Câu chuyện của một điệp viên CIA người Việt
Talawas - Đinh Nam - 05-01-2006
Trong
suốt chiều dài của cuộc chiến Việt Nam, nhiều công dân Việt Nam Cộng
hoà (Nam Việt Nam) đã bị chính quyền của nhà nước này bắt giam như
Huỳnh Tấn Mẫm, Dương Văn Đầy, Lê Văn Nuôi, Nguyễn Công Khế là thành
phần sinh viên học sinh. Một số nhân vật khác, không bị giam cầm, như
Phạm Xuân Ẩn, Huỳnh Văn Trọng, Vũ Ngọc Nhạ là những người làm việc
trong nhiều cơ quan và tổ chức công quyền tại miền Nam. Sau ngày 30
tháng Tư họ đều lộ diện rõ là những cán bộ được cộng sản cài đặt.
Cũng trong thời chiến tranh, tuy có những người Việt làm việc cho
cơ quan tình báo trung ương Hoa Kỳ, tức CIA, nhưng cho đến nay chưa một
ai tiết lộ tung tích. Trừ trường hợp của Yung Krall, tức Đặng Mỹ Dung,
một phụ nữ Việt muốn cứu gia đình ra khỏi Việt Nam trong những ngày
trước khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ và trở thành điệp viên cho CIA.
Nhưng bà không hoạt động trong thời chiến tranh mà chỉ làm điệp viên
sau ngày 30 tháng Tư 1975 với công tác xâm nhập những tổ chức “Việt
kiều yêu nước” tại Hoa Kỳ và Pháp Quốc.
Câu chuyện và cuộc đời của nữ điệp viên CIA Đặng Mỹ Dung được bà kể lại trong 412 trang sách của cuốn tự truyện A Thousand Tears Falling (Ngàn giọt lệ rơi) [1] .
Như
nhiều gia đình Việt Nam đã sống qua thập kỷ 1950, gia đình của Mỹ Dung
bị chia cắt bởi những luồng ý thức hệ du nhập vào mảnh đất quê hương
trong những năm trước và sau dấu mốc thời gian của Hiệp định Genève
1954.
Dòng tộc của Mỹ Dung thuộc thành phần nông dân - tiểu tư sản ở miền
đồng bằng Cửu Long, nhiều người thân tin vào “chủ nghĩa xã hội” nhưng
cũng có người không tin và thích lối sống Tây phương, có người tin vào
“cách mạng” và cũng có người coi Hồ Chí Minh là “đồ chó đẻ”. Đặng Mỹ
Dung sinh năm 1946, thuở nhỏ rất yêu lá cờ đỏ sao vàng, thích hát quốc
ca, và thường hay có dịp nghe cha mẹ, dì dượng tranh luận về ý thức hệ
mà với đầu óc non nớt, cô bé miệt vườn không hiểu gì, chỉ được người
lớn nhắn nhủ rằng: “Con còn nhỏ chưa hiểu được”.
Cha của Mỹ Dung, ông Đặng Văn Quang, hoạt động cách mạng nên nơi
ông và gia đình sinh sống đã là điểm gặp gỡ, hội họp của những cán bộ
như Lê Đức Thọ và Lê Đức Mai. Lê Đức Thọ sau này là trưởng đoàn thương
thuyết tại Hòa đàm Ba Lê; còn Lê Đức Mai, tức Mai Chí Thọ, là bộ trưởng
công an của Hà Nội.
Tung tích của gia đình Mỹ Dung ít ai biết được vì trước khi tập kết
và đem theo người con trai cả là Đặng Văn Khôi, ông Quang đã cho điều
chỉnh giấy khai sinh của những người con thành ra những đứa trẻ mang họ
Trần của mẹ, không cha và cho hủy đi tất cả những hình ảnh gia đình có
mặt ông trong đó. Cô bé Đặng Mỹ Dung nay thành Trần Ngọc Dung.
