Các chế độ theo
chế độ cộng sản, nói đúng hơn theo chủ thuyết xã hội chủ nghĩa, coi bạo
lực là động cơ của cách mạng. Họ chủ trương "cách mạng chuyên chính" và
muốn có cách mạng sớm và nhanh phải dùng đến bạo lực.
Lê-nin, cha đẻ của cách mạng xã hội chủ nghĩa, là người đề xướng và chủ
trương bạo động triệt để. Không ai bạo động hơn họ cả vì bạo động là lẽ
sống của Cách Mạng. Đối với họ, bạo động là phương tiện duy nhất để đạt
mục đích. Tất cả những cuộc cách mạng từ Lê-nin ở Nga qua Mao Trạch
Đông ở Trung Hoa cho đến Hồ Chí Minh tại Việt Nam chỉ dựa trên bạo lực.
Chính họ Mao đã từng tuyên bố : "Quyền lực ở đầu ngọn súng". Để có
quyền lực, họ đã phải dùng đến bạo lực của gươm giáo, của súng ống, của
chém giết, của khủng bố.
Khi Đảng Cộng Sản Việt Nam giành được chính quyền, họ tiếp tục duy
trì đường hướng này vì nó có kết quả trước mắt trong ngắn hạn. Họ tôn
thờ bạo lực và nâng bao lực lên hàng quốc sách. Họ dùng bao lực không
những trên thể xác (bắt bớ, bỏ tù, hành hung, ám sát) còn cả trên tinh
thần nữa. Họ đẻ ra "Ban Văn Hóa Tư Tuởng" để duy trì lối tư duy một
chiều. Những ai khác tư duy của họ, họ cho ngay là phản động cần phải
trấn áp ngay và nếu cần, tiêu diệt. Họ đã tạo một xã hội chỉ biết giải
quyết bằng bạo lực. Họ lập ra những bộ phận đặc nhiệm chuyên kiểm soát
giao lưu Internet để bóp nghẹt thông tin. Và với một bộ máy công an đồ
sộ như vậy, họ vẫn khiếp sợ "diễn biến hòa bình". Nói tóm lại bạo lực
luôn luôn là động cơ nuôi dưỡng chế độ độc tài đảng trị của Đảng Cộng
Sản Việt Nam. Bạo lực đã trở thành lẽ sống của họ. Chỉ có bất bạo động
mới có thể hóa giải sự điên cuồng bạo lực này, vì dùng bạo lực để chống
bạo lực vẫn là bạo lực.
Đảng Cộng Sản Việt Nam và bạo lực
Nhờ vào bạo lực
Đảng Cộng Sản Việt Nam đã thành công trong việc cướp chính quyền tại
miền Bắc năm 1945 và cướp chính quyền miền Nam năm 1975. Họ đã thành
công tuyệt đối và chính vì vậy họ tiếp tục nghĩ rằng chỉ có bạo lực mới
bảo đảm được quyền lực của họ.
Trong quá trình tranh giành quyền lực, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã
để lại biết bao đổ vỡ. Phong trào Cải Cách Ruộng Đất từ năm 1954 cho
đến năm 1956 đã chôn vùi 172.008 nạn nhân, rồi đến các văn nghệ sĩ
trong vụ Nhân Văn-Giai Phẩm, năm 1968 Tết Mậu Thân hàng ngàn người bị
chôn tập thể, năm 1975 giam cầm và đày ải hàng trăm ngàn công chức sĩ
quan Việt Nam Cộng Hòa. Năm 1979, Đảng Cộng Sản Việt Nam xua quân xâm
chiếm Campuchia hy sinh hơn 50.000 thanh niên Việt Nam. Những năm 1978,
1979 và 1980 họ thu vàng, bán tàu, bán bãi xua đuổi hàng trăm ngàn
người ra biển làm mồi cho cá và cho hải tặc. Trên đây chỉ là những dữ
kiện nổi bật mà mọi người đều biết, nhưng còn biết bao nhiêu vụ oan
khiên chưa được đưa ra ánh sáng, trên một bình diện nhỏ hơn nhưng không
kém phần độc ác.
Vào những thập niên 1960, hầu hết trí thức châu Âu ủng hộ và chấp
nhận những cuộc đấu tranh bạo lực của giai cấp công nhân và của các
nước thuộc địa, coi đó là một phương tiện đấu tranh có chính nghĩa
chống tư bản và chống thực dân. Họ ủng hộ vô điều kiện cuộc chiến của
Đảng Cộng Sản Việt Nam chống lại "tân thực dân Mỹ", họ thần thánh hóa
cuộc chiến này đến độ muốn tôn vinh Hồ Chí Minh là một trong những vĩ
nhân của nhân loại (năm 1990, ông suýt được UNESCO công nhận là danh
nhân văn hóa).
Một điều oái oăm là đảng cộng sản đã thắng miền Nam Việt Nam nhờ
dư luận quần chúng thế giới chán ghét chiến tranh, nhờ phong trào phản
chiến lên án sự can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam. Chính nhờ lời kêu
gọi của cả thế giới đòi Hoa Kỳ chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam, ngưng
bạo động đối với nhân dân Việt Nam mà phe cộng sản đã thắng ở miền Nam.
Thế giới hả hê vui mừng khi thấy một nước chỉ có những chiến sĩ đi dép
cao su đánh đổ được anh Mỹ khổng lồ có đầy đủ phương tiện. Thiên tài
của Đảng Cộng Sản Việt Nam là đã biết khéo lợi dụng hình ảnh của một
nạn nhân để được thế giới hỗ trợ trên trường quốc tế nhưng thẳng tay
tiêu diệt những thành phần không theo chủ nghĩa của họ trong nước.
Nhưng 30 năm đã qua, thế giới đã biến chuyển rất nhiều, thế giới mỗi
lúc một thu hẹp lại, khuynh hướng thời đại đã thay đổi, không còn một
nước nào ở thế độc lập nữa, tất cả đều liên lập với nhau. Khuynh hướng
của thế giới hôm nay không còn coi bạo lực như là phương tiện đấu tranh
có chính nghĩa. Không một chế độ nào có thể nhân danh một chủ nghĩa hay
một lý thuyết để hạn chế quyền tự do của con người, để triệt tiêu mạng
sống của con người.
Các cuộc cách mạng bất bạo động trên thế giới
Trải qua hai cuộc thế chiến, nhân loại đã bắt đầu hiểu kết quả tai
hại của bạo lực. Nhân danh triết lý "dân tộc sinh tồn", chế độ quốc xã
của Hitler đã xô đẩy thế giới vào cuộc Đại chiến thế giới lần thứ hai.
Triết thuyết "không gian sinh tồn" (Lebensraum của Friedrich Ratzel)
cho phép con người có quyền xâm chiếm nước khác, có quyền xem người
khác chủng tộc của mình như là một phó sản của thiên nhiên và có quyền
tiêu diệt nhóm này không chút thương hại. Triết thuyết này đã bị thế
giới bác bỏ, mặc dù vẫn còn một thiểu số ấp ủ nó. Khi cao trào giải
phóng thuộc địa lên cao, thế giới ủng hộ mọi phong trào đấu tranh giải
phóng. Bạo lực vào thời đó được coi có chính nghĩa. Cuộc Chiến tranh
lạnh kéo dài hơn 30 năm giữa hai khối gọi là tư bản và cộng sản chấm
dứt với biểu tượng Bức Tường Bá Linh sụp đổ đã đưa thế giới vào một kỷ
nguyên mới, không còn đe dọa chiến tranh toàn cầu nữa mà chỉ còn những
cuộc chiến cục bộ địa phương mà thôi. Nói chung thế giới đang đi theo
khuyng hướng bất bạo động.
Người đầu tiên áp dụng phương pháp bất bạo động thành công trên
chính trường là Mahatma Gandhi. Ngày 15-8-1945, nước Ấn Độ độc lập
không đổ máu. Và gần đây nhất, các nước Đông Âu và các nước trước đây
nằm trong khối Liên Bang Xô Viết, đã tuần tự thay đổi chế độ trong
"diễn biến hòa bình", bất bạo động, không đổ máu. Năm 1989, nhân dân
Czech và Slovakia đã lật đổ bất bạo động chế độ xã hội chủ nghĩa trong
cuộc "cách mạng nhung", năm 1990 Ba Lan nhờ công đoàn "Đoàn Kết" đã ép
tướng Jaruzelski phải từ chức. Nước Đức thống nhất năm 1990 không đổ
máu. Tại Georgia năm 2004, ông Mihail Saakasvili với biểu tượng bông
hồng đã đánh đổ ông Eduard Shevardnadze. Tại Ukraine cùng năm, ông
Viktor Yushchenko đã lật đổ không bạo động chế độ chuyên chính thân Nga
trong cuộc "cách mạng cam". Nước Kyrgystan cũng đã đổi mới với biểu
tượng uất-kim-hương (tulip). Nước Belarus đang chuyển mình cùng với
biểu tượng xanh dương bố (màu xanh dương Denim-Jeans). Khắp nơi trên
thế giới, quần chúng sống dưới các chế độ độc tài đang chuyển mình
trong tinh thần hòa giải, trong tinh thần bất bạo động.
Tại Nam Phi, nhờ áp lực của thế giới, Nelson Mandela, sau 26 năm
tù (1964 -1990) đã lên làm tổng thống và năm 1993 ông được giải Nobel
Hòa Bình. Tại Miến Điện (Myanmar), bà Aung San Suu Kyi đang bị quản
thúc tại gia từ năm 1989 cho đến nay nhưng vẫn tiếp tục đấu tranh ôn
hòa và được giải Nobel hòa bình năm 1991. Các nước này đã chứng tỏ một
trình độ dân chủ cao.
Tổ chức IRA ( Irish Republican Army-Quân đội Cộng hòa Ái Nhĩ Lan)
và tổ chức Sinn Fein đã từ bỏ vũ khí để chấp nhận đối thoại với chính
phủ Anh. Tổ chức này đã nhận thấy sự bế tắc của khủng bố và võ lực.
Trong tương lai, nước Tây Tạng có thể lấy lại độc lập, ít nhất là tự
trị, nhờ cuộc tranh đấu bền bỉ và ôn hòa của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Sức
mạnh của tất cả các phong trào đòi dân chủ và độc lập là dư luận và áp
lực thế giới đi cùng với thông tin. Nhưng sức mạnh quý giá nhất vẫn là
tinh thần đấu tranh ôn hòa, tính bền bỉ và lòng can đảm.
Chính quyền Việt Nam đứng trước hai lựa chọn
Ba mươi năm đã qua, mô hình xã hội chủ nghĩa cáo chung ở khắp mọi
nơi trên thế giới, trừ bốn nước Cuba, Bắc Hàn, Trung Hoa và Việt Nam.
Sự ủng hộ những phong trào giải phóng của những thập niên 1960 nay
không còn nữa. Bạo động cách mạng không còn được bào chữa nữa. Các ngả
đường đấu tranh cho dân chủ không thể đi qua bằng bạo lực. Đối với
phong trào tranh đấu dân chủ cho Việt Nam, phương thức bất bạo động đã
trở nên thiết yếu. Một số tổ chức trước đây chủ trương đấu tranh cách
mạng lật đổ chính quyền cộng sản Việt Nam bằng bạo lực nay cũng phải
nhìn nhận, cho dù là bề mặt, bất bạo động là một phương thức bắt buộc.
Các phong trào đấu tranh ôn hòa đòi dân chủ được sự ủng hộ của các
chính phủ trên thế giới và các tổ chức không chính phủ (NGO). Các tổ
chức này là những khiên chắn cho phong trào. Chính quyền Việt Nam đang
từ từ lùi bước trước những áp lực này. Cuộc đấu tranh hiện nay đang đi
vào giai đoạn có phối hợp và tổ chức, không còn tính cách đơn lẻ như
trước.
Các cấp lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam đang đứng trước hai
lựa chọn, một là chấp nhận dân chủ đa nguyên, từ bỏ độc quyền lãnh đạo,
tổ chức bầu cử tự do trong sự ổn định, mở ra một trang sử mới cho đất
nước Việt Nam ; hai là tiếp tục duy trì đàn áp và tiếp tục độc quyền
lãnh đạo.
Giải pháp thứ nhất là giải pháp ôn hòa nhất, khôn ngoan nhất,
không gây tổn thất sinh mạng mà mọi người đều mong muốn. Đảng cộng sản
vẫn tồn tại và các thành phần dân tộc khác cũng có quyền đóng góp ý
kiến để xây dựng đất nước. Di sản mà đảng cộng sản để lại cho đảng viên
rất là nặng nề, khó lòng mà gánh vác, vì vậy càng sớm gỡ bỏ chế độ, các
cấp lãnh đạo cộng sản càng có cơ hội chuộc lại lòng dân, có cơ hội đi
vào lịch sử một cách vinh quang. Giải pháp thứ hai là nhà nước cộng sản
tiếp tục nắm quyền lãnh đạo, tiếp tục đàn áp các con dân Việt Nam,
khủng bố, hăm dọa, trấn áp các phong trào dân chủ mỗi ngày một mạnh bạo
hơn. Điều này càng chứng tỏ sự yếu kém của họ về mặt lý luận vì bạo lực
chính là ngôn ngữ của kẻ đuối lý. Cuộc cách mạng ngày hôm nay là của
các phong trào dân chủ trong và ngoài nước. Đảng cộng sản đã trở thành
sức cản của "bánh xe lịch sử". Từ địa vị của một "đày tớ của nhân dân"
nay họ nghiễm nhiên trở thành "ông chủ của nhân dân". Từ nạn nhân họ đã
trở thành sát nhân. Chính nghĩa đang nằm trong tay các tổ chức đấu
tranh cho dân chủ. Đây chính là sức ép của lịch sử. Lịch sử thế giới
đang đi về hướng dân chủ hóa, đa nguyên hóa.
