Cuộc chiến Iraq sẽ tốn hơn 2 ức USD

Theo Dan Chim Viet - Trần Giao Thủy - 15-01-2006

Sau nhiều cố gắng ngoại giao từ phía chính quyền Hoa Kỳ, UK, và Spain cũng như Liên Hiệp Quốc (LHQ) để thuyết phục Saddam Hussein từ tháng 9/2002, đến 17/3/2003, LHQ ra lệnh cho đoàn thanh tra vũ khí rời Iraq. Cùng ngày, Tổng thống Bush cho Tổng thống Hussein và hai con, Uday và Qusay Hussein, 48 giờ để rời Iraq, nếu không cuộc chiến sẽ bắt đầu. Chiến tranh Iraq hay như tên gọi của chính phủ Bush, “Chiến dịch Tự do Iraq”, bắt đầu bằng đợt “tấn công chặt đầu”, oanh tạc Baghdad ngày 19/3/2003 nhằm tiêu diệt nhóm lãnh tụ Iraq và Saddam Hussein. Ngày hôm sau, Hoa Kỳ lại tiếp tục oanh tạc Baghdad, cùng lượt, quân đội Mỹ tiến vào Iraq từ hướng Nam qua ngả Kuwait. Những cuộc oanh tạch được Nhà năm góc báo trước nhằm gây “sửng sốt và kinh sợ” đưa cuộc chiến đến giai đoạn toàn lực. Ngày 9 tháng 4, 2003 Baghdad thất thủ. Uday và Qusay Hussein tử trận ngày 22/7/2003. Cựu Tổng thống Saddam Hussein bị bắt gần Tikrit.

Chiến tranh Iraq kéo dài đã gần ba năm. Thời gian đã cho thấy Saddam Hussein không có vũ khí giết người hàng loạt, Hoa Kỳ cũng không chứng minh được quan hệ giữa Al Qaeda với Iraq, và những lý do khác cho thấy chính phủ Bush không cần phải mở trận tấn công đánh phủ đầu. Đấy là một vài luận cứ của phe không đồng ý quyết định đưa quân Mỹ vao Iraq.

Hoa Kỳ và thế giới đã bỏ rất nhiều năng lực trong cuộc tranh biện, từ nhà bếp giữa xóm giềng đến sinh viên, giới thức giả ở đại học và ngay tại bục tranh cử tổng thống. Biểu tình chống chiến tranh xẩy ra nhiều nơi trên thế giới từ Greece sang Yemen, Japan, Brazil, Egypt, Jordan, Bahrain, đến Malaysia và Australia,… Tại Hoa Kỳ dân chúng xuống đường biểu tình phản đối cuộc chiến cùng lúc với dân chúng biểu tình ủng hộ chính quyền Bush.

Nội dung các cuộc tranh luận, biểu tình chống hay ủng hộ thường xoay quanh các lý do tại sao quân đội Mỹ phải tấn công Iraq - để giải thể một chế độ độc tài, một nhà nước đã đánh mất quyền làm chủ quốc gia như nhà báo Christopher Hitchens nhận định trong cuộc tranh biện với tác giả Michael Parenti. Parenti phản biện cho rằng tất cả biện hộ cho chiến tranh Iraq đều là ngụy biện vì cuộc chiến này bắt đầu và hoàn toàn đặt cơ sở trên lừa dối. Bush gọi những nhận định giống như Parenti, và những luận cứ cho rằng Hoa Kỳ xâm lăng Iraq vì dầu hỏa hay vì Do Thái đều là những phê bình mang tính đảng phái, cục bộ. Không hẳn như Bush nghĩ chỉ có tranh cãi vì cục bộ giữa người không cùng quan điểm chính trị, giữa hai đảng đối lập, cuộc chiến tại Iraq cho thấy những ngưòi cùng đảng cũng trao đổi gay go không kém như hai đảng viên đảng Cộng Hòa, cả hai đều những ngòi bút năng nổ, Joseph Wilson – cựu Đại sứ, và William Kristol, Biên tập viên sáng lập Tuần báo The Weekly Standard, một tạp chí chính trị hữu khuynh.

Ngoài những tranh luận cơ bản giữa hai phe theo và chống chiến tranh, những tính toán gần thực tế, sát sườn ngưòi dân hơn, xoay quanh lời giải cho câu hỏi “Tổn phí tất cả cho cuộc chiến hay cái giá chiến tranh này tổng cộng là bao nhiêu?”

Bryan Bender (1) tường trình về bài phân tích nhằm trả lời câu hỏi nêu trên tại Hội nghị các nhà kinh tế và khoa học xã hội vào cuối tuần trước, 8/1/2006, tại Boston.

Theo một bài phân tích trình bầy hôm 9/1 tại Boston, phí tổn cho chiến tranh Iraq sẽ vượt quá 2 ức (trillion) USD nếu tính cả tốn kém về y tế cho các cựu thương binh, tái thiết một lực lượng quân đội mệt mỏi, những tốn phí chưa tính được và những thiệt hại kinh tế.

Ước tính của nhà kinh tế Joseph E. Stiglitz, đại học Columbia, và Linda Bilmes, giảng viên Harvard, vượt xa kế hoạch của chính phủ Bush.

Con số của Stiglitz và Bilmes lớn hơn 4 lần số dự chi cho đến cuối năm 2006 – 500 triệu USD, dựa trên số liệu ngân sách quốc hội.

Nghiên cứu mới này không những chỉ là một phân tích chi ly những phí tổn cần trang trả để giữ vững chiến dịch tại mặt trận Iraq thêm vài năm nữa, mà còn là giá dân Hoa Kỳ phải gánh vác sau khi quân đội rút khỏi Iraq.

Chính phủ sẽ phải có trách nhiệm với một tầng lớp cựu chiến binh mới, bắt buộc đầu tư thêm cho một quân lực mệt mỏi vì đã công tác tại nhiều mặt trận, cũng như phải chịu đựng được tác động lâu dài của cuộc chiến đối với viễn cảnh tài chính quốc gia.

Thí dụ, nghiên cứu này quy một phần tăng của giá xăng dầu – 5 USD một thùng – cho sự bất ổn định tại Trung Đông do cuộc tấn công vào Iraq lật đổ Saddam Hussein gây ra cuộc bạo loạn đẫm máu.

Nghiên cứu của Stiglitz và Bilmes ước lượng cú xốc vào nền công nghệ dầu khí nâng trị giá cuộc chiến lên thêm 25 tỉ USD.

Phân tích này cũng cố gắng tính ảnh hưởng của chiến tranh trên độ thiếu hụt ngân sách liên bang ngày mỗi tăng, ảnh hưởng dây chuyền đến tổng thể của sự phát triển kinh tế, mức đầu tư và suy sụp sản xuất.

Stiglitz cho rằng, “Có nhiều tốn kém mà các con số của ngân sách không diễn đạt đầy đủ. Khi ta cộng tất cả những tổn phí này lại, con số tăng lên rất đáng kể. Tôi nghĩ 2 ức USD là một ước tính rất dè dặt,” Stiglitz được giải Nobel về kinh tế năm 2001 cùng với George A. Akerlof và A. Michael Spence.

Những khám phá mới này đã được tác giả trình bầy tại khác sạn Sheraton tại Boston vào ngày 8 tháng giêng trong Hội nghị các nhà kinh tế và khoa học xã hội do Hiệp hội Khoa học Xã hội, Hội Kinh tế Hoa Kỳ, và Kinh tế gia cho Hòa bình và An ninh tổ chức.

Tác giả của nghiên cứu cho hay dự đoán của họ dựa trên số liệu đã có từ trước – kể cả số liệu của các cuộc chiến tranh trước đây – do các cơ quan chính phủ như Nhà năm góc, Bộ Cựu Chiến binh, và Văn phòng Ngân sách Quốc hội biên soạn.

Trong suốt nghiên cứu, hai tác giả đã đặt giả thử chiến tranh tại Iraq sẽ kéo dài đến năm 2010 với quân số giảm dần mỗi năm.

Chính phủ Bush đã khôngcó những lượng định lâu dài, như tác giả đã đưa ra trong nghiên cứu này, và chỉ xin ngân sách đoản kỳ với quốc hội để tiến hành cuộc chiến.

Nhà Trắng dự đoán, trong năm 2002, cuộc chiến sẽ tốn khoảng 100 đến 200 tỉ USD và từ chối không có nhận định hay phê bình về nghiên cứu mới này. Rich Walker, người phát ngôn cho Văn Phòng Quản trị và Ngân sách nói, “không bình luận những suy đoán thế này. Tiên đoán tổng phí chiến tranh khi không ai biết được khi nào cuộc chiến chấm dứt, không biết số quân tại chiến trường, và còn ở đó bao lâu, là một tiên đoán mơ hồ.”

Người ta vẫn có thể định mức được một số chi phí trong tương lai như phí tổn về y tế, tiền trợ cấp tàn phế thương binh của cuộc chiến.

Hai mươi phần trăm thương binh bị thương tổn não và đường xuơng sống cần được điều dưỡng lâu dài.

Tốn phí tử tuất cho gia đình tử sĩ và tiền thưởng cho binh sĩ tái đăng ký và tân binh cũng như phí tổn bậc hai, lãi suất trên số thâm thủng ngân sách vì chi phí chiến tranh, đều có thể tính được.

