Chiến tranh Iraq bước qua năm thứ 4 với dư luận phân tán. Tổng Thống
Bush đã mở cuộc họp báo để đương đầu với những cuộc biểu tình phản
chiến, những lời chỉ trích cho rằng ông không có kế hoạch rõ rệt và đòi
ông phải rút quân. Ông Bush nói nếu ông không tin chiến lược Mỹ đưa đến
thành công ông đã "rút quân về rồi". Nhưng ông cũng nhìn nhận trước mắt
"sẽ còn những cuộc chiến đấu gay go". Tóm lại, Mỹ sẽ không rút quân
trong lúc này. Tuần trước trong một bài báo, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ
Rumsfeld viết: "Quay lưng lại Iraq lúc này cũng tựa như sau Thế Chiến
II, chúng ta đã trao lại nước Đức cho bọn Quốc xã". Điều này rất đúng,
ở điểm Mỹ không thể bỏ rơi Iraq.
Thế
giới đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh lớn, thiết tưởng cũng nên nhìn
lại thực chất của những cuộc chiến Mỹ đã tham dự. Thế chiến I
(1914-1918) thực chất là cuộc xung đột vì lãnh thổ, quyền lực kinh tế,
giữa các đế quốc khi chủ nghĩa thực dân bành trướng. Trận chiến này
diễn ra giữa những thế lực đế quốc Trung Âu (Áo-Hung, Đức, Bảo, Thổ) và
các nước đồng minh (Mỹ, Anh, Pháp, Nga, Bỉ, Lỗ, Ý, Hy, Nhật và một vài
tiểu quốc khác ở Âu châu). Đây cũng có thể coi như cuộc chiến tranh
giành lãnh thổ thuộc địa. Thế chiến II (1939-1945) giữa một bên là các
nước Trục và một bên là đồng minh (Mỹ, Anh, Pháp, Liên Xô, Úc, Bỉ, Ba
Tây, Gia Nã Đại, Trung Hoa, Đan Mạch, Hòa Lan, Tân Tây lan, Na Uy, Ba
Lan, Nam Phi, Nam Tư). Về các nước gọi là "Trục", ngày nay người ta chỉ
hay nói đến 3 nước chính là Đức Quốc xã, Ý phát xít và Nhật Bản quân
phiệt, thật ra phe Trục còn gồm có cả Hung, Bảo và Lỗ. Thực chất của
cuộc chiến này hiển nhiên là chiến tranh xâm lược, vì năm 1939 Đức xua
quân đánh chiếm Ba lan, Ý tấn công Á (Albania) còn ở Á châu, Nhật tấn
công Trung Hoa từ năm 1937, đến năm 1939 xua quân đánh chiếm các nước
Đông Nam Á.
Sau Thế chiến II, LHQ ra đời với một nền trật tự mới
cho toàn cầu, Thế giới thoát được một trận đại chiến thứ III chăng? Sự
thật ngay sau khi Thế chiến II, ít người chịu ghi nhận là Thế chiến III
đã bắt đầu dưới một hình thức xâm lược hoàn toàn khác hẳn, âm thầm, tế
nhị và tàn khốc hơn trước rất nhiều, mặc dầu không có quân xâm lăng hay
chiếm đóng. Đó là xâm lược bằng ý thức hệ. Sau khi chiến thắng Đức Quốc
xã, Hồng quân Xô viết rút khỏi một nửa nước Đức và các nước Đông Âu,
nhưng tất cả các nước đó đều trở thành Cộng sản và được LHQ nhìn nhận
là những nước độc lập, có chủ quyền. Điều này bề ngoài rất hợp lý, vì
không có quân đội ngoại quốc chiếm đóng các nước đó, hệ thống chính
quyền của họ từ đầu sỏ đến các viên chức địa phương thấp nhất đều là
người bản xứ, không phải ngoại quốc. Khốn thay những người bản xứ đó
lại có một ý thức hệ khác hẳn truyền thống dân tộc của họ. Cuộc xâm
lược ý thức hệ Cộng sản đã thành công.
Năm 1950, Cộng sản Tầu
chiếm trọn Hoa lục, một nước mới ra đời gọi là Cộng hòa Nhân dân Trung
Quốc. Tuy vậy cuộc chiến xâm lược ý thức hệ chưa chấm dứt trên thế giới
vì còn hai nước bị chia đôi là Đức và Triều Tiên. Ở hai nước này cuộc
xâm lược ý thức hệ thất bại vì Mỹ và đồng minh lãnh đạo thế giới tự do
đã đề phòng. Mọi toan tính của Đế quốc Cộng sản dùng vũ lực với chiêu
bài thống nhất đất nước như ở Triều Tiên gây chiến tranh tàn phá chết
chóc cho người dân, rút cuộc vẫn thất bại.
Việt Nam trước năm
1945 là một nước thuộc địa (gọi là bảo hộ) của Pháp. Sự kết thúc Thế
chiến II đã tạo ra phong trào các nước bị trị nổi lên tranh đấu giải
phóng dân tộc. Dân Việt Nam, sau 100 năm dưới ách cai trị của thực dân
Pháp, đều thấy háo hức và kỳ vọng rất nhiều về phong trào giải phóng và
độc lập dân tộc. Họ không cần biết quốc gia hay cộng sản là gì, bất cứ
tổ chức hay đoàn thể nào hô lên mấy tiếng "độc lập dân tộc" là được họ
hoan hô và hưởng ứng triệt để. Những cán bộ theo ông Hồ Chí Minh về
nước khoảng năm 1942 ở Cao Bắc Lạng và cả những người Cộng sản ở trong
nước đã lợi dụng chiêu bài độc lập dân tộc để lôi cuốn giới trẻ trong
cuộc kháng chiến chống Pháp từ năm 1946 và chống Mỹ sau này. Thời đó
nếu họ kêu gọi chiến đấu cho chủ nghĩa Cộng sản, chắc chắn ít nguời
muốn theo, người ta chỉ sẵn sàng tranh đấu đến chết vì tổ quốc.
Ý
thức hệ là một hệ tư tuởng làm căn bản cho tổ chức chính trị, xã hội và
kinh tế, do đó ảnh hưởng đến nếp sống và văn hóa. Ý thức hệ xã hội chủ
nghĩa Mác-lê đội lốt chủ nghĩa dân tộc và ái quốc bao giờ cũng thắng.
Nhưng khi thắng rồi, để rơi cái vỏ bên ngoài, nó lại thất bại thê thảm.
Đó là vì nó đã gắn liền với một chế độ kinh tế chỉ huy độc đoán chỉ đưa
đến nghèo đói và lạc hậu cho người dân. Cộng sản Việt Nam hiện nay đã
từ bỏ ông Tổ Mác-Lê rồi, nhưng họ vẫn bám lấy những biểu hiệu cũ cờ hoa
lộng lẫy chỉ vì cố giữ cho đảng của họ được độc quyền toàn trị trong
thời kinh tế thị trường có xôi lại có cả thịt.
Bây giờ hãy trở
lại tình hình cuộc chiến Iraq. Quân khủng bố ngày nay cũng dùng một ý
thức hệ xâm nhập, nhưng khủng khiếp và lợi hại hơn Cộng sản rất nhiều.
Căn bản của nó không phải là lý thuyết chính trị hay kinh tế, mà là đức
tin tôn giáo, một giá trị cao quý nhất của văn hóa loài người. Bọn
al-Qaida đã cho ý niệm "Thánh chiến" xâm nhập phong trào nổi loạn để
gây chia rẽ, tạo nội chiến với mục tiêu tối hậu gây tổn thất nặng cho
Mỹ.
Nếu dùng chiến thuật "chống nổi loạn" (Counter-insurgency)
như thời xưa ở Việt Nam, Mỹ chỉ đánh vào cái vỏ phiến diện bề ngoài,
không trừ được cái cốt lõi tiềm ẩn bên trong. Nhưng ý thức hệ xâm nhập
của khủng bố cũng có chỗ yếu của nó. Các kiểu đánh bom đã gây chết chóc
hàng loạt không phân biệt nạn nhân là ai. Đồng thời khi trốn tránh, bọn
khủng bố đã đối xử tàn nhẫn với dân để khỏi bị lộ hình tích, gây bất
mãn và kinh hoàng khắp nơi. Nếu quân Mỹ bất chấp nổi loạn hay không nổi
loạn, bằng mọi cách ra tay tích cực che chở những người dân này, kế
hoạch chống khủng bố sẽ có hiệu quả hơn.