Sau khi đất nước chia đôi, dòng tộc của Mỹ Dung có tất cả tám người
tập kết. Đặng Văn Quang rời bỏ vùng đồng bằng Cửu Long, nói là tập kết
ra Bắc nhưng thực sự từ năm 1954 đến 1960 ông được bố trí hoạt động ở
miền Nam, trong những “vùng giải phóng”. Khi ông đi rồi, cán bộ sử dụng
kỹ thuật tuyên truyền để gia đình ông phải chú ý nghe đài Hà Nội, một
cách tuyên truyền của cách mạng được bà Đặng Mỹ Dung kể lại trong cuốn
tự truyện.
Dân làng, là cán bộ hay có cảm tình với cánh mạng,
thường nói với mẹ của Mỹ Dung rằng họ đã nghe được chính giọng nói và
cả tiếng đàn vĩ cầm của Đặng Văn Quang và người con trai cả trên làn
sóng đài phát thanh Hà Nội, khiến bà mẹ phải tìm cách nghe đài mỗi đêm,
dù việc này thời đó bị chính quyền miền Nam cấm, bị cảnh sát theo dõi,
nếu bắt được có thể phải ở tù. Nhưng nhiều tối nghe hoài cũng không
thấy giọng của người chồng và đứa con đầu lòng mà bà hằng thương yêu.
Sau này gia đình biết được Đặng Văn Quang chẳng bao giờ lên tiếng trên
đài Hà Nội trong những năm từ 1954 đến 1960, là thời gian ông chưa ra
Bắc. Cán bộ địa phương tung các loại thông tin như thế để nhiều người
tìm cách nghe những lời tuyên truyền của đài Hà Nội hơn.
 |
| Đại sứ Đặng Quang Minh, hình chụp năm 1975 |
Sau khi người cha ra đi, mẹ của Mỹ Dung đã phải di
chuyển gia đình nhiều lần, từ Vĩnh Long, Cần Thơ, lên Sài Gòn rồi về
lại miệt vườn để tránh bị cơ quan an ninh để ý về tung tích. Nhưng
trong nhiều trường hợp, gốc gác của gia đình đã gây ra khó khăn cho
những người con.
Ngoài Bắc, cha của Mỹ Dung đổi tên thành Đặng Quang Minh, làm việc
trong ngành ngoại giao và năm 1968 làm đại diện Mặt trận Dân tộc Giải
phóng miền Nam tại Liên Xô. Người anh cả là Đặng Văn Khôi được đi Liên
Xô học quân sự và trở thành chuyên viên tên lửa trong Quân đội Nhân
dân. Trong Nam, một người chị của Mỹ Dung là Cương lập gia đình với một
người lính Mỹ, qua Hoa Kỳ sinh sống. Người chị song sinh với Cương là
Kim cũng qua Hoa Kỳ. Em trai Đặng Hải Vân gia nhập binh chủng không
quân, Quân lực Việt Nam Cộng hoà, là một phi công trực thăng xuất sắc,
được gửi qua Mỹ tu nghiệp và bị tử thương trong một tai nạn khi đang
thụ huấn. Đặng Quang Minh tin là cái chết của người con trai thứ do bàn
tay của người Mỹ vì đã biết tung tích gia đình của ông. Mỹ Dung lớn
lên, ra đời và làm việc trong các cơ quan tâm lý chiến quân đội miền
Nam (G-5) ở Cần Thơ rồi lên Sài Gòn làm thư ký kế toán tại câu lạc bộ
sĩ quan độc thân của quân đội Hoa Kỳ (Bachelor Officers’ Quarter).
Duyên số đưa đẩy, Mỹ Dung gặp trung úy phi công của Hải quân Hoa Kỳ là
John Krall. Hai người yêu nhau, Mỹ Dung được John đưa về Mỹ và chính
thức kết hôn vào năm 1968 ở thành phố biển Monterey, California.
Không mấy ai biết được cha của Mỹ Dung đã làm đại sứ tại nước cộng
sản đứng đầu thế giới. Cho đến khi biến cố 30-4 xảy ra. Được cha mật
báo trước, Mỹ Dung muốn đưa mẹ và hai người em gái còn lại ra khỏi Việt
Nam trong những ngày cuối của cuộc chiến tranh nên đã cho giới chức Hoa
Kỳ biết tung tích về cha mình, rồi trình bày thẳng với đô đốc tư lệnh
Hạm đội Thái Bình Dương về việc muốn di tản mẹ và hai em. Khi gặp sĩ
quan tư lệnh phó, Mỹ Dung hứa nếu Hoa Kỳ giúp di tản gia đình thì bà sẽ
làm mọi chuyện để cộng tác với chính phủ Hoa Kỳ sau này. Chồng của Mỹ
Dung vào Việt Nam công tác trong những ngày cuối của cuộc chiến. Trung
tuần tháng Tư 1975, mẹ và em của Mỹ Dung rời Việt Nam. Cũng trong thời
gian này, vợ chồng họ Krall đã giúp di tản được nhiều trẻ em mồ côi ra
khỏi Việt Nam.
Làm gì để cộng tác với chính phủ Hoa Kỳ sau khi mẹ và gia đình đã rời Việt Nam? Đặng Mỹ Dung đã trở thành một điệp viên của CIA.
Những gặp gỡ, tiếp xúc sau này với cha, đại sứ Đặng Quang Minh, hay
với những nhân viên của sứ quán Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc ở New York
hay Paris, với những tổ chức “Việt kiều yêu nước” ở thủ đô Washington,
San Francisco hay những hội “Liên hiệp Việt kiều” ở Pháp là nằm trong
kế hoạch của CIA nhằm phá vỡ mạng lưới tình báo của Hà Nội trên đất Mỹ.
Mỹ Dung đã xâm nhập vào nhiều tổ chức của Hà Nội, gặp gỡ nhiều cán
bộ, từ Đinh Bá Thi, đại sứ Việt Nam ở Liên Hiệp Quốc; đại sứ Võ Văn
Sung, Phan Thanh Nam, đại diện Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam ở
Paris; đến những người hoạt động ngoại vi cho Hà Nội như Trương Đình
Hùng, Nguyễn Thị Ngọc Thoa, Nguyễn Văn Lũy ở Mỹ; Huỳnh Trung Đồng,
Nguyễn Ngọc Giao ở Pháp.
Nhiều lần vào hang cọp, hồi hộp như truyện trinh thám của Z-28, của
John le Carré, như phim James Bond 007, nhưng đó là những chuyến đột
kích có thật mà Yung Krall đã ghi lại với nhiều tình tiết. Kết quả công
tác của Mỹ Dung là phá vỡ được một mạng lưới hoạt động với mục đích thu
thập tin tức của chính phủ Hoa Kỳ do Trương Đình Hùng (David Trương) và
Ronald Humphrey, một nhân viên của cơ quan thông tin Hoa Kỳ (United
States Information Agency) chủ mưu. Ra tòa, với Mỹ Dung là nhân chứng
chính, hai bị cáo đã bị kết án mỗi người 15 năm tù.
Tự truyện của Yung Krall cho người đọc hình dung ra quê hương Việt
Nam trong thời chiến tranh là một bi kịch cho đất nước với biết bao mất
mát, chết chóc vô lý vì những chủ nghĩa, lý tưởng xa vời do lãnh đạo áp
đặt lên nhân dân. Còn dân, thực tế như nhiều người đã có kinh nghiệm,
trong đó có gia đình tác giả, thì đã phải đối phó với nghịch cảnh là
ban ngày theo “quốc gia”, tối yểm trợ “cách mạng”. Phần tác giả, ngày
còn nhỏ và ở tuổi niên thiếu rất ưa thích mầu đỏ, nên có khi bị gọi là
“Việt cộng”. Sau này với những kinh nghiệm trường đời, Yung Krall đã
nhận ra những hành vi của cộng sản thường tàn ác và chủ thuyết cộng sản
chỉ là những lời nói rỗng, lý thuyết suông.