Những tốn phí gián tiếp khác có thể đánh giá nhiều cách khác nhau – thí dụ như nền kinh tế Hoa Kỳ sẽ tăng trưởng bao nhiêu nếu chi phí chiến tranh được dùng cho đầu tư quốc nội, con số thiệt hại về kinh tế là bao nhiêu vì hàng ngàn binh sĩ tử thương, và sự đo lường hiểm họa trải mỏng quân đội đến những nơi khác trên thế giới.

Tuy thế, nghiên cứu này đã nhấn mạnh một số sự kiện đã bị hoài nghi từ trước.

Dân biểu Dân chủ ở Lowell, Martin T. Meehan, thành viên Ủy ban Quân Dịch tại Hạ Viện nói, “Rất nhiều phí tổn cho chiến tranh Iraq chúng ta vẫn chưa bắt đầu chi trả. Nếu cuộc chiến chấm dứt hôm nay, trong tương lai chúng ta còn hàng trăm tỉ USD phải trả dài lâu.”

Stiglitz, nguyên cố vấn của Bill Clinton và chuyên gia kinh tế hàng đầu của Ngân hàng Phát triển Thế giới được xem là nhân vật đối lập với các chính sách bảo thủ.

Trong những khảo luận, Stiglitz thường chỉ trích việc Toàn cầu hóa, kêu gọi chính phủ có những can thiệp mạnh hơn để điều chỉnh thị trường.

Và, dĩ nhiên, Stiglitz cũng chỉ trích chính sách của chính quyền Bush.

Trong một bài quan điểm trên Los Ageles Times tháng hai năm 2003, Stiglitz cảnh báo với dân Hoa Kỳ “thị trường bất ổn, thâm thủng ngân sách tăng cao, kinh tế phát triển chậm lại” là hậu quả của chiến tranh tại Iraq.

Tuy thế, Stiglitz vẫn là người của dòng chính.

Nhận định về Stiglitz, Timothy Kane, một nhà kinh tế thuộc Heritage Foundation – khuynh hướng bảo thủ – ở Washington cho rằng, “Sitglitz cường điệu chống lại toàn cầu hóa, và thường giơ cao đánh khẽ. Nghĩa là ông ta là tiếng nói của phe tả, nhưng cũng không bao giờ cho kinh tế tự do là điều xấu.”

Blimes giảng dậy môn Quản trị tại trường Kennedy thuộc đại học Harvard, nguyên là phụ tá Bộ trưởng Thương mại trong nội các Clinton.

Cả hai tác giả đã đưa ra, theo họ nghĩ, phí tổn chiến tranh từ A đến Z – cuộc chiến lớn nhất từ sau chiến tranh Việt Nam, đang bước vào năm thứ ba với hơn 100.000 quân đã ra mặt trận.

Tác giả khẳng định việc huy động quân đội cho chiến tranh chắc chắn dẫn đến tốn phí bậc hai ngay cả khi đã rút quân và chiến cụ về.

“Chiến cụ hư hỏng phải thay thế là những giá phải trả chưa được tính toán, con số này sẽ lên đến hàng chục tỉ USD.”

Cùng lúc, hai nhà nghiên cứu còn dùng số liệu của chiến tranh vùng Vịnh năm 1991 để tiên liệu phí tổn lâu dài về y tế cho thương binh và những người cần những trợ cấp khác.

Stiglitz nói, “Có khoảng 16.000 binh sĩ bị trọng thương, con số này sẽ lên gấp đôi vào năm 2010 và mỗi một thương binh đều phải được săn sóc về sức khỏe cũng như được trợ cấp tàn phế. Đây là những con số hiển nhiên nhưng là thí dụ quan trọng cho thấy tốn phí chiến tranh Iraq không phản ánh đúng thực tế” trong số liệu chính thức.”

Stiglitz cho rằng những phí tổn này đưa tổng số giá tiền phải trả cho chiến tranh là 650 tỉ USD, nhưng như thế vẫn chưa kể được những khía cạnh khá, rộng hơn, như cuộc chiến kéo dài làm thâm thủng ngân sách liên bang.

“Chúng ta phải mượn nợ, chúng ta phải trả tiền lời trên số nợ, và phải trả tiền lời trên tiền lời,” Stiglitz nói.

Và hơn nữa, còn những giá phải trả ở phạm trù kinh tế vĩ mô; thí dụ như ảnh hưởng chung của chiến tranh đến nền kinh tế, ngay cả việc tăng ngân sách quốc phòng đã khiến một số công nghệ phát triển.

“Nó có hiệu ứng số nhân. Thí dụ, khi phải chi nhiều cho xăng dầu, chúng ta sẽ ít mua sắm vật gia dụng. Điều này không khác việc giảm thuế là một kích tác, và sự tăng giá xăng dầu là phản kích tác kinh tế,”theo Stiglitz.

Tất cả chúng ta, có lẽ rất khó để không đồng ý với Stiglitzvà Bilmes, “quan trọng nhất trong cuộc sống thường là những gì vô giá, như chính sinh mệnh của mỗi con người.” Giá trị của tự do của một dân tộc, giá trị của một nền dân chủ cho một quốc gia dù có tính được bằng tiền tỉ, tiền ức cũng không thể xem là giải đáp toàn mỹ vì chúng ta không thể nào định giá được sinh mạng của hơn hai ngàn người lính tử trận, những mất mát của hơn 16 ngàn thương binh và gia đình họ cũng như giá nào để trả cho hơn 30 ngàn thường dân Iraq thiệt mạng và những vết thương xã hội chậm lành ở cả Hoa Kỳ và Iraq.

Trở lại các cuộc tranh luận, những cuộc biểu tình – chỉ nói riêng đến những sự kiện xẩy ra trên đất Mỹ, giữa người Mỹ với nhau trong gần ba năm nay chung quanh cuộc chiến Iraq – con người của xã hội công dân tại đây đã thể hiện rõ những quyền căn bản của mình trong một xã hội dân chủ. Những sinh hoạt ấy phản ánh thực tế tính đa nguyên, quyền tự do ngôn luận, tự do thông tin, quyền được thông tin để tham gia vào sinh hoạt xã hội, quyền thực sự làm chủ quốc gia mình.

Thật mỉa mai và đáng buồn, ở quê mình, người dân vẫn phải tiếp tục trả cái giá của cuộc chiến đã chấm dứt từ hơn 30 năm trước. Ở đất nước ấy vẫn hoàn toàn thiếu vắng mọi sinh hoạt cơ bản của một xã hội tự do, dân chủ, công bằng. Tập đoàn độc tài vẫn chỉ là những cái lưỡi gỗ đưa đẩy khẩu hiệu cũ rích – “cuộc chiến thần thánh,” “quân đội anh hùng,” “ngọn cờ của đảng quang vinh,” “chủ nghĩa Mác - Lê-nin ánh sáng soi đường” – để tiếp tục sự nghiệp lừa dối toàn dân.

Tháng giêng 2006

1. Nguồn: Economists say cost of war could top $2 trillion – Tally exceeds White House projections, Bryan Bender, The Boston Globe, 8/1/2006


Nguyên văn bài “Cost of War in Iraq” của Linda J. Bilmes và Joseph E. Stiglitz
Joseph E. Stiglitz
Joseph E. Stiglitz, thành viên Hội đồng Cố vấn Kinh tế, CEA (1993-95) và Chủ tịch của CEA (1995-97). Là Chuyên gia Kinh tế Đầu ngành rồi Phó Tổng Giám đốc World Bank (1997-2000). Hiện là giáo sư giảng dậy tại Trường Thương mại Columbia -Khoa Kinh Tế, Trường hậu Đại học Mỹ thuật và Khoa học, Trường Sự vụ Quốc tế và Công chúng.

Sáng lập tạp chí The Journal of Economic Perspectives, tác giả The Roaring Nineties (W.W. Norton) và quyển Globalization and Its Discontents (W.W. Norton June 2001) được dịch ra 28 ngôn ngữ và là sách bán chạy nhất thế giới




Linda J. Bilmes
Linda J. Bilmes, Giảng viên môn Chính sách Công chúng tại Trường Kennedy, Đại học Harvard, dậy về Ngân sách và Tài chính Công chúng. Từng là Giám đốc Tài chánh và Thứ trưởng đặc trách Quản trị và Ngân sách Bộ Thương mại (1999-2001). Trước đó là Phụ tá Thứ trưởng Bộ Thương mại (1997-98).

Thường viết về đề tài tài chánh và ngân sách cho New York Times, Washington Post, Financial Times, The Atlantic và các tạp chí khác. Đang nghiên cứu về giá của cuộc chiến tại Iraq, đổi mới lao động liên bang, gánh nặng lương hưu của công chúng. Bilmes tốt nghiệp Cử nhân và MBA tại Harvard University.

 

 


In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè:

     http://tudovis.com/kktd/binh_luan_2/bl_cuoc_chien_iraq_se_ton_hon_2_.html

Người gửi:

Địa chỉ email: *


Người nhận:

Có thể gửi cho nhiều địa chỉ, nhớ bỏ dấu phẩy trước khi bắt đầu địa chỉ mới.
Địa chỉ email: *
Lời nhắn:
Quí vị có thể copy hết cái bài ở trên và bỏ vào trong hộp Lời nhắn
 
* Thông tin bắt buộc        
Note: Chi tiết bạn điền vào trang này sẽ không được dùng để gửi thư không mời, hoặc bán cho nơi khác.