Thông
thường, một tổng thống Hoa Kỳ ở vào giữa nhiệm kỳ hai sẽ chẳng làm gì
khác hơn là củng cố những kế hoạch cũ của mình, và nếu có đưa ra những
kế hoạch mới thì chung quy cũng là để “chữa lửa” mà thôi. Riêng trường
hợp Tổng Thống Bush thì khác hẳn. Ngồi vào ghế tổng thống chẳng bao
lâu, ông Bush đã phải đối phố ngay với hậu quả của vụ 9/11. Vụ tấn công
khủng bố này, ngoài số người chết, ngoài ảnh hưởng đối với kinh tế tài
chánh Hoa Kỳ là điều khó chối cãi được, Tổng Thống Bush còn bị mắc
nghẹn khá nghiêm trọng trong việc đưa quân vào Iraq. Sự thâm thủng của
ngân sách hàng năm trong suốt 5 năm nay cho thấy khả năng lãnh đạo của
Tổng Thống George W. Bush vẫn còn là đề tài bàn tán, nhiều khi rất gay
gắt. Chẳng có thế mà tỉ lệ chấp thuận đối với các việc làm của Tổng
Thống Bush đang từ 72% vào đầu nhiệm kỳ, cứ “trượt chân” xuống thấp và
gần đây đã có lúc điểm chấp thuận dành cho ông xuống tới 43%. Chỉ mấy
tháng gần đây, ông mới ngoi lên được một chút nhờ những chỉ số về kinh
tế lạc quan hơn, nhưng các nhà phân tích cho rằng phải chờ tới sau mùa
mua sắm này mới biết được thực sự, những con số thống kê kinh tế năm
2005 có phải là những con số đáng tin cậy cho toàn bộ nền kinh tế Mỹ
hay không.
Sau
vụ khủng bố làm sập tòa Tháp Ðôi tại New York, Tổng Thống Bush đã mở
chiến dịch “chống khủng bố toàn cầu” và hành động đầu tiên là mở cuộc
hành quân truy kích Osama Bin Laden và lật đổ chế độ Taliban đang cầm
quyền ở Afghanistan. Thế của Hoa Kỳ lúc
đó rất mạnh, đến nỗi các nhà phân tích quân sự cho rằng, tối đa chỉ một
năm sau, Hoa Kỳ và đồng minh có thể bình định được Afghanistan bằng một
chính quyền chịu ảnh hưởng của Hoa Kỳ và thế giới Ả rập sẽ có một ngọn
đuốc của sự canh tân. Nhưng nay đã 4 năm qua, chính quyền của Tổng
Thống Hamid Karzai ở Afghanistan do Mỹ dựng lên vẫn còn là một chính
quyền rất yếu, nạn sứ quân vẫn còn hiện diện, lực lượng Hoa Kỳ và đồng
minh vẫn chôn chân trong căn cứ Bagram. Số binh sĩ Hoa Kỳ tử trận tại
Afghanistan đã vượt con số 1,000. Hàng năm Mỹ vẫn phải đổ hàng chục tỉ
đô la vào cuộc chiến bình định Afghanistan, nhưng mức tiến triển của
tình hình vẫn ở mức độ chậm.
Cũng
nằm trong kế hoạch chống khủng bố toàn cầu, Hoa Kỳ đưa quân vào Iraq
với lý do là mối lo ngại Tổng Thống Saddam Hussein đã đang chế tạo vũ
khí sinh học. Tổng Thống Bush biện minh
cho việc đưa quân vào Iraq bằng chủ thuyết “ra tay trước”. Và Hoa Kỳ đã
thành công nhanh chóng khi chiếm đóng thủ đô Baghdad và nhiều thành phố
khác. Nhưng chỉ vài tháng sau, người dân Hoa Kỳ đã thấy ngay những lời
cáo buộc trước LHQ về chuyện Iraq chế tạo vũ khí vi trùng chỉ là chuyện
“phịa”, một cái cớ để Mỹ đưa quân vào Iraq lật đổ một chế độ mà Mỹ cáo
buộc là độc tài trên thế giới. Thế nhưng, nhìn quanh thì Mỹ
chơi thân với những nước độc tài hơn ai hết, chẳng hạn như Trung Cộng
và Việt Nam Cộng Sản. Tại sao Mỹ không đưa quân vào lật đổ những chế độ
này, trở lại chính sách sen đầm quốc tế như trước chiến tranh Việt Nam?
Theo
thiển ý của tôi, tại sao không thể gọi chính sách đối ngoại hiện tại là
chính sách sen đầm quốc tế được lồng vào một nhóm chữ rất kêu: “chống
khủng bố toàn cầu”? Chúng ta hãy cứ tự hỏi: “Sau Iraq, đến quốc gia nào” xem sao. Nên
nhớ rằng, trong lịch sử Hoa Kỳ, chưa một nào những người ngồi trong Tòa
Bạch Ốc tung ra hai cuộc chiến tranh cùng một lúc ngốn hàng năm hàng
trăm tỉ mà kết quả chưa mang lại lợi lộc gì cho người đóng thuế tại Hoa
Kỳ. Hơn nữa, sự hùng hổ của các cánh tay mặt của Tổng Thống Bush là
Dick Cheney, Donald Rumsfeld, Paul Wolfowitz, và Condoleezza Rice trong
chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ khiến Washington vẫn không sao thuyết
phục được sự đồng tình của các nước đồng minh thân thiết nhất của Hoa
Kỳ trong cuộc chiến Iraq. Sang nhiệm kỳ
2, bà Rice lên làm ngoại trưởng thì công việc làm đầu tiên của bà chính
là cuộc hành trình khá dài để giải độc, lấy lại cảm tình của đồng minh
mà cuộc chiến Iraq do Hoa Kỳ lãnh đạo theo họ không chính đáng đã làm
họ lạnh nhạt và gượng ép đối với bất cứ lời kêu gọi nào của Tổng Thống
Bush.
Thành
công của Tổng Thống Bush duy nhất tại Iraq là tổ chức được cuộc bầu cử
để tao một chính quyền dân cử, nhưng các nhà phân tích cho rằng đây là
chính quyền dân cử của thành phần chiếm tỉ lệ đa số trong dân số Iraq
là người Shiites.
Hơn
nữa, trước dư luận quốc tế, cuộc bầu cử vẫn còn phải thực hiện dưới
trướng của quân đội ngoại nhập có thể dễ dàng mặc cái áo trong trắng
không? Vào ngày Giáng Sinh vừa rồi, khi
thăm viếng binh sĩ Mỹ tại Iraq, Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Donald Rumsfeld
đã bớt giọng “diều hâu” cố hữu bằng một lời tuyên bố sẽ giảm quân Mỹ
hiện diện ở Iraq. Trước đó, Quốc Hội Hoa Kỳ và trong cả hai đảng Cộng
Hòa và Dân Chủ đều đã thảo luận rất gay gắt về việc Hoa Kỳ có nên cho
mình bị chôn chân trong một cuộc chiến đang có khuynh hướng trở thành
nội chiến như hiện nay ở Iraq không. Số người lên tiếng đòi rút quân
tức khắc khỏi Iraq không phải là ít, nhưng đa số đều chủ trương phải
thực hiện việc rút quân từng giai đoạn “một cách nhanh chóng và đúng
thời biểu” phù hợp với sự trưởng thành của quân đội Iraq do Mỹ lập ra
và tiến triển của nền dân chủ ở Iraq. Do hai sự kiện này mà một phần dư
luận báo chí của Hoa Kỳ cho rằng cuộc bầu cử chính quyền dân cử ở Iraq
chỉ là chuẩn bị dư luận cho việc Hoa Kỳ phải rút chân ra khỏi Iraq mà
thôi.
Sau
cuộc hành quân chiếm đóng Iraq và lật đổ Saddam Hussein, có một phân
tích viên quân sự rất nổi tiếng là cựu đại tướng Wesley Clark đã lên
tiếng cảnh giác chính phủ Hoa Kỳ là cuộc chiến ở Iraq có thể trở thành
cuộc chiến du kích, ông đã bị dư luận Mỹ và nhất là các thủ lãnh đảng
Cộng Hòa, cũng như Dân Chủ chỉ trích nặng nề. Nhưng ngày nay thì chính
họ đang phải thảo luận đến chuyện Hoa Kỳ có nên hay không nên rút chân
ra khỏi đống bùn bầy nhầy của chiến tranh ở Iraq. Chiến tranh du kích
và phá hoại đã và đang diễn ra trên đất nước Iraq hàng ngày. Hoa
Kỳ, đồng minh cũng như quân đội Iraq cho đến nay chưa chứng tỏ được khả
năng đàn áp được ngọn lửa chiến tranh du kích và phá hoại ở Iraq.
Tình
hình Iraq có thể khá hơn hoặc xấu hơn, phần lớn đều tùy thuộc nhân dân
Iraq. Nếu họ quyết định được là sẽ phải theo một con đường nào để chấm
dứt sự tàn phá đang hủy hoại đất nước của họ thì lúc đó chính quyền
Iraq mới xác định được vai trò của mình và mới hành động hữu hiệu trong
cuộc bình định.
Do đó, theo thiển ý và có thể bị xem là chủ quan của tôi, trong năm 2006 đến khi kết thúc nhiệm kỳ cuối của mình, Tổng Thống Bush sẽ không có hành động nào hay hơn là chính sách che chắn hiện nay của ông đối với tình hình nội bộ của nước Mỹ.