Sau khi chiến tranh chấm dứt, hai cha con được gặp lại nhau sau hơn
20 năm xa cách. Cuộc hội ngộ diễn ra vào tháng 8 năm 1975 tại thủ đô
Tokyo khi đại sứ Đặng Quang Minh đến Nhật Bản dự một hội nghị. Đây là
một cuộc hội ngộ lý thú vì Mỹ Dung đang làm gián điệp cho CIA. Khi có
mặt cán bộ khác, cha con chỉ dám giới thiệu là người cùng quê, xưng
“bác” và “cháu” để tránh sự nghi ngờ, soi mói của cán bộ cộng sản hiện
diện. Với thắng lợi thống nhất đất nước vừa đạt được, đại sứ Đặng Quang
Minh không hề có điều gì hối tiếc vì đã theo con đường của ông. Lần
sau, gia đình gặp nhau bên Anh năm 1977, ông cũng không thay đổi lòng
tin của mình vào con đường cách mạng ông đã theo. Cô con gái có ý định
thuyết phục cha mình sau khi nghỉ hưu thì qua Mỹ đoàn tụ, sống với mẹ
và các con, các cháu, hay ở bất cứ một nơi nào khác ngoài Việt Nam,
nhưng ông một mực từ chối và nói rằng đất nước còn cần đến ông. Trong
cuộc gặp gỡ ở Anh, CIA có kế hoạch bắt cóc đại sứ Đặng Quang Minh nếu
được cô con gái đồng ý. Nhưng điều này đã không xảy ra sau khi hai cha
con tranh luận về lý tưởng. Mỹ Dung tôn trọng những suy nghĩ và không
muốn làm cho cha mình đau khổ nên bỏ ý định bắt cóc. Đại sứ Đặng Quang
Minh về nước, làm cố vấn của bộ ngoại giao, rồi qua đời ở Việt Nam năm
1986.
Qua tự truyện của Yung Krall, người đọc thấy được những giằng co
giữa tình phụ tử, ràng buộc gia đình, giữa những ý thức hệ mà người dân
Việt đã bị nhồi nhét.
Về cách tổ chức và hoạt động tình báo hải ngoại, đặc biệt là ở Hoa Kỳ, A Thousand Tears Falling
tiết lộ những phương án mà Hà Nội muốn “Việt kiều yêu nước” và những tổ
chức thân Hà Nội thực hiện trong giai đoạn sau khi chiến tranh chấm
dứt, đó là vận động Hoa Kỳ viện trợ hơn 3 tỉ đô-la cho Việt Nam vào
việc hàn gắn vết thương chiến tranh. Tổ trưởng gián điệp của Hà Nội ở
Paris là Phan Thanh Nam còn đề nghị Yung Krall thúc đẩy chồng đánh cắp
tài liệu của Hoa Kỳ về tầu ngầm và những dữ liệu thăm dò địa chất về
dầu hoả trên thềm lục địa Việt Nam.
Vụ án gián điệp trong A Thousand Tears Falling đã ra toà,
kết thúc từ năm 1978 và những can phạm đến nay cũng đã hết thời gian
thọ án. Nhưng thành phần “Việt kiều yêu nước” cũ thì dù nhà nước mời
gọi, không mấy ai trở về đóng góp cho quê hương. David Trương Đình Hùng
ra tù, chuyển qua Hà Lan sinh sống. Nguyễn Văn Lũy, qua Mỹ từ năm 1948,
nay đã ngoài 80; Nguyễn Thị Ngọc Thoa qua Mỹ năm 1968, nay ngoài 50
tuổi; và những nhân sự cốt lõi của “Hội Việt kiều yêu nước” tại Mỹ ngày
xưa nay vẫn còn ở vùng San Francisco.
© 2006 talawas
[1]A Thousand Tears Falling: The true story of a Vietnamese family torn apart by war, communism and the CIA. Tác giả: Yung Krall. NXB LongStreet Press, Atlanta. 1995
In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè: