Cuộc cách mạng bất bạo động

Theo Thông Luan - Nguyễn Gia Thưởng - 05-01-2006

Các chế độ theo chế độ cộng sản, nói đúng hơn theo chủ thuyết xã hội chủ nghĩa, coi bạo lực là động cơ của cách mạng. Họ chủ trương "cách mạng chuyên chính" và muốn có cách mạng sớm và nhanh phải dùng đến bạo lực.

Lê-nin, cha đẻ của cách mạng xã hội chủ nghĩa, là người đề xướng và chủ trương bạo động triệt để. Không ai bạo động hơn họ cả vì bạo động là lẽ sống của Cách Mạng. Đối với họ, bạo động là phương tiện duy nhất để đạt mục đích. Tất cả những cuộc cách mạng từ Lê-nin ở Nga qua Mao Trạch Đông ở Trung Hoa cho đến Hồ Chí Minh tại Việt Nam chỉ dựa trên bạo lực. Chính họ Mao đã từng tuyên bố : "Quyền lực ở đầu ngọn súng". Để có quyền lực, họ đã phải dùng đến bạo lực của gươm giáo, của súng ống, của chém giết, của khủng bố.

Khi Đảng Cộng Sản Việt Nam giành được chính quyền, họ tiếp tục duy trì đường hướng này vì nó có kết quả trước mắt trong ngắn hạn. Họ tôn thờ bạo lực và nâng bao lực lên hàng quốc sách. Họ dùng bao lực không những trên thể xác (bắt bớ, bỏ tù, hành hung, ám sát) còn cả trên tinh thần nữa. Họ đẻ ra "Ban Văn Hóa Tư Tuởng" để duy trì lối tư duy một chiều. Những ai khác tư duy của họ, họ cho ngay là phản động cần phải trấn áp ngay và nếu cần, tiêu diệt. Họ đã tạo một xã hội chỉ biết giải quyết bằng bạo lực. Họ lập ra những bộ phận đặc nhiệm chuyên kiểm soát giao lưu Internet để bóp nghẹt thông tin. Và với một bộ máy công an đồ sộ như vậy, họ vẫn khiếp sợ "diễn biến hòa bình". Nói tóm lại bạo lực luôn luôn là động cơ nuôi dưỡng chế độ độc tài đảng trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Bạo lực đã trở thành lẽ sống của họ. Chỉ có bất bạo động mới có thể hóa giải sự điên cuồng bạo lực này, vì dùng bạo lực để chống bạo lực vẫn là bạo lực.

Đảng Cộng Sản Việt Nam và bạo lực

Nhờ vào bạo lực Đảng Cộng Sản Việt Nam đã thành công trong việc cướp chính quyền tại miền Bắc năm 1945 và cướp chính quyền miền Nam năm 1975. Họ đã thành công tuyệt đối và chính vì vậy họ tiếp tục nghĩ rằng chỉ có bạo lực mới bảo đảm được quyền lực của họ.

Trong quá trình tranh giành quyền lực, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã để lại biết bao đổ vỡ. Phong trào Cải Cách Ruộng Đất từ năm 1954 cho đến năm 1956 đã chôn vùi 172.008 nạn nhân, rồi đến các văn nghệ sĩ trong vụ Nhân Văn-Giai Phẩm, năm 1968 Tết Mậu Thân hàng ngàn người bị chôn tập thể, năm 1975 giam cầm và đày ải hàng trăm ngàn công chức sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa. Năm 1979, Đảng Cộng Sản Việt Nam xua quân xâm chiếm Campuchia hy sinh hơn 50.000 thanh niên Việt Nam. Những năm 1978, 1979 và 1980 họ thu vàng, bán tàu, bán bãi xua đuổi hàng trăm ngàn người ra biển làm mồi cho cá và cho hải tặc. Trên đây chỉ là những dữ kiện nổi bật mà mọi người đều biết, nhưng còn biết bao nhiêu vụ oan khiên chưa được đưa ra ánh sáng, trên một bình diện nhỏ hơn nhưng không kém phần độc ác.

Vào những thập niên 1960, hầu hết trí thức châu Âu ủng hộ và chấp nhận những cuộc đấu tranh bạo lực của giai cấp công nhân và của các nước thuộc địa, coi đó là một phương tiện đấu tranh có chính nghĩa chống tư bản và chống thực dân. Họ ủng hộ vô điều kiện cuộc chiến của Đảng Cộng Sản Việt Nam chống lại "tân thực dân Mỹ", họ thần thánh hóa cuộc chiến này đến độ muốn tôn vinh Hồ Chí Minh là một trong những vĩ nhân của nhân loại (năm 1990, ông suýt được UNESCO công nhận là danh nhân văn hóa).

Một điều oái oăm là đảng cộng sản đã thắng miền Nam Việt Nam nhờ dư luận quần chúng thế giới chán ghét chiến tranh, nhờ phong trào phản chiến lên án sự can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam. Chính nhờ lời kêu gọi của cả thế giới đòi Hoa Kỳ chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam, ngưng bạo động đối với nhân dân Việt Nam mà phe cộng sản đã thắng ở miền Nam. Thế giới hả hê vui mừng khi thấy một nước chỉ có những chiến sĩ đi dép cao su đánh đổ được anh Mỹ khổng lồ có đầy đủ phương tiện. Thiên tài của Đảng Cộng Sản Việt Nam là đã biết khéo lợi dụng hình ảnh của một nạn nhân để được thế giới hỗ trợ trên trường quốc tế nhưng thẳng tay tiêu diệt những thành phần không theo chủ nghĩa của họ trong nước. Nhưng 30 năm đã qua, thế giới đã biến chuyển rất nhiều, thế giới mỗi lúc một thu hẹp lại, khuynh hướng thời đại đã thay đổi, không còn một nước nào ở thế độc lập nữa, tất cả đều liên lập với nhau. Khuynh hướng của thế giới hôm nay không còn coi bạo lực như là phương tiện đấu tranh có chính nghĩa. Không một chế độ nào có thể nhân danh một chủ nghĩa hay một lý thuyết để hạn chế quyền tự do của con người, để triệt tiêu mạng sống của con người.

Các cuộc cách mạng bất bạo động trên thế giới

Trải qua hai cuộc thế chiến, nhân loại đã bắt đầu hiểu kết quả tai hại của bạo lực. Nhân danh triết lý "dân tộc sinh tồn", chế độ quốc xã của Hitler đã xô đẩy thế giới vào cuộc Đại chiến thế giới lần thứ hai. Triết thuyết "không gian sinh tồn" (Lebensraum của Friedrich Ratzel) cho phép con người có quyền xâm chiếm nước khác, có quyền xem người khác chủng tộc của mình như là một phó sản của thiên nhiên và có quyền tiêu diệt nhóm này không chút thương hại. Triết thuyết này đã bị thế giới bác bỏ, mặc dù vẫn còn một thiểu số ấp ủ nó. Khi cao trào giải phóng thuộc địa lên cao, thế giới ủng hộ mọi phong trào đấu tranh giải phóng. Bạo lực vào thời đó được coi có chính nghĩa. Cuộc Chiến tranh lạnh kéo dài hơn 30 năm giữa hai khối gọi là tư bản và cộng sản chấm dứt với biểu tượng Bức Tường Bá Linh sụp đổ đã đưa thế giới vào một kỷ nguyên mới, không còn đe dọa chiến tranh toàn cầu nữa mà chỉ còn những cuộc chiến cục bộ địa phương mà thôi. Nói chung thế giới đang đi theo khuyng hướng bất bạo động.

Người đầu tiên áp dụng phương pháp bất bạo động thành công trên chính trường là Mahatma Gandhi. Ngày 15-8-1945, nước Ấn Độ độc lập không đổ máu. Và gần đây nhất, các nước Đông Âu và các nước trước đây nằm trong khối Liên Bang Xô Viết, đã tuần tự thay đổi chế độ trong "diễn biến hòa bình", bất bạo động, không đổ máu. Năm 1989, nhân dân Czech và Slovakia đã lật đổ bất bạo động chế độ xã hội chủ nghĩa trong cuộc "cách mạng nhung", năm 1990 Ba Lan nhờ công đoàn "Đoàn Kết" đã ép tướng Jaruzelski phải từ chức. Nước Đức thống nhất năm 1990 không đổ máu. Tại Georgia năm 2004, ông Mihail Saakasvili với biểu tượng bông hồng đã đánh đổ ông Eduard Shevardnadze. Tại Ukraine cùng năm, ông Viktor Yushchenko đã lật đổ không bạo động chế độ chuyên chính thân Nga trong cuộc "cách mạng cam". Nước Kyrgystan cũng đã đổi mới với biểu tượng uất-kim-hương (tulip). Nước Belarus đang chuyển mình cùng với biểu tượng xanh dương bố (màu xanh dương Denim-Jeans). Khắp nơi trên thế giới, quần chúng sống dưới các chế độ độc tài đang chuyển mình trong tinh thần hòa giải, trong tinh thần bất bạo động.