Đại khối người Việt hải ngoại chưa bao giờ ủng hộ chính quyền cộng
sản. Ông Lương, ông Khải, ông Mạnh, các viên chức của chính quyền đi
đến đâu thì người Việt hải ngoại biểu tình phản đối đến đó. Hậu thuẫn
của những công dân Việt không còn, hậu thuẫn của thế giới cũng không
có. Nhà nước cộng sản cũng không còn chính nghĩa, họ mất luôn cả tính
chính thống đại diện cho toàn dân Việt Nam. Họ đang ngồi trên đầu ngọn
núi lửa âm ỉ, chờ ngày bộc phát. Lá bùa hộ mạng Trung Quốc không đủ sức
mạnh để che chắn cho họ. Mặc dù không ai chủ trương, bạo lực có thể bộc
phát từ những chồng chất sai lầm của đảng cộng sản. Đại bộ phận quần
chúng thầm lặng trong nước không còn kiên nhẫn để phục tùng nghe lệnh
của họ nữa, ngay cả công an, quân đội cũng không tuân lệnh đàn áp nhân
dân xuống đường nhân một biến cố nhỏ "tức nước vỡ bờ". Cảnh này đã diễn
ra tại nhiều quốc gia và có cơ diễn ra tại Việt Nam, nếu các cấp lãnh
đạo đảng cộng sản không sáng suốt lựa chọn giải pháp ôn hòa, tuyên bố
từ bỏ chế độ độc đảng, chấp nhận dân chủ đa nguyên.
Chính quyền cộng sản nên chọn giải pháp thứ nhất để tránh thảm
cảnh của vợ chồng Ferdinand Marcos trốn chạy khỏi Philippines năm 1986,
của vợ chồng Ceaucescu bị xử bắn tại Romania năm 1989, cảnh Erik
Honecker năm 1994 bị đưa ra tòa và cuối cùng chết biệt xứ tại Chili,
cảnh lãnh tụ Slobodan Milosevic của Serbia bị tòa án quốc tế xét xử,
cảnh Pinochet của Argentina tuy già nhưng vẫn bị tòa án truy tố, cảnh
trốn chạy của cựu tổng thống Kyrgystan Askar Akayev, hoặc cảnh Saddam
Hussein trốn chui trong một lỗ chuột để rồi bị bắt và bị giải tòa. Đôi
khi một thần tượng ở trong một nước có thể trở thành một tội đồ trước
dư luận quốc tế.
Từ bao lâu nay, người Việt quen sống trong bạo động, chết trong
bạo động và bạo động đã trở thành một bạn đồng hành quen thuộc. Vì bạo
động đáp ứng những đòi hỏi nóng vội, nên nó vẫn được dùng. Đảng cộng
sản quên một điều quan trọng là tư tưởng có sức mạnh vô song. Thân xác
con người có thể bị tù dày, bị trù dập, nhưng tư tưởng của con người
không thể nào bị nhốt vào hộp được, vì càng đàn áp bao nhiêu sức mạnh
của tư tưởng càng bật mạnh thêm bấy nhiêu. Đấu tranh bất bạo động rất
âm thầm, rất kiên trì, đối ngược lại bạo động và khủng bố có tính cách
ngoạn mụcvà có hiệu quả nhanh.
Bạo động vẫn còn hấp lực đối với rất nhiều người. Không ít người
cho rằng giải pháp bất bạo động là hoang tưởng nhưng những biến chuyển
thế giới cho thấy đây là phương thức khả thi. Người Việt quá quen thuộc
với phương thức bạo động nên nghĩ rằng phương thức này không đi đến đâu
vì không mang lại hiệu quả thực tế. Ở đây tinh thần nóng vội cũng là
động cơ thúc giục con người sử dụng phương thức bạo lực.
Bất bạo động đòi hỏi con người tính kiên nhẫn, lòng can đảm. Cuộc
cách mạng tư duy cần có là thay đổi não trạng cho rằng chỉ có bạo động
mới giải quyết được mọi vấn đề sang não trạng tìm kiếm giải pháp ôn
hòa, đôi bên cùng có lợi. Căn bản của dân chủ đa nguyên chính là sống
chung trong sự tôn trọng khác biệt, không ai thắng ai, không ai trù dập
ai, không ai giết ai.
Nguyễn Gia Thưởng
(Bruxelles)