
* Vì sao lâu nay XHDS được coi là vấn đề nhạy cảm, không được bàn ở VN?
- Lý do là tại một số nước có hiện tượng khai thác mặt đối lập với
chính quyền của XHDS để tạo ra những xu thế mất ổn định. Từ đây có
người cho rằng nếu nghiên cứu, phổ biến XHDS tại VN thì sẽ tiến tới
khai thác mặt đối lập với chính quyền. Nên hiểu rằng XHDS có nhiều mặt
và chúng ta cần nghiên cứu xem mặt tiêu cực, tích cực của nó là gì.
Ngay cả người dân cũng hiểu biết rất ít về XHDS. Chính vì vậy càng phải
nghiên cứu, hiểu rõ vai trò, tác động của XHDS, trước hết là cộng đồng
nghiên cứu khoa học, các nhà quản lý.
* Có ý kiến cho rằng VN không có XHDS và điểm đánh giá cho bốn lĩnh
vực của XHDS là thấp, thấp nhất là sự tác động của XHDS vào xã hội nói
chung?
| |
| Một cuộc vận động cho tự do bầu cử |
- Đúng là tác động của XHDS vào xã hội còn thấp. Đối với việc tác động
của XHDS vào qui trình dự toán ngân sách quốc gia nhóm nghiên cứu chỉ
chấm 0,1 điểm. Điều đó chứng tỏ hoạt động của XHDS ở VN còn rất hạn chế
và không có ảnh hưởng rõ rệt nào. Người dân (các tổ chức của dân) rất
ít được tham gia các quá trình ra quyết định, như lập ngân sách, vay
ODA... Hoặc trong chỉ số XHDS tác động tới việc giải trình của Chính
phủ, điểm số đạt được chỉ là 0,6. Trên thực tế, hầu hết các công trình
xây dựng qui mô lớn (hàng nghìn dân phải di dời, thay đổi lớn về xã
hội, văn hóa), các tổ chức XHDS cũng chưa phát huy được sự tham gia của
mình.
Một lý do khác để một số người còn cho rằng VN chưa có XHDS (đích thực)
là các tổ chức đoàn thể, nhất là ở cấp trung ương còn gắn nhiều với Nhà
nước, chưa mang tính độc lập trong khía cạnh phản ánh nguyện vọng của
người dân. Ví dụ trong Quốc hội, đại biểu Quốc hội lẽ ra phải là đại
biểu dân cử (mang nhiều tính chất của XHDS) nhưng lại là bộ trưởng, lại
là chủ tịch tỉnh (tính chất Nhà nước). Tất nhiên VN đang trong thời kỳ
chuyển đổi, các tổ chức đoàn thể (các tổ chức XHDS) xuất phát từ thời
kỳ cách mạng nên có nhiều sự ràng buộc với chính quyền. Còn tác động
của XHDS tới xã hội là có.
Như thế, có thể khẳng định ở VN đã tồn tại XHDS. Ở VN có những khẩu
hiệu thể hiện chủ trương khích lệ sự tham gia của XHDS, như “dân biết,
dân làm, dân bàn, dân kiểm tra” hay như nghị định về dân chủ cơ sở.
* XHDS chưa tác động mạnh vào xã hội, cụ thể là không buộc Chính phủ
phải giải trình được nên tệ nạn tham nhũng có cơ hội hoành hành?
- Không thể phủ nhận vai trò của XHDS trong việc đấu tranh chống tham
nhũng. Nếu XHDS được trao quyền tốt hơn, được thúc đẩy tốt hơn thì sẽ
đóng góp vào việc giảm tham nhũng. Do đó, phải làm sao để XHDS có quyền
được tìm hiểu, được đòi hỏi chính quyền phải giải trình. Nếu Quốc hội
hoạt động mạnh, các tổ chức quần chúng hoạt động mạnh sẽ tác động lên
hội đồng nhân dân các cấp, và đó chính là áp lực để Chính phủ phải giải
trình trong những trường hợp quan chức chính quyền bị nghi ngờ có tham
nhũng.
* Chính vì luôn lo sợ XHDS đòi hỏi quyền lợi nên có những người không muốn XHDS tồn tại ở VN?
- Đúng là có cách suy nghĩ đó nhưng là vì hiểu nhầm, hiểu phiến diện
thôi. Họ cho rằng hoạt động của XHDS là “rách việc”, là chống đối. Họ
sợ rằng khi có XHDS thì chính quyền sẽ bị phản đối khi muốn quyết định
một vấn đề nào đó. Tức là họ nghĩ XHDS sẽ làm cho tốc độ tăng trưởng
giảm đi, XHDS không muốn chấp hành luật lệ. Nhưng đó chỉ là suy nghĩ
thiểu số. Tất nhiên, những kẻ tham nhũng rất sợ XHDS. Thực chất vai trò
cuối cùng của XHDS, cũng như của bất cứ chính quyền vì dân vì nước nào,
là phát triển đất nước bền vững. Tiếng nói của một người dân có thể sai
nhưng số đông người dân lên tiếng thì chính quyền cần lắng nghe và hiệu
chỉnh.
* Nhưng rõ ràng thời gian qua chúng ta chủ ý không tạo môi trường cho XHDS phát triển?
- Việc chúng ta ít tạo môi trường cho XHDS phát triển có nhiều lý do,
có thể do nguồn gốc lịch sử, chính quyền cho rằng với các đoàn thể hiện
nay là đủ rồi. Rồi chính quyền làm luôn đại biểu của nhân dân. Điển
hình cho việc ít tạo môi trường cho XHDS phát triển là việc chín năm
rồi chúng ta chưa ra được luật về hội. Bây giờ vẫn còn đang tranh luận
xem quyền lập hội đến đâu, có phụ thuộc vào bộ chủ quản hay không...
Tóm lại, tôi cho rằng không nên cực đoan hiểu XHDS là đối lập với chính
quyền, hoặc chính quyền có thể bao trùm hết mọi việc của người dân cho
nên không cần XHDS. Có thể nói XHDS và chính quyền là bổ sung cho nhau.
* Thưa ông, khi triển khai nghiên cứu vấn đề này, VIDS có gặp phải sự phản đối nào không?
- Năm 2002 CIVICUS vào VN phối hợp cùng UNDP tìm đối tác nghiên cứu về
XHDS nhưng sau gần hai năm vẫn không có đơn vị nào nhận, bởi lúc đó
khái niệm XHDS được xem là nhạy cảm. Sau đó VIDS thành lập và chúng tôi
thấy cần phải nghiên cứu vấn đề này một cách nghiêm túc, khách quan,
không định kiến và không bị lợi dụng.
Đến nay, chúng tôi khuyến nghị cần tiếp tục nghiên cứu về các vấn đề
liên quan tới XHDS tại VN một cách đầy đủ, sâu sắc hơn để khai thác các
mặt tích cực. Chúng tôi cũng khuyến nghị cần có cơ chế thúc đẩy XHDS để
đóng góp tích cực hơn vào sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
|
Quá trình nghiên cứu cho thấy kể từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới, XHDS
ở VN đã trải qua những biến đổi cơ bản và dần dần gia tăng về sức mạnh
và tổ chức từ nửa đầu thập niên 1990. Các tổ chức quần chúng đã mở rộng
hoạt động, đặc biệt là ở vùng nông thôn. Các tổ chức mới đã xuất hiện
dưới hình thức phi chính phủ và nhóm cộng đồng. Có nhiều ý tưởng mới đã
được áp dụng, đặc biệt là thông qua các tổ chức phi chính phủ VN và
tinh thần tự thân vận động đã được mở rộng thông qua các tổ chức cộng
đồng. Một trong những phẩm chất của các tổ chức XHDS là khả năng thực
hiện các chính sách xã hội của họ đối với người nghèo và nhóm người kém
vị thế trong khi các chương trình của Chính phủ không thể nào kham nổi.
Sức mạnh của các tổ chức XHDS là tính chuyên môn hóa và đưa ra được
những ý tưởng và phương thức mới mẻ.
Tuy nhiên, cho dù XHDS đang đóng vai trò tích cực và sáng tạo hơn nhưng
những tác động còn tương đối hạn chế. Nói chung, có những xu thế hạn
chế trong các chức năng giám sát của các tổ chức XHDS. |
KHIẾT HƯNG thực hiện
Nguồn:
| |
In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè: