Theo Dan Chim Viet - Vương Văn Quang - 21-01-2006
- Truyện ngắn
I.
Trời mùa đông. Hơn bốn giờ sáng, bóng đêm còn quánh đặc. Gío bấc luồn qua khe cót ép, rít lên như tiếng cạo cật ống giang
Bà nội đang lúi húi thắp hương trên bàn thờ tổ nghề. Hôm nay, bà dậy
sớm hơn mọi ngày, vì bữa nay là ngày học sinh của bà thi học kỳ. Bà sẽ
lên lớp sớm để chỉ bảo học sinh cách hoá trang, và căn dặn những điều
cần thiết cuối cùng, trước khi các học sinh của bà bước lên sân khấu
biểu diễn báo cáo.
Bà nội tôi là một nghệ nhân sân khấu truyền thống. Mọi người gọi bà là
“nghệ nhân” chứ không phải “nghệ sĩ”. Tôi không hiểu lắm sự phân biệt
này. Hồi trẻ, chắc bà tôi phải là một đào có tiếng, cho nên bây giờ,
khi đã về già, không còn đứng được trên sân khấu, bà được nhiều nơi mời
dậy. Không chỉ dậy có học sinh trường Nghệ thuật sân khấu, bà còn dậy
cả các diễn viên trẻ bên đoàn tuồng, đoàn chèo. Mà chả cứ diễn viên
trẻ, thỉnh thoảng, tôi còn thấy cả những diển viên, nghệ sĩ lớn tuổi,
sang nhờ bà chỉ bảo.
Bà nội có ba người con. Bố tôi là cả, sau còn hai người, một trai, một
gái. Tức là cô và chú tôi. Nhưng bà không ở với người nào. Bà chỉ sống
với tôi, trong một căn phòng tập thể của trường Nghệ thuật sân khấu.
Căn phòng rộng hơn chục mét vuông, mặt trước và mặt trái là tường gạch,
mặt sau và mặt phải bằng cót ép. Tôi ở với bà từ khi chưa đầy một tuổi.
Bố mẹ tôi có ba người con, tôi là út. Chả hiểu vì lí do gì, sau khi cai
sữa được ít lâu, bà đón tôi về ở hẳn với bà.
II.
Từ lúc lẫm chẫm biết đi, tôi đã theo bà lên lơp xem các cô chú học
sinh, diễn viên diễn tập. Mặc dù còn rất nhỏ, và không hiểu lắm về các
trích đoạn tuồng chèo, nhưng tôi xem cứ mê mẩn. Thế giới tuổi thơ của
tôi là những trích đoạn tuồng cổ, nào Đào Tam Xuân loạn trào, nào Hồ
Nguyệt Cô hoá cáo, nào Xuân Đào cắt thịt … Ban ngày thì xem, ban đêm,
bà lại kể tôi nghe về các tích tuồng, bà kể và giải thích rất kỹ càng.
Bà kể hay lắm. Những câu chuyện đầy hấp dẫn của bà, với tôi, giống như
những câu chuyện cổ tích, hay những lời hát ru với những đứa trẻ khác.
Được xem và nghe như vậy, nên tôi còn có thể phát hiện ra, cô chú diễn
viên nào làm sai. Có lần tôi phát hiện cô học sinh tập vai Đào Tam Xuân
làm sai, tôi liền bảo: “Cô diễn chỗ này chưa giống bà cháu”. Nói rồi
tôi làm ngay lại đoạn đó và nói rõ, cô làm không đúng chỗ nào. Cả bà
tôi, cô học sinh kia, và cả lớp học sinh cùng trố mắt nhìn tôi kinh
ngạc. Bởi vì lúc đó tôi mới hơn năm tuổi. Bà bảo: “Con diễn lại cho bà,
và các cô xem nào”. Thế là tôi thả sức thể hiện, đã bao lâu nay tôi say
mê theo dõi rồi nhập tâm, bây giờ có dịp, tôi cứ thế say sưa diễn hết
trích đoạn Đào tam Xuân loạn trào. Khi tôi diễn xong, các cô chú học
sinh hết lời khen tôi thì đã đành rồi, mà ngay cả bà tôi cũng khen.
Bình thường, tôi thấy bà ít khi khen ai lắm. Trong nghề, bà có vẻ khắt
khe. Được thể, tôi bảo bà: “Con còn diễn được nhiều vai khác cơ”. Rồi
tôi tiếp tục, hết Nguyệt Cô hoá cáo đến Mộc Quế Anh dâng cây, nếu bà
không ngăn lại vì sợ tôi mệt, thì không biết tôi còn diễn đến bao giờ.
Từ hôm sau đó trở đi, các cô chú học sinh không bế ẵm, đùa nghịch với
tôi như trước. Họ đứng cách xa, rồi túm tụm, xì xào, chỉ chỏ. Không
hiểu tại sao lại thế, nên tôi hỏi bà. Bà cười bảo: “Các cô chú ấy phục
con quá đấy mà”. Tiếng đồn về tôi đến cả tai ông trưởng đoàn tuồng. Một
hôm, ông ta xuống sàn tập, ông ngồi đó cả buổi, chờ bà tôi lên lớp
xong, ông nói gì đó với bà, sau đó, bà bảo tôi diễn cho ông ta xem
trích đoạn Đào Tam Xuân loạn trào. Sau khi xem tôi diễn xong, ông không
nói gì, mà chỉ nhìn tôi một lúc rất lâu. Tôi thấy ông ta thì thào to
nhỏ với bà tôi một lát rồi về, vẻ mặt vô cùng bí hiểm và căng thẳng.
Tối hôm đó, tôi hỏi bà: “Bà ơi, hôm nay ông trưởng đoàn nói gì với bà
thế”. Bà bảo : “À, bác ấy muốn cho con làm diễn viên”. “Thật hả bà? Thế
con có được bôi má phấn, môi son như các cô chú diễn viên thật không?”
“Có chứ, nếu là diễn viên, con sẽ được đánh son, phấn, có cả phục trang
nữa”. “Thế thì thích lắm bà nhỉ! Thế bao giờ con được làm diễn viên hả
bà?”. “Bác ấy muốn cuối tuần này, con tham gia biểu diễn luôn, nhưng bà
chưa đồng ý. Bà sợ con còn bé quá” “Ứ ừ, con không chịu đâu, bà cho con
làm diễn viên ngay cơ. Bà nhé”. Bà tôi không trả lời. Tôi thấy bà thở
dài.
Cuối cùng mong ước trở thành diễn viên của tôi cũng thành sự thật. Sau
lần ông trưởng đoàn xem tôi diễn, ông còn xuống sàn tập mấy lần nữa,
chắc để thuyết phục bà tôi. Bố mẹ tôi khi biết chuyện thì hào hứng
lắm.Có lẽ bố mẹ cũng thích chẳng kém gì tôi. Sau đó chừng một tháng,
tôi đã biểu diễn buổi đầu tiên. Tôi diễn trích đoạn Đào Tam Xuân … .
Khán giả đông lắm, chật cứng rạp, nhưng tôi không để ý tới họ. Tôi được
hoá trang, được mặc bộ giáp phục màu trắng bé tí xíu của nữ tướng Đào
Tam Xuân, được đứng dưới đèn màu của một sân khấu nhà hát thật sự, thế
là tôi sung sướng diễn một cách say mê. Kết thúc trích đoạn của tôi,
khán giả hò hét, vỗ tay không ngớt. Nhưng với tôi lúc đó, điều này
chẳng có gì quan trọng, tôi chỉ cần được diễn, thế là tôi sung sướng.
Ngày hôm sau, báo chí đều đưa bài viết về tôi lên trang nhất, cả Hà Nội
xôn xao về câu chuyện của tôi. Họ gọi tôi là thần đồng. Lúc đó tôi
không có cảm xúc gì đặc biệt về chuyện này, tôi chẳng biết thế nào là
hào quang của sự nổi tiếng. Đó là lợi thế đặc biệt của trẻ thơ. Sau
này, tôi nghĩ, thiên hạ khi đó họ tới xem tôi vì lạ, như xem một cái gì
đó quái dị, chứ chắc không phải họ tới để xem trình độ biểu diễn của
tôi. Nếu hồi đó tôi không diễn tuồng, mà mọc một cái đuôi dài ở đít,
một cái sừng giữa trán có lẽ họ cũng xúm vào săm soi như thế. Bởi nếu
xét về hiện tượng, có thể là khác nhau, nhưng về bản chất cũng thế cả.
Bằng chứng là đến giờ, công việc làm của tôi, chẳng liên quan gì đến
sân khấu tuồng. Tóm lại, câu chuyện của tôi hồi đó gây xôn xao ghê gớm.
Nhờ có tôi, đoàn tuồng tăng hẳn doanh số bán vé. Ông trưởng đoàn muốn
tôi có mặt trong mọi buổi biểu diễn của đoàn. Ngay đến cả bố, mẹ tôi
cũng muốn như thế, vừa tự hào, vừa tăng thu nhập. Chỉ có bà là bình
tĩnh với chuyện này hơn cả, bà chỉ cho phép tôi diễn hai tuần một buổi,
mà chỉ diễn trong nội thành hoặc quanh quanh gần đó, chứ bà không đồng
ý cho đoàn tuồng đưa tôi đi xa. Có thể, bà muốn tôi được lớn lên không
quá khác những đứa trẻ bình thường.
Tôi làm “thần đồng” như thế trong vòng ba năm, lúc này thiên hạ bắt đầu
đã chán tôi, hơn nữa, tôi đã đến tuổi đi học. Bà tôi để tôi nghỉ hẳn
biểu diễn, mặc dù ông trưởng đoàn vật nài, xin cho tôi vào hẳn đoàn
ông, nhưng bà kiên quyết từ chối.
III.
Từ khi đi học, tôi xoay qua mê mẩn thứ khác. Tôi mê đọc truyện. Ngoài
thời gian học, tôi chỉ chúi mũi vào đọc. Tôi đọc ngày đêm, thời đó tối
đến thường mất điện, nhưng tôi vẫn đọc, bằng đèn dầu. Bà là nguồn cung
cấp sách, bà mua cũng có, mượn cũng có; mượn ở thư viện trường nghệ
thuật và các văn nghệ sĩ khác. Tuy năng mang sách về cho tôi, nhưng bà
vẫn luôn nhắc: “Đọc in ít thôi, nhất là đọc bằng đèn dầu, hại mắt, rồi
cận thị thì bỏ bố con ạ. Con gái cận rồi khó lấy chồng”. Tôi cười hềnh
hệch rồi nũng nịu: “Con ứ thèm lấy chồng đâu, con ở với bà cơ”. Bà lấy
ngón tay gí vào trán tôi, rồi chửi yêu: “Cha bố cô, không khiến cô ở
với tôi”.
Thế rồi lời cảnh báo của bà hoá ra thành thật. Vì đọc bằng đèn dầu
nhiều quá, tới năm lớp bẩy tôi bị cận, phải đeo kính. Ngay từ đầu, tôi
đã phải đeo tới 2,5 điốp. Nhưng việc phải đeo kính cận không khiến tôi
khó chịu, ngược lại tôi cảm thấy rất vui. Vì tôi được giống với thần
tượng của mình. Thần tượng của tôi là anh Trương Tràng, anh mang kính
tới 9 điốp. Anh Tràng là nhân viên mới của trường Nghệ thuật sân khấu,
anh về được gần năm nay. Phòng anh ngay sát phía sau phòng của bà cháu
tôi, tức là về phía có vách bằng cót ép. Không phải tới khi anh Tràng
về công tác ở trường, tôi mới biết anh. Tôi đã biết anh từ trước đó rất
lâu. Chả là từ khi còn học phổ thông, anh Tràng đã viết được một số
truyện ngắn, và được xuất bản trong một tuyển tập truyện ngắn gồm những
cây bút học sinh. Tôi đã đọc tập truyện này, trong đó tôi đặc biệt
thích truyện của anh. Cho tới giờ, tôi vẫn còn nhớ một nhân vật của
anh, nhân vật có điệu cười không bắt đầu bằng chữ H.
Chính vì có ấn tượng từ trước, nên khi anh về trường, lại làm hàng xóm,
nên tôi và anh lập tức trở nên thân thiết. Với bà tôi, anh Tràng tỏ ra
là một thư sinh, lễ phép; nên bà cũng rất quí anh. Anh Tràng là người
Việt gốc Hoa, thời kỳ xẩy ra sự kiện người Hoa, anh đang học trong
trường Tổng hợp. Khi đó, cả nhà anh đã bỏ ra nước ngoài, nhưng anh
không đi, anh đã ở lại, chấp nhận khó khăn, tiếp tục học tập, và anh đã
vượt qua. Tuy là người Hoa, nhưng tôi thấy anh có một tâm hồn Việt còn
hơn cả một số những người Việt chính cống khác. Nếu không thế sao anh
có thể viết được những câu chuyện về con người và thiên nhiên Việt Nam
xúc động và hay đến như vậy. Vốn dĩ tôi thích môn văn, từ khi được gần
anh Tràng, được anh chỉ bảo thêm, tôi đạt được những tiến bộ rõ rệt
trong việc học văn. Mối quan hệ giữa anh Tràng và bà cháu tôi ngày càng
thân thiết. Bà tôi, mỗi khi nấu món gì ngon, bao giờ bà cũng gọi anh
Tràng, hoặc bà bảo tôi mang cho anh. Đối với riêng tôi, anh Tràng ngày
càng dành cho tôi những tình cảm đặc biệt hơn. Nhiều lần, tôi bắt gặp
anh nhìn tôi với ánh mắt đắm say, nhưng khi bất chợt gặp ánh mắt của
tôi, anh thường nhìn lảng đi chỗ khác.
Tôi biết, anh Tràng đã yêu tôi. Và tôi cũng … yêu anh. Khi đó, tôi đang
học lớp 7. Tình yêu của tôi với anh, bắt nguồn từ lòng kính trọng.
Hình như bà đã lờ mờ đoán ra chuyện của hai chúng tôi, bà để ý và dò
xét tôi nhiều hơn. Rồi giữa chúng tôi đã xẩy ra một chuyện. Chuyện này
đã khiến cho tình yêu của chúng tôi vừa bùng cháy đã đột nhiên tắt lịm.
Hôm đó, tôi sang phòng anh để xin ý kiến về một bài tập làm văn. Phòng
anh cũng có diện tích bằng với căn phòng của bà. Góc phòng, nơi tiếp
giáp với tấm vách cót ép ngăn cách với phòng bà, anh kê chiếc giường cá
nhân. Đầu giường là cái tủ nhỏ đựng quần áo, trên tủ là chiếc giá chất
đầy sách. Gần cửa ra vào là bộ bàn ghế rất xinh. Tôi ngồi ở giường để
đọc bài văn, anh Tràng ngồi ở bộ bàn ghế, uống trà và nghe tôi đọc. Tôi
đọc xong đã một lúc, vẫn chưa thấy anh có những nhận xét như mọi khi.
Tôi im lặng chờ đợi. Rồi anh đi đến chiếc giường, ngồi xuống bên tôi,
anh đưa tay vuốt tóc tôi. Tim tôi đập thình thịch, người nóng ran… Tôi
im lặng, chờ đợi, nhưng không phải chờ đợi lời nhận xét về bài văn. Vẫn
im lặng, bất ngờ anh ôm choàng lấy tôi và đặt lên môi tôi một nụ hôn
cuồng nhiệt. Tôi tiếp nhận nụ hôn của anh với cảm giác đê mê. Rồi anh
đẩy tôi xuống giường và nằm đè lên tôi, môi chúng tôi vẫn gắn chặt vào
nhau. Không hiểu vì lí do gì, tôi đột ngột mở mắt, mắt hướng lên trần
nhà, tôi thấy bà đang thò đầu sang (bức vách bằng cót ép ngăn phòng,
nhưng còn để hở phía trên khoảng 50 phân) nhìn chúng tôi, ánh mắt hình
như là trân trối. Tôi hết hồn, tim như ngừng đập. Anh Tràng vẫn không
hay biết gì vì anh nằm sấp. Anh vẫn hôn tôi tới tấp. Tôi cố tránh những
nụ hôn của anh và co chân lên. Thế là anh Tràng bật dựng đứng; anh ôm
bụng, mặt nhăn nhó, thở hổn hển và ngồi bệt xuống đất. Một lúc lâu sau,
không dám nhìn lên, nhưng tôi đoán bà đã thu đầu về. Tôi tới gần anh,
ấp úng: “Lúc nãy…, anh có…, đau không? Cho em xin lỗi”. Anh Tràng không
nói gì, anh lấy gói mỳ cho vào tô, đổ nước sôi rồi ngiêm trang nhìn tô
mỳ qua cặp mắt kính dầy.
IV.
Sáu tháng sau khi xẩy ra sự việc trên, anh Tràng lấy vợ. Vợ anh rất
xinh, theo đánh giá của tôi, chị ta xinh đẹp hơn tôi nhiều. Chị có vẻ
giỏi giao tiếp, mới về khu tập thể này có tuần lễ mà chị đã quen thân
với hầu như tất cả hàng xóm. Và một điều nữa cũng rất quan trọng, chị
là con gái Hàng Đào. Tôi nghĩ anh Tràng lấy chị cũng là xứng đáng. Từ
khi có mặt vợ anh Tràng, cái không gian yên ắng xưa kia không còn, nó
đã trở nên sinh động hơn nhiều, bởi chị rất hay nói. Có hôm tôi thấy
chị bình cả thơ. Chị đọc thơ Hồ Xuân Hương (chắc chị lấy trên giá sách
của anh Tràng): “Lày lày chị bảo cho mà biết/ Chốn ấy hang hùm chớ mó
tay”, rồi chị vừa bình vừa cười: “ Hé… hé… hé …, con mẹ lày quê đâu mà
lói lăng máu nhề”.
Vợ chồng anh Tràng không làm hàng xóm với bà cháu tôi lâu. Nửa năm sau
khi cưới vợ, anh Tràng chuyển cơ quan công tác. Chuyển cơ quan, cũng là
chuyển chỗ ở. Tôi thầm mong, ở cơ quan mới, người ta sẽ phân cho anh
căn hộ có bốn phía đều là tường gạch.
V.
Dạo này bà tôi có vẻ buồn, tôi gặng hỏi mãi mới hiểu ra tâm sự của bà.
Bà buồn vì từ khi nhà nước có chủ trương phong tặng danh hiệu nghệ sỹ
nhân dân, ưu tú, bà tin tưởng rằng mình sẽ là một trong những cái tên
đầu tiên được phong tặng. Nếu xét về chuyên môn, nghề nghiệp và sự cống
hiến thì niềm tin của bà là hoàn toàn có cơ sở. Nhưng vì một lí do rất
vớ vẩn mà bà tôi không thuộc diện được xét. Lí do đó là, bà tôi không
trong biên chế. Mà lí do khiến bà tôi không được vào biên chế, là vì
chồng bà, tức là ông nội tôi. Năm 54 ông tôi (cũng là một kép hát có
tiếng) bỏ vào Nam. Ông tôi bỏ bà vào Nam, không phải do có nhân tình,
nhân ngãi. Ông bỏ xứ sở vào Nam cũng chẳng phải chuyện theo ta, theo
địch. Ông nội tôi vào Nam theo tiếng gọi của thuốc phiện. Ông nghiện
thuốc phiện nặng. Giải phóng thủ đô, ông sợ không có thuốc phiện, nên
ông bỏ vào Nam. Đơn giản chỉ có thế. Theo bà kể thì hồi đó, tiệm hút mở
công khai, giá cũng không đắt lắm. Vì thế, các ông văn nghệ sĩ cứ mười
ông thì đến bẩy, tám ông nghiện. Giải phóng về, ông nào gan dạ ở lại,
thế là cai được. Còn ông nội tôi yếu bóng vía, nên vội chạy vào Nam.
Tất nhiên, không phải ông văn nghệ sỹ nào chạy vào Nam cũng đều vì
thuốc phiện như ông nội tôi. Có nhiều người ra đi bởi những lí do khác
nữa. Nhưng có một thời, khái niệm của cụm từ “Di cư vào Nam” đồng nghĩa
với “Phản động, theo địch”.
Cũng chỉ vì ông nội tôi “phản động”, mà bố tôi không bao giờ được vào
Đảng, mặc dù đây là khát vọng của bố tôi và bố không ngừng phấn đấu để
đạt ước mơ trở thành đảng viên cộng sản. Nhưng vô ích, đây là nguyên
tắc. Có lần, tôi nghe thấy bố nói chuyện với bà: “Từ hôm nay, con có
thể yên tâm rồi. Con là một “Đảng viên ngoài Đảng”. Bà tôi hỏi: “Đảng
viên ngoài Đảng” là thế nào? Bố tôi đáp: “Hôm nay, cơ quan con có đồng
chí trên ban tư tưởng trung ương về nói chuyện. Đồng chí ấy bảo, các
đảng viên chúng ta, nên quan sát và học tập một số quần chúng. Những
quần chúng này có phẩm chất và đạo đức cách mạng rất cao. Vì những lí
do nào đó, các đồng chí ấy chưa được đứng trong hàng ngũ của Đảng. Tôi
có thể gọi những đồng chí ấy là ‘Đảng viên ngoài Đảng’… Con nghe thế,
nên cứ mát cả ruột. Từ nay, con có thể tự hào mình là một Đảng viên
ngoài Đảng”.
Vào những ngày đầu thế kỉ 21 này, bố tôi đã thành người thiên cổ. Ông
vào cõi vĩnh hằng cùng với nỗi khao khát khôn nguôi và cả niềm tin ngây
thơ. Có lẽ chính vì vậy mà ánh mắt trong bức ảnh chân dung ông trên ban
thờ luôn mang vẻ buồn bã. Anh tôi gắn lên ngực ông cả mớ huân huy
chương bằng kĩ thuật photoshop; anh làm thế với mong muốn làm đẹp lòng
ông? Nhưng kết quả có vẻ như là ngược lại. Tôi vẫn thấy mắt ông đượm
buồn. Thậm chí buồn nhiều lần hơn trước.
VI.
Sau giải phóng Sài Gòn, tôi được đi cùng với bà vào thăm ông nội. Trông
ông nội yếu lắm, còn yếu hơn cả bà. Ông sống một mình trong một căn nhà
nhỏ ở khu Đakao, gọi là túp lều thì đúng hơn, trong nhà trống huyếch
trống hoác, không có thứ đồ đạc nào cho ra hồn. Gặp bà, ông chỉ khóc.
Ông khóc nhiều lắm, mấy ngày liền. Nếu thôi khóc mà im lặng thì không
sao, nhưng cứ định nói gì là ông lại khóc. Bà tôi cũng khóc, nhưng ít
hơn, chỉ mếu máo một lúc khi mới gặp thôi. Còn sau thì bà doạ ông:
“Này! Ông khóc ít thôi, còn nói chuyện chứ. Cứ khóc thế này là tôi bỏ
về liền đấy”. Nhưng bà doạ hay dỗ thì ông cũng cứ khóc. Nhìn cảnh sống
và tình cảm của ông, tôi tin, ông bỏ bà và xứ sở đúng là vì thuốc
phiện. Tôi và bà ở chơi với ông hơn hai tháng thì về Hà Nội. Trước khi
về, bà tháo đôi bông tai và cái nhẫn để lại cho ông. Thời mới giải
phóng Sài Gòn, dân tình truyền nhau câu tục ngữ: “Miền Bắc nhận hàng
miền Nam nhận họ”, nhưng với gia đình tôi, câu tục ngữ kia có vẻ như
đúng theo chiều ngược lại. Âý là nói cho vui vậy. Tôi không sao quên
được vẻ mặt ông nội khi nhận từ tay bà đôi bông, chiếc nhẫn và ít tiền.
Buồn thê thảm.
Sau khi bà cháu tôi về, chưa đầy một năm sau thì ông mất. Bà bảo: “Tại
ông con thiếu thuốc đấy. Nếu còn thuốc ông ấy chưa chết đâu”. Sau tôi
mới hiểu kỹ hơn, ông tôi dùng thuốc phiện đen, hút bằng bàn đèn. Những
người nghiện kiểu này vẫn khoẻ và sống dai, nếu có đủ thuốc.
VII.
Tôi bảo bà: “Việc gì bà phải buồn vì chuyện đó cho hại sức khoẻ. Bà vẫn
chẳng hay nói là hữu xạ tự nhiên hương là gì? Vả lại nhà nước đã định
ra qui chế, bà không may nên thiếu một tiêu chuẩn mang tính hành chính,
chứ có ai dám nghĩ bà không phải nghệ sỹ đâu. Mà con thấy mấy ông nhà
văn, nhà biên kịch, công việc của họ là đỉnh cao trong lĩnh vực sáng
tạo nghệ thuật, các ông ấy chất nghệ đầy mình. Thế mà có ai phong ưu tú
hay nhân dân gì cho họ đâu. Con thấy các ông ấy chẳng phàn nàn gì, vẫn
cười như tết. Nghệ sỹ là phải sỹ nặng bà ạ”. Bà cười, bảo: “Ôi dào, các
ông văn, kịch sĩ họ cười thế thôi, chứ đằng sau nụ cười các ông ấy thì
có ma quỉ mới biết là những cái gì. Mà này, bà bảo, con đọc sách ít
thôi. Học cũng vừa vừa thôi. Liền bà, con gái biết nhiều quá rồi khổ
con ạ”. Tôi trả vờ ngây thơ hỏi trêu bà: “Sao con gái biết nhiều lại
khổ hả bà?”. “Vì liền ông họ không thích liền bà thông minh, hiểu biết
hơn họ”. “Họ thích không quan trọng bằng con thích. Con sẽ lấy chồng
chứ không phải chồng con lấy vợ”. Bà âu yếm ôm tôi vào lòng và kết thúc
câu chuyện bằng câu nói muôn thưở: “Cha tiên nhân bố cô. Lý luận lắm”.
Dạo này bà yếu nhiều, có hôm phải chống gậy lên sàn tập. Mặc dù có tâm
sự buồn, nhưng bà vẫn lên lớp đều, không bao giờ bỏ tiết. Cũng may,
lịch dậy của các bộ môn sân khấu truyền thống càng ngày càng thưa. Học
sinh vắng vẻ, không khí học tập chểnh mảng. Nghệ thuật truyền thống
càng ngày càng sa sút, tiêu điều. Các bộ môn nghệ thuật này cũng buồn
bã và yếu ớt như bà vậy
VIII.
Tôi lấy chồng, chồng tôi làm nghề mổ lợn. Tôi và anh ấy tình cờ gặp
nhau, anh ấy yêu tôi và tôi cũng yêu anh ấy. Tình yêu của chúng tôi
chẳng vì cái nghề mổ lợn của anh mà kém lãng mạn hơn so với các mối
tình khác. Hôm cưới, lúc lên xe rước dâu, bà nắm tay tôi, hai bà cháu
nhìn nhau cùng rớm nước mắt. Không hiểu sao, lúc ấy trong tôi có cái
cảm giác mà người ta hay gọi là cảm giác cô dâu về nhà chồng. Mặc dù
tôi thừa biết, tất cả các thủ tục này chỉ là hình thức. Nếu muốn, ngay
ngày mai tôi lại về ở với bà năm bữa, nửa tháng. Nhà chồng hay nhà bà,
có gì khác nhau đâu. Biết thế song tôi vẫn không khỏi cảm thấy bùi
ngùi. Còn bà? Tôi không hiểu bà buồn vì điều gì
Sau đám cưới, cứ đều đặn thứ bẩy nào, vợ chồng tôi cũng về thăm bà. Hai
tháng nay, bà yếu nhiều. Không bệnh tật gì cả, nhưng bà cứ mệt, không
ngồi dậy được mà cũng chẳng ăn được. Thời gian này, bố mẹ tôi ở hẳn với
bà để chăm sóc.
Vào một tối thứ bẩy, như thường lệ, vợ chồng tôi lại về thăm bà. Vợ
chồng tôi xuống lúc sáu giờ tối. Cùng lúc với vợ chồng tôi, ông giám
đốc đoàn chèo cũng sang thăm bà. Ông khoe, đoàn chèo đã dàn dựng xong
vở “Xác chết trước cổng thành”, kịch bản của một ông Tây có cái tên rất
dài.
Tôi ngồi ở đầu giường bà. Bà không nói được gì, nhưng hình như môi bà
luôn nở nụ cười trìu mến với tôi. Tới chín giờ, tôi định về, thì bà nắm
tay tôi rất chặt, như có ý bảo tôi ở lại. Tôi ngồi lại thêm khoảng một
tiếng. Tưởng bà đã ngủ, tôi khe khẽ rút tay ra khỏi tay bà để ra về.
Nhưng thật kì lạ, như đọc được ý nghĩ của tôi, tay bà lại siết tay tôi,
mặc dù mắt bà vẫn nhắm. Chồng tôi ngồi ngoài bàn trà, anh ấy đã ngủ gà
gật, sểu cả dãi. Tôi khẽ bảo: “Thôi, anh về trước đi, hôm nay em ở lại
với bà”. Chồng tôi khẽ giật mình, anh lôi thuốc lá ra hút rồi khoát
tay, tỏ ý muốn ở lại với tôi.
Hơn 12 đêm hôm đó giờ thì bà tôi mất. Ngày đó cũng là ngày đoàn chèo diễn báo cáo vở chèo với nhân vật châu Âu.
Bà tôi mất được ba tháng thì có quyết định phong tặng bà là nghệ sỹ ưu
tú. Trong số các học sinh của bà, bây giờ đã có người nắm giữ những
trọng trách rất cao trên bộ. Họ đã làm việc này cho bà từ trước khi bà
mất cơ, nhưng không hiểu do thủ tục thế nào mà bà tôi mất đã ba tháng
rồi mới có quyết định chính thức.
Hôm nhận tấm bằng nghệ sỹ ưu tú, cả nhà tôi, gồm bố, mẹ và anh chị tôi
mang tấm bằng xuống đài hoá thân để thắp hương cho bà. Sau đó, bố tôi
mang tấm bằng về nhà và treo lên chỗ trang trọng nhất. Tôi nghĩ, đáng
nhẽ bố phải đốt đi, như đốt vàng mã rằm tháng bẩy để gửi xuống cho bà
chứ, sao lại treo ở nhà? Của bà cơ mà. Nghĩ thế thôi, nhưng tôi không
nói ra.
IX.
Bây giờ con gái đầu lòng của tôi đã lên sáu. Nó đã hơn tôi một tuổi lúc
tôi làm “thần đồng”. Nhưng nó ngây ngô lắm, chả biết gì. Ngay việc ăn
cơm thôi, bố mẹ cứ phải đánh trống thổi kèn, hò hét đủ kiểu nó mới chịu
ăn cho. Nhưng điều này khiến tôi vui nhiều hơn. Tôi hay ngắm con bé mỗi
khi nó ngủ; những lúc ngắm con, tôi hay nhớ về thời thơ ấu. Mà mỗi khi
nhớ về thời thơ ấu, tôi lại luôn nghĩ về bà nội.
Copyright © 2006 by DCVOnline