San Jose tháng 1-2006, Jan 14, 2006
TỪ MỘT CỘNG ĐỒNG NHỎ BÉ:
Tôi có một ông bạn hiện đang sống ở một nơi quá xa xôi hẻo lánh. Quý vị
có bao giờ nghe nói đến thành phố Mandan ở tiểu bang North Dakota? Cái
tiểu bang lạnh lẽo băng giá, nghèo nàn ráp biên giới Canada.
Năm 1803, Pháp bán cho Mỹ trọn gói miền Trung Mỹ từ New Orleans mà lên
đến phía Bắc biên giới Gia Nã Đại thì North Dakota được gọi là mảnh đất
cho thêm. Các tay giang hồ Việt Nam đi xuyên bang trên xa lộ 80 từ Đông
sang Tây, chẳng bao giờ thèm ngừng lại ở thị trấn Omaha của tiểu bang
Nebraska, nơi đã có một thời cả trăm gia đình dân Việt làm nghề xả thịt
bò. Dù có ngừng lại Omaka thì cũng chẳng ai đi ngược xa lộ 91 lên phía
Bắc để đến South Dakota, rồi còn đi thêm cả ngày dài để lên North
Dakota, tìm đến thị xã nhỏ bé Mandan của ông bạn tôi đang cư ngụ.
Qua điện thoại viễn liên, ông bạn già khoe rằng, thành phố của ông đứng
thứ 5 của tiểu bang mà chỉ có 16 ngàn dân. Hơn 90% là Mỹ trắng. Còn lại
là da đỏ, da đen và một số ít Mễ Tây Cơ. Tất cả da vàng gồm Nhật, Tàu,
Phi chưa được 1%. Việt Nam có 4 gia đình. Hai gia đình anh em họ Nguyễn
và hai gia đình anh em họ Trịnh.
Một sự tình cờ của lịch sử đã đưa hai họ Trịnh – Nguyễn về ở một nơi để
làm thành một cộng đồng Việt Nam nhỏ bé nhất thế giới. Tết năm ngoái,
cả cộng đồng họp mặt lại nhà ông bạn tôi hiện là đương kim chủ tịch
không cần bầu cử, để hai họ Trịnh – Nguyễn hòa thuận xem hết hai cuốn
Video từ Asia đến Thúy Nga Paris.
Tết năm nay, bà con rủ nhau đi ăn tiệm, nhưng mà đau đớn biết chừng
nào, cả tỉnh không có lấy một tiệm cơm Tàu. Muốn ăn cơm Tàu phải chạy
xe về thành phố lớn của North Dakota là Bismarch.
Sau bao nhiêu năm định cư, cũng có một số người Việt về North Dakota
nhưng rồi lại kéo nhau đi. Đám Việt Nam còn lại hiu hắt quanh năm như
lá mùa đông. Nhìn những ngôi mộ nằm trong nghĩa trang tuyết phủ lòng
những ngậm ngùi. Đó là nơi ông bạn cựu HO của chúng tôi từ bỏ Cổng Trời
ở biên giới Việt Bắc để về sống những năm sau cùng.
YẾU TỐ NÀO LÀM THÀNH CỘNG ĐỒNG:
Vì vậy, chúng ta phải yêu mến Cali. Cái cộng đồng ồn ào và chia rẽ. Cái
cộng đồng khác biệt và không đoàn kết. Cái cộng đồng Việt Nam phiền
phức tại California mà chúng ta thường phàn nàn, thực ra lại là một
cộng đồng tốt đẹp và mạnh mẽ nhất.
Chính tại đây là nơi chúng ta gìn vàng giữ ngọc cho truyền thống Việt
Nam. Nơi đây là đơn vị tiền phong, là tinh hoa của người Việt hải
ngoại. Về tất cả các phương diện văn hóa, chính trị, xã hội, giáo dục.
Tại sao được như vậy? Có 3 lý do. Trước hết, sức mạnh cộng đồng có được
là do số đông. Thứ hai là khả năng tiềm ẩn của từng người dân Việt và
thứ ba là được sống tự do. Và tự do có nghĩa là khác biệt. Khác biệt
không phải là chia rẽ. Tự do có nghĩa là không phải thu về mối. Tự do
là được phép suy nghĩ và hành động khác nhau.
Thực vậy, dù có đoàn kết và xuất sắc đến đâu thì chúng ta cũng không
thể nào thể hiện được một cộng đồng nếu chúng ta không có đủ một nhân
số khả dĩ coi được. Sống trong một thị xã, một quận hạt, một sắc dân
phải tập trung được từ 5 đến 10% trở lên mới hình thành được một cộng
đồng.
Tại các khu Nam – Bắc Cali, Houston, DC, Seattle, mỗi nơi chúng ta
thành hình một cộng đồng bởi vì đã có được một quần cư đáng kể. Không
hề có lệnh của chính phủ, không do sự điều động của các nhà lãnh đạo
cộng đồng. Chúng ta tìm về với nhau. Đất lành chim đậu. Cùng một loài
chim, cùng một tiếng hót gọi đàn về với nhau, làm thành một cộng đồng
và đó là yếu tố căn bản của sức mạnh cộng đồng.
MỘT CỘNG ĐỒNG PHÁT TRIỂN:
Khi dân số là yếu tố căn bản thì việc gia tăng dân số thường trực của
cộng đồng là sự phát triển sức mạnh cụ thể nhất. Một thành phố hay một
cộng đồng tàn lụi là khi dân số xuống dần.
Từ tháng 4-1975, có 138 ngàn người Việt vào Hoa Kỳ, chia đi khắp 50
tiểu bang. Không nơi nào có được một cộng đồng Việt xem ra có tương
lai. Từ Bắc đến Nam Cali, mỗi nơi tập hợp được vài ngàn người. Không
tạo ảnh hưởng quan trọng. Nếu không có các đợt đến sau, người Việt sẽ
chìm vào cả đại dương Hiệp Chủng Quốc.
Từ 1975 đến 1995, hai mươi năm lịch sử thuyền nhân đem lại gần một
triệu dân tỵ nạn và một nửa đã vào Mỹ. Qua nhân số, cộng đồng phát
triển dần. Di dân từ các tiểu bang cô đơn băng giá lại kéo về các khu
người Việt đông đảo trong các đợt định cư lần thứ hai. Các cuộc ra đi
bán chính thức với người Việt gốc Hoa và người Việt mang tên giả người
Hoa, cũng làm gia tăng con số thuyền nhân.
Rồi đến các đợt tù cải tạo lên đường. Tiếp theo là con lai và ODP. Dù
là HO, con lai hay thuyền nhân từ Phi rồi cũng lần lượt qua hết. Riêng
ODP thì vẫn còn dài dài cho đến nay.
Người ra đi suốt 30 năm qua đã trở về quê hương để thành Việt Kiều.
Biết bao nhiêu Việt Kiều về quê lấy vợ, lấy chồng. Các tân giai nhân và
những ông chồng mới cưới qua Mỹ làm lại cuộc đời. Sau năm ba năm lại
làm hồ sơ đoàn tụ mới để đưa thân nhân qua Mỹ. ODP lại đẻ ra ODP. Từ
thế hệ này qua thế hệ khác. Dân số gia tăng, tập trung vào từng khu
vực, và cộng đồng phát triển vẫn dựa vào yếu tố số một: Đó là dân số.
Ý NIỆM VỀ MỘT CỘNG ĐỒNG TOÀN DIỆN:
Khi đã đạt được yếu tố chính là con số tạo thành một cộng đồng thì phải
chấp nhận sức mạnh của cộng đồng là ý niệm toàn diện. Người Việt sống
tại Hoa Kỳ, tại tiểu bang California, tại Bắc Calli, tại quận Santa
Clara, San Jose là người Việt hiện nay đến từ khắp miền đất nước Việt
Nam. Đủ mọi lứa tuổi và đủ mọi hoàn cảnh. Mỗi người đều có những câu
chuyện riêng, những tâm sự đem theo và kỷ niệm đau thương bỏ lại.
Đất nước tự do đã chấp nhận chúng ta thì bài học sau 30 năm của di dân
và tỵ nạn gốc Việt là phải chấp nhận sống với nhau, dù là có biết bao
nhiêu khác biệt.
Sức mạnh của người Việt là sức mạnh tiềm ẩn từ mỗi người, mỗi gia đình
đã phấn đấu trong từng hoàn cảnh mà vươn lên. Đa số đã thành đạt từ con
số không kể cả vật chất lẫn tinh thần. Phần lớn trước sau đến đất này
đều hai bàn tay trắng với một đầu óc trống rỗng. Nhưng ngày nay, tất cả
đều đã đổi khác.
Đợt di tản đầu tiên đã tiến rất xa. Đợt sau đã nỗ lực đuổi theo, rồi
những đợt tiếp theo. Rào rạt, mạnh mẽ như những lớp sóng sinh tồn, lớp
sau theo lớp trước mà tràn bờ. Tất cả như phù sa xây dựng nền móng cộng
đồng.
Ý NIỆM VỀ MỘT CỘNG ĐỒNG KHÁC BIỆT:
Vì khả năng sinh tồn, với tiềm lực khai phá mạnh mẽ và có cơ hội sống ở
một nước tự do nên các quan điểm điều khác biệt và cách làm việc khác
biệt được phát triển và cộng đồng Việt đã tiến mạnh mẽ như ngày nay.
Không cần một sự chỉ đạo trên toàn thế giới của một Bộ Quốc Gia Giáo
Dục hải ngoại, tất cả các nơi đông người đều có các lớp Việt ngữ và
phát triển hệ thống truyền thông Việt ngữ. Không cần sự khích lệ của
Ban Đại Diện Cộng Đồng, tất cả các hội ái hữu địa phương, trường sở,
đơn vị, binh chủng đều được thành lập đưa mọi người đến với nhau theo
từng hoàn cảnh. Mỗi hội ái hữu trở thành một đơn vị của cộng đồng.
Không cần Bộ Kinh Tế, các khu thương mại Việt Nam đã hình thành. Không
cần Bộ Giao Thông Công Chánh, các xe đò tư nhân đã ra đời. Rồi tiếp
theo là các tổ chức chính trị, các cơ quan dịch vụ xã hội đã nhờ tự do
mà phát triển.
Nếu giả thuyết chúng ta có một cơ chế thống nhất chỉ đạo tất cả mọi
hoạt động của người Việt tại một địa phương thì chuyện gì sẽ xảy ra. Dù
đây là một ý niệm không thể thực hiện được nhưng nếu chân lý của sự
đoàn kết cộng đồng như thế thì có phải là điều mà mọi người mong ước
hay không. Không! Chúng ta không muốn muôn loài hoa phải là hoa vạn thọ.
Chúng ta có lẽ không cần lo cộng đồng chia rẽ trong khi thực sự cộng
đồng chỉ đang sống trong tự do với các khuynh hướng khác biệt.
NHỮNG ƯU ĐIỂM CỦA CỘNG ĐỒNG VIỆT HIỆN NAY:
Nói chung, cộng đồng của chúng ta vẫn còn chậm tiến so với các sắc dân
Tây phương và Nhật Bản, một trong các lý do là sự gia tăng mạnh mẽ và
liên tục về dân số đã làm chậm trễ phần nào sự định cư. Khi trong một
gia đình mọi thành viên đã có mặt đầy đủ để lên đường thì mục tiêu an
cư lạc nghiệp sớm đạt tới. Trong suốt 30 năm, chúng ta vẫn còn lo cưu
mang quê nhà và đón người mới tới thì chắc chắn việc định cư phải trì
trệ. Tuy nhiên, kiểm điểm lại các thành quả chính thì đây là các khía
cạnh đáng lưu ý.
1). Gia tăng dân số: Dân Việt là sắc dân có tổng số di dân vào Mỹ nhiều
nhất so với các sắc dân khác trong thập niên 90. Trên phương diện đếm
đầu người, dân Việt đã mạnh gấp ba lần trong 30 năm.
2). Bảo tồn Việt ngữ: Qua truyền thông Việt ngữ và các lớp Việt ngữ,
dân Việt giữ được ngôn ngữ truyền thống đứng hàng nhì so với các nước Á
châu. Chỉ sau sắc dân Trung Hoa.
3). Tài chánh: Dân Việt đứng hạng 5 về số tiền gửi về quê hương sau Mễ,
Ấn Độ và Cuba và Phi. Mặc dù người Việt định cư sau các sắc dân khác và
tuy còn nghèo nhưng đã sớm dành dụm để gửi về gần 4 tỷ Mỹ kim một năm.
Số tiền gửi về cho thân nhân, dù có lập luận cho rằng gián tiếp củng cố
cho chế độ cộng sản, nhưng trên thực tế có tác dụng lớn làm chuyển hóa
đất nước.
Chính phủ Hoa Kỳ gián tiếp coi như tiền dân Việt gửi về là một thứ viện
trợ Mỹ đến tay người dân và sẽ làm thay đổi cục diện đất nước dưới hình
diễn tiến hòa bình.
Và cũng chính những đồng tiền gửi về sau này và các món quà của thời kỳ
80 trước đây, đã giữ cho thân nhân của chúng ta còn sống mà chờ ngày
đoàn tụ. Có thể nói người Việt tỵ nạn đã làm việc khổ cực gấp hai lần
trên đất mới để nuôi cả quê hương bỏ lại.
Và điều đáng lưu ý là giới bình dân, lợi tức thấp lại là khách hàng
đông đảo của các dịch vụ gửi quà, gửi tiền về Việt Nam. Phe trí thức và
giàu có thường ít người tham dự vào lãnh vực này. Chính các bà mẹ quê
lãnh tiền già đã nhịn ăn, gửi về cho con cháu. Còn các con cháu giàu có
và học thức thường hay quên địa chỉ của bà con ở lại Việt Nam. Hãy đi
hỏi các dịch vụ gửi tiền xem là có bao nhiêu nước mắt thấm vào những
đồng đô la xanh của các gia đình bỏ báo, nấu cơm, nhặt lon ngoài đường.
CÂU CHUYỆN NGÀY VỀ:
Khi ra đi từ năm 1975, rồi đến các đợt thuyền nhân tiếp theo thời kỳ 80
đã có biết bao người mang giấc mộng trở về phục quốc giải phóng quê
hương. Trần Văn Bá từ Âu châu trở về để chết trong ngục tù cộng sản. Võ
Đại Tôn từ Úc trở về để chịu hơn 10 năm khổ sai. Từ Mỹ, Hoàng Cơ Minh
trở về để chết ở chiến trường ba biên giới.
Lý tưởng của người ra đi là phải có ngày trở về với quê hương không còn cộng sản. Lời ca hào hùng và lãng mạng cất lên:
“Này em, anh sẽ về bên kia biên giới.
Đèn nhà ai hay đốm lửa quê người.”
Nhưng rồi ngày qua, giấc mộng lớn tàn dần, các tổ chức thực tế hơn phải
hướng về đấu tranh chính trị. Người Việt bắt đầu trở về từ Âu châu, Úc
châu, Mỹ châu qua con đường du lịch. Đến bây giờ trở thành cả một thế
hệ Việt Kiều trên quê hương cũ.
Nhưng cuộc thế xoay dần. Về với quê hương nhưng không ai về với cộng
sản. Từng chuyến bay, và từng người một. Thăm quê nhà, gặp mẹ già, quan
hôn tang tế. Những người trở về với thông hành các nước Tây phương đã
thổi ngọn gió tự do và nhân quyền trên quê hương cũ. Lửa đấu tranh được
khích lệ nổi lên từ trong lòng đất nước với các tiếng nói dân chủ.
Đó là thành quả của các chuyến trở về với cả trăm ngàn du khách trên đất nước Việt Nam.
***
Nếu chúng ta có thể suy diễn một cách rộng rãi hơn để có thể thấy rằng,
khối người Việt tại Hoa Kỳ hơn 1 triệu 400 ngàn cùng với tổng số 3
triệu toàn thế giới vào đầu thế kỷ 21 đã cùng ra sức kéo quê hương dần
dần đến với thế giới tự do.
Bằng tiền bạc, bằng tình cảm gia đình, từng người một đã trở thành mẫu
mực của thế giới tự do để những người ở lại noi theo. Những ý kiến hay
hành động đối nghịch nhau đã bổ túc cho nhau trên con đường đi tới. Có
khi chỉ là những hành động vị kỷ từ việc gửi quà, gửi tiền và về thăm
gia đình đã góp gió thành bão để làm thành lịch sử.
Và cũng như thế, lịch sử của cộng đồng được xây dựng qua ý nghĩa hợp
quần tương trợ ngay trong những công việc trong đời sống hàng ngày. Từ
các dịch vụ y tế, luật pháp, địa ốc, tài chánh, thương mại và đặc biệt
là ẩm thực qua các nhà hàng đã kéo người Việt lại với nhau nhiều hơn là
các quan niệm chính trị.
Trong khi thảo luận về việc chấp nhận một cộng đồng toàn diện, chúng ta
phải ghi cả các thành phần con lai trong chiến tranh Việt Nam và con
lai của các cuộc hôn nhân ngoài sắc tộc càng ngày càng gia tăng. Chúng
ta phải chào đón những trẻ em gốc Việt ra đời tại Hoa Kỳ và cả những
đồng bào Việt gốc Hoa suốt đời gắn bó lịch sử Việt Nam.
Về lịch sử người Hoa trong cộng đồng Việt, chúng ta không quên rằng, cả
miền châu thổ Hậu Giang ngày xưa đã là nơi dung thân của các đoàn người
Trung Hoa di tản xuống phương Nam. Họ đã được chúa Nguyễn Hoàng giao
cho mở mang miền hoang vu cực Nam của đất nước. Tiếp theo sau này các
triều vua Nguyễn cũng đã đưa biết bao nhiêu quân nhân di tản từ Trung
Hoa vào Hà Tiên, Rạch Giá để bây giờ trở thành các dòng họ Việt Nam di
tản qua Hoa Kỳ.
***
Đặc biệt nhất là trong lịch sử 30 năm di tản, thành tích oai hùng và
cảm động nhất mà chúng tôi ghi nhận được là câu chuyện đòi tự do cho tù
cải tạo và việc định cư tại Hoa Kỳ.
Khi đất nước rơi vào tay cộng sản hơn 200 ngàn tù binh trở thành tù
chính trị bị giam giữ vô thời hạn vào năm 1975. Không ai ngờ rằng 30
năm sau, cho đến bây giờ các hồ sơ của con cháu HO vẫn còn tiếp tục
được cứu xét, hết đợt này đến đợt khác vào năm 2006.
Mới đây, phi trường lịch sử Los Angeles đón hơn 200 thuyền nhân đến
muộn từ Phi Luật Tân, xin cùng đọc lại mẩu tin về tù cải tạo đến Hoa Kỳ
vào năm 1990, chuyến bay đầu tiên đến San Francisco. Đó là một ngày
lịch sử. Tin trên Thời Báo như sau:
“Sau hai ngày chờ đợi vì chuyến bay đình hoãn, vào lúc 6 giờ sáng ngày
thứ Bảy 13.1.1990, những gia đình H.O đầu tiên đi Mỹ đã tới phi trường
San Francisco. Khoảng 150 người gồm các thân nhân và đại diện các đoàn
thể đã được Liên Hội Bắc Cali, Hội Quán Việt Nam và Hội Cựu Tù Nhân
Chính Trị phối hợp tổ chức đón tiếp với những biểu ngữ, những bó hoa,
và những lá cờ Việt-Mỹ. Báo chí và truyền hình Hoa Kỳ đã có mặt đông đủ
để phỏng vấn những gia đình đoàn tụ mang tính cách lịch sử sau 15 năm
kể từ khi Sài Gòn thất thủ. Trong số những người mang danh hiệu H.O1,
có Trung tá La Phước Hy, thuộc Bộ Quốc Phòng, đến Oakland với vợ và 4
con. Trung úy Hải quân Bùi Thế Nguyên về San Francisco. Trung úy Nguyễn
Hữu Thức với vợ và 2 con về San Jose. Đặc biệt Đại úy Đỗ Đức Vinh
P2/TTM đi một mình, đoàn tụ với vợ và 2 con sau 15 năm xa cách. Bà Vinh
có một nhà hàng ở Fresno. Ngoài ra, có 11 gia đình khác đến San
Francisco, sau 3 giờ tạm nghỉ, sẽ lấy phi cơ đi các nơi khác với danh
sách như sau: Trung úy Cảnh sát đặc biệt Biên Hòa Nguyễn Văn Cầu (8 năm
tù) sẽ về South Carolina. Thiếu tá Hoàng Văn An, Phòng Tổng Quản Trị
Tổng Tham Mưu (6 năm tù) sẽ về Seattle thuộc tiểu bang Washington. Còn
lại 9 sĩ quan về với gia đình, về các nơi tại miền Nam Cali. Thiếu tá y
sĩ Trần Như Du, Chẩn Y Viện Sàigon (7 năm tù), Ngô Quang Dường, Trung
úy biệt phái Việt Tấn Xã (8 năm), Trung úy Hải quân Nguyễn Quốc Hùng (6
năm), Thiếu úy Nguyễn Thái Hòa, Đại đội trưởng thuộc Tiểu khu Sa Đéc (6
năm), Trung úy Hồ Văn Phước, Phi đoàn 247 Đã Nẵng (7 năm), Trung úy Võ
Tấn Phát, Biệt phái Bộ Kinh Tế (5 năm), Thiếu úy La Tấn Bạch, Trung
đoàn 49, Sư đoàn 25 (6 năm), Thiếu tá Truyền tin Nguyễn Thượng Hiệp (7
năm), Đại úy Trần Ngọc Pha, Không quân (6 năm).
Ngay khi vừa ra khỏi khu vực kiểm soát quan thuế, tù chính trị và gia
đình gồm 55 người đã được nghe tiếng reo mừng, vỗ tay của những người
chào đón. Hoa và cờ Hoa Kỳ cùng cờ Quốc gia Việt Nam loại nhỏ được trao
tặng cho những người mới đến.
Đại diện Liên Hội Bắc Cali trao cho mỗi gia đình một bao thơ mừng Xuân
và 50 đồng lấy hên. Số tiền này do một số đồng bào và Hội đoàn nghe tin
mừng, tự động góp tặng vào ngày thứ sáu tuần trước tại San Jose.
Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị đã gởi thư mời 4 gia đình mới đến tại Bay Area về dự tiệc Hội Ngộ tổ chức vào ngày Chủ Nhật 14.1.90.
Hội Tết San Jose gửi thiệp mời đến quý vị dự lễ thượng kỳ vào đầu năm Canh Ngọ ngày 27-1-90 tại Santa Clara County Fairgrounds.”
***
Kể từ 1990 đến nay cũng đã 16 năm qua. Chúng ta lại hội ngộ đón Xuân
Bính Tuất. Những cựu tù cải tạo đã qua Mỹ gần hết. Trong danh sách
người đến vào ngày 13 tháng 1-1990 có Hải quân Trung úy Bùi Thế Nguyên
đã qua đời tại San Jose vào cuối năm 2005.
Năm nay, thiệp mời của Hội Tết bớt đi một lá nhưng đã có biết bao nhiêu chiến hữu khác có mặt trên quê hương mới.
Khi mới đến San Francisco 16 năm trước, bao nhiêu người vợ đón chồng: “Cầm tay em anh nói, nói chi cũng muộn màng.”
Và cũng có những trường hợp: “Anh trở về dang dở đời em. Ta nhìn nhau ánh mắt chưa quen...”
Đó là định mệnh của mỗi người, định mệnh của cả đất nước. Muốn cuộc
sống còn tồn tại, muốn cộng đồng còn tồn tại, thì ta đành phải chấp
nhận nhau thôi. Hãy để cho sự tử tế mở rộng tấm lòng. Hãy để cho thời
gian giải quyết các đớn đau phiền muộn.
Chưa bao giờ thế giới này cần sự tử tế như bây giờ. Có lẽ phải viết lại
định nghĩa của một người tử tế. “Người tử tế là người ăn ở tử tế với cả
những người không tử tế.” Và những người tử tế sẽ làm thành một cộng
đồng tử tế. Đó sẽ phải là cộng đồng của người Việt chúng ta.
Giao Chỉ – San Jose 2006
Xin liên lạc với chúng tôi tại địa chỉ IRCC, Inc. 420 Park Ave., San Jose, CA 95110.
Tel.: (408) 971-7878. Fax: (408) 971-7882. Email: amy@irccsj.com