Theo Dan Chim Viet - Tô Huy Rứa [**] - 23-01-2006
Trong quá trình đổi mới từ năm 1986 đến nay, các cơ chế và chính sách
mới đã mở rộng quyền tự chủ của các đơn vị kinh tế, phát huy tiềm năng
của các thành phần kinh tế, mọi người dân được phép tự do kinh doanh
theo pháp luật. Trong sinh hoạt tư tưởng, người dân được tự do thảo
luận nhiều vấn đề và tham gia trực tiếp vào những vấn đề trọng đại của
đất nước.
Trong lịch sử loài người, dân chủ vừa là chế độ xã hội, một vấn đề
chính trị mang bản chất giai cấp; vừa là một trong những giá trị xã hội
mang tính phổ biến, tính nhân loại to lớn. Chính nội hàm đa nghĩa, đa
chiều này đã làm dân chủ trở thành vấn đề thời sự thu hút mối quan tâm
to lớn cả về phương diện lý luận và thực tiễn. Quá trình phát triển của
lịch sử chính trị nhân loại theo xu hướng tiến bộ cũng chính là quá
trình phát triển của các nền dân chủ. Xã hội càng phát triển thì các
nhu cầu về dân chủ và quyền con người càng trở thành đòi hỏi bức xúc.
Nhìn từ phương diện đó, việc mở rộng và phát huy dân chủ ở nước ta hiện
nay vừa là mục tiêu, nhưng cũng là động lực, là tiền đề, điều kiện quan
trọng, góp phần giải quyết hàng loạt những vấn đề chính trị - xã hội
của đất nước.
Dân chủ, trước hết được xem xét với tư cách là một hình thức tổ
chức nhà nước, là khái niệm dùng để chỉ tính chất của mối quan hệ giữa
cộng đồng dân cư với nhà nước, theo đó cộng đồng là chủ thể gốc và có
quyền năng áp đặt ý chí lên nhà nước. Khác với các hình thức khác của
thiết chế nhà nước, trong thiết chế dân chủ, quyền của đa số, quyền
bình đẳng của mọi công dân, tính tối cao của pháp luật được chính thức
thừa nhận; những cơ quan quyền lực của nhà nước do dân bầu cử mà ra.
Dân chủ được thực hiện thông qua hai hình thức cơ bản: dân chủ đại diện
và dân chủ trực tiếp.
Dân chủ còn được hiểu là một giá trị xã hội. Các cuộc đấu tranh
giành dân chủ đều dẫn đến khả năng giải phóng con người, nâng cao vị
trí con người trong lịch sử, hình thành và phát triển ở con người ý
thức và năng lực làm chủ xã hội. Dân chủ với ý nghĩa đó được xác định
như một lý tưởng nhân đạo, một giá trị nhân văn.
Dân chủ còn được xét với ý nghĩa là điều kiện để hình thành và phát
triển một nhân cách toàn diện của các chủ thể chính trị. Ðó là sự hình
thành thái độ, tính tích cực chính trị, sự chủ động, nhu cầu và sự tự
giác tham gia vào các quá trình chính trị thực tiễn. Ðó là tinh thần
trách nhiệm của cá nhân công dân trong cuộc đấu tranh nhằm loại bỏ
những gì phản dân chủ đang tồn tại trong đời sống cộng đồng. Do vậy,
dân chủ không chỉ là phạm trù chính trị mà còn là phạm trù đạo đức.
Khẳng định dân chủ là xu hướng khách quan của tiến bộ xã hội như
thế cũng đồng thời đã khẳng định tính tất yếu của công cuộc xây dựng
CNXH, vì mục tiêu của CNXH không gì khác hơn là giành dân chủ cho giai
cấp công nhân và nhân dân lao động, khẳng định quyền lực chính trị
thuộc về nhân dân. Tiến lên CNXH là tiến tới một xã hội "nhân đạo hoàn
bị", một xã hội không còn tha hóa, áp bức, bóc lột, một cộng đồng người
lao động tự do và sáng tạo. Do đó, việc "phải trình bày và nhấn mạnh
những nhiệm vụ dân chủ chung trước toàn thể nhân dân và không lúc nào
giấu giếm những niềm tin xã hội chủ nghĩa...; phải là người trước tiên
đề cập, nêu bật và giải quyết mọi vấn đề dân chủ chung" được V.I.Lê-nin
coi là một dấu hiệu quan trọng xem xét người ấy có phải là người cộng
sản hay không.
Tư tưởng Hồ Chí Minh khẳng định mạnh mẽ chỉ có CNXH mới đem lại
quyền làm chủ cho nhân dân lao động, đem lại sự giải phóng thực sự và
hoàn toàn cho nhân dân, mới bảo đảm cho dân tộc thật sự có độc lập, tự
do và con người hạnh phúc: "Mục đích của chủ nghĩa xã hội là gì? Nói
một cách giản đơn và dễ hiểu là: Không ngừng nâng cao đời sống vật chất
và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động".
Nhân dân Việt Nam chỉ thật sự làm chủ và phát huy quyền làm chủ của
mình khi được tổ chức, tập hợp dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt
Nam, người đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân
dân lao động và của toàn dân tộc. Ðược Ðảng lãnh đạo, được toàn thể
nhân dân xây dựng và ủng hộ, Nhà nước ta đã không ngừng lớn mạnh và
đang gánh vác sứ mệnh của mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc, thể hiện rõ rệt bản chất tốt đẹp và tiến bộ của chế độ xã hội
mới. Ðó thật sự là một nhà nước dân chủ, gắn bó chặt chẽ với nhân dân,
bảo vệ và phục vụ lợi ích của nhân dân.
Trong quá trình đổi mới từ năm 1986 đến nay các cơ chế và chính
sách mới đã mở rộng quyền tự chủ của các đơn vị kinh tế, phát huy tiềm
năng của các thành phần kinh tế, mọi người dân được phép tự do kinh
doanh theo pháp luật. Trong sinh hoạt tư tưởng, người dân được tự do
thảo luận nhiều vấn đề; sự thảo luận và đối thoại trong Quốc hội thẳng
thắn, công khai; nhân dân được tham gia trực tiếp vào những vấn đề
trọng đại của đất nước. Nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật quan
trọng đã được nhân dân tham gia góp ý kiến trước khi quyết định. Nhiều
văn bản pháp quy được ban hành nhằm từng bước thực hiện dân chủ hóa
kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa góp phần phát huy tính tích cực,
chủ động của nhân dân trên cơ sở môi trường - tâm lý xã hội ngày càng
dân chủ. Nội dung và phương thức hoạt động của các tổ chức trong hệ
thống chính trị được đổi mới theo hướng phát huy dân chủ nội bộ và
quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường trách nhiệm và quyền hạn của các
cơ quan dân cử, nâng cao hiệu lực quản lý của chính quyền các cấp.
Kinh nghiệm cũng được rút ra là, trong quá trình mở rộng dân chủ
phải luôn luôn đề phòng và chủ động ngăn chặn dân chủ hình thức, cũng
như dân chủ cực đoan, xác định rõ dân chủ phải đi liền với tập trung,
với kỷ luật, pháp luật, với ý thức trách nhiệm công dân. Một mặt phát
huy dân chủ, mặt khác cần có sự lãnh đạo đúng đắn, lãnh đạo để ổn định
chính trị - xã hội và phát huy dân chủ tốt hơn.
Hiện nay, các thế lực chống đối chủ nghĩa xã hội trong và ngoài nước
đang lợi dụng vấn đề dân chủ như một diễn đàn trọng yếu trong chiến
lược thay đổi chế độ chính trị ở nước ta, nhằm đưa đất nước đi theo con
đường tư bản chủ nghĩa. Các thế lực đó đem đối lập Ðảng Cộng sản với
dân chủ nhằm bài bác vai trò lãnh đạo của Ðảng, nhân tố quyết định việc
thực hiện quá trình dân chủ hóa. Có thể khẳng định rằng, đó là điều đi
ngược lại quy luật vận động của lịch sử và nguyện vọng chính đáng của
đông đảo quần chúng nhân dân lao động về quyền làm chủ của mình. Không
phải cứ đa nguyên thì dân chủ, còn một đảng thì mất dân chủ. Vấn đề là
ở chỗ đảng cầm quyền có thực sự cách mạng, có thực sự vì quyền lợi của
nhân dân hay không.
Lê-nin đã từng vạch rõ, ngay ở giai đoạn phát triển nhất của dân
chủ tư sản trong chế độ cộng hòa dân chủ, thì chế độ dân chủ ấy bao giờ
cũng bị