Tại Nam Phi, nhờ áp lực của thế giới, Nelson Mandela, sau 26 năm tù (1964 -1990) đã lên làm tổng thống và năm 1993 ông được giải Nobel Hòa Bình. Tại Miến Điện (Myanmar), bà Aung San Suu Kyi đang bị quản thúc tại gia từ năm 1989 cho đến nay nhưng vẫn tiếp tục đấu tranh ôn hòa và được giải Nobel hòa bình năm 1991. Các nước này đã chứng tỏ một trình độ dân chủ cao.

Tổ chức IRA ( Irish Republican Army-Quân đội Cộng hòa Ái Nhĩ Lan) và tổ chức Sinn Fein đã từ bỏ vũ khí để chấp nhận đối thoại với chính phủ Anh. Tổ chức này đã nhận thấy sự bế tắc của khủng bố và võ lực. Trong tương lai, nước Tây Tạng có thể lấy lại độc lập, ít nhất là tự trị, nhờ cuộc tranh đấu bền bỉ và ôn hòa của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Sức mạnh của tất cả các phong trào đòi dân chủ và độc lập là dư luận và áp lực thế giới đi cùng với thông tin. Nhưng sức mạnh quý giá nhất vẫn là tinh thần đấu tranh ôn hòa, tính bền bỉ và lòng can đảm.

Chính quyền Việt Nam đứng trước hai lựa chọn

Ba mươi năm đã qua, mô hình xã hội chủ nghĩa cáo chung ở khắp mọi nơi trên thế giới, trừ bốn nước Cuba, Bắc Hàn, Trung Hoa và Việt Nam. Sự ủng hộ những phong trào giải phóng của những thập niên 1960 nay không còn nữa. Bạo động cách mạng không còn được bào chữa nữa. Các ngả đường đấu tranh cho dân chủ không thể đi qua bằng bạo lực. Đối với phong trào tranh đấu dân chủ cho Việt Nam, phương thức bất bạo động đã trở nên thiết yếu. Một số tổ chức trước đây chủ trương đấu tranh cách mạng lật đổ chính quyền cộng sản Việt Nam bằng bạo lực nay cũng phải nhìn nhận, cho dù là bề mặt, bất bạo động là một phương thức bắt buộc. Các phong trào đấu tranh ôn hòa đòi dân chủ được sự ủng hộ của các chính phủ trên thế giới và các tổ chức không chính phủ (NGO). Các tổ chức này là những khiên chắn cho phong trào. Chính quyền Việt Nam đang từ từ lùi bước trước những áp lực này. Cuộc đấu tranh hiện nay đang đi vào giai đoạn có phối hợp và tổ chức, không còn tính cách đơn lẻ như trước.

Các cấp lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam đang đứng trước hai lựa chọn, một là chấp nhận dân chủ đa nguyên, từ bỏ độc quyền lãnh đạo, tổ chức bầu cử tự do trong sự ổn định, mở ra một trang sử mới cho đất nước Việt Nam ; hai là tiếp tục duy trì đàn áp và tiếp tục độc quyền lãnh đạo.

Giải pháp thứ nhất là giải pháp ôn hòa nhất, khôn ngoan nhất, không gây tổn thất sinh mạng mà mọi người đều mong muốn. Đảng cộng sản vẫn tồn tại và các thành phần dân tộc khác cũng có quyền đóng góp ý kiến để xây dựng đất nước. Di sản mà đảng cộng sản để lại cho đảng viên rất là nặng nề, khó lòng mà gánh vác, vì vậy càng sớm gỡ bỏ chế độ, các cấp lãnh đạo cộng sản càng có cơ hội chuộc lại lòng dân, có cơ hội đi vào lịch sử một cách vinh quang. Giải pháp thứ hai là nhà nước cộng sản tiếp tục nắm quyền lãnh đạo, tiếp tục đàn áp các con dân Việt Nam, khủng bố, hăm dọa, trấn áp các phong trào dân chủ mỗi ngày một mạnh bạo hơn. Điều này càng chứng tỏ sự yếu kém của họ về mặt lý luận vì bạo lực chính là ngôn ngữ của kẻ đuối lý. Cuộc cách mạng ngày hôm nay là của các phong trào dân chủ trong và ngoài nước. Đảng cộng sản đã trở thành sức cản của "bánh xe lịch sử". Từ địa vị của một "đày tớ của nhân dân" nay họ nghiễm nhiên trở thành "ông chủ của nhân dân". Từ nạn nhân họ đã trở thành sát nhân. Chính nghĩa đang nằm trong tay các tổ chức đấu tranh cho dân chủ. Đây chính là sức ép của lịch sử. Lịch sử thế giới đang đi về hướng dân chủ hóa, đa nguyên hóa.

Đại khối người Việt hải ngoại chưa bao giờ ủng hộ chính quyền cộng sản. Ông Lương, ông Khải, ông Mạnh, các viên chức của chính quyền đi đến đâu thì người Việt hải ngoại biểu tình phản đối đến đó. Hậu thuẫn của những công dân Việt không còn, hậu thuẫn của thế giới cũng không có. Nhà nước cộng sản cũng không còn chính nghĩa, họ mất luôn cả tính chính thống đại diện cho toàn dân Việt Nam. Họ đang ngồi trên đầu ngọn núi lửa âm ỉ, chờ ngày bộc phát. Lá bùa hộ mạng Trung Quốc không đủ sức mạnh để che chắn cho họ. Mặc dù không ai chủ trương, bạo lực có thể bộc phát từ những chồng chất sai lầm của đảng cộng sản. Đại bộ phận quần chúng thầm lặng trong nước không còn kiên nhẫn để phục tùng nghe lệnh của họ nữa, ngay cả công an, quân đội cũng không tuân lệnh đàn áp nhân dân xuống đường nhân một biến cố nhỏ "tức nước vỡ bờ". Cảnh này đã diễn ra tại nhiều quốc gia và có cơ diễn ra tại Việt Nam, nếu các cấp lãnh đạo đảng cộng sản không sáng suốt lựa chọn giải pháp ôn hòa, tuyên bố từ bỏ chế độ độc đảng, chấp nhận dân chủ đa nguyên.

Chính quyền cộng sản nên chọn giải pháp thứ nhất để tránh thảm cảnh của vợ chồng Ferdinand Marcos trốn chạy khỏi Philippines năm 1986, của vợ chồng Ceaucescu bị xử bắn tại Romania năm 1989, cảnh Erik Honecker năm 1994 bị đưa ra tòa và cuối cùng chết biệt xứ tại Chili, cảnh lãnh tụ Slobodan Milosevic của Serbia bị tòa án quốc tế xét xử, cảnh Pinochet của Argentina tuy già nhưng vẫn bị tòa án truy tố, cảnh trốn chạy của cựu tổng thống Kyrgystan Askar Akayev, hoặc cảnh Saddam Hussein trốn chui trong một lỗ chuột để rồi bị bắt và bị giải tòa. Đôi khi một thần tượng ở trong một nước có thể trở thành một tội đồ trước dư luận quốc tế.

Từ bao lâu nay, người Việt quen sống trong bạo động, chết trong bạo động và bạo động đã trở thành một bạn đồng hành quen thuộc. Vì bạo động đáp ứng những đòi hỏi nóng vội, nên nó vẫn được dùng. Đảng cộng sản quên một điều quan trọng là tư tưởng có sức mạnh vô song. Thân xác con người có thể bị tù dày, bị trù dập, nhưng tư tưởng của con người không thể nào bị nhốt vào hộp được, vì càng đàn áp bao nhiêu sức mạnh của tư tưởng càng bật mạnh thêm bấy nhiêu. Đấu tranh bất bạo động rất âm thầm, rất kiên trì, đối ngược lại bạo động và khủng bố có tính cách ngoạn mụcvà có hiệu quả nhanh.

Bạo động vẫn còn hấp lực đối với rất nhiều người. Không ít người cho rằng giải pháp bất bạo động là hoang tưởng nhưng những biến chuyển thế giới cho thấy đây là phương thức khả thi. Người Việt quá quen thuộc với phương thức bạo động nên nghĩ rằng phương thức này không đi đến đâu vì không mang lại hiệu quả thực tế. Ở đây tinh thần nóng vội cũng là động cơ thúc giục con người sử dụng phương thức bạo lực.

Bất bạo động đòi hỏi con người tính kiên nhẫn, lòng can đảm. Cuộc cách mạng tư duy cần có là thay đổi não trạng cho rằng chỉ có bạo động mới giải quyết được mọi vấn đề sang não trạng tìm kiếm giải pháp ôn hòa, đôi bên cùng có lợi. Căn bản của dân chủ đa nguyên chính là sống chung trong sự tôn trọng khác biệt, không ai thắng ai, không ai trù dập ai, không ai giết ai.

Nguyễn Gia Thưởng
(Bruxelles)


In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè:

     http://tudovis.com/kktd/binh_luan_2/bl_cuoc_cach_mang_bat_bao_dong.html

Người gửi:

Địa chỉ email: *


Người nhận:

Có thể gửi cho nhiều địa chỉ, nhớ bỏ dấu phẩy trước khi bắt đầu địa chỉ mới.
Địa chỉ email: *
Lời nhắn:
Quí vị có thể copy hết cái bài ở trên và bỏ vào trong hộp Lời nhắn
 
* Thông tin bắt buộc        
Note: Chi tiết bạn điền vào trang này sẽ không được dùng để gửi thư không mời, hoặc bán cho nơi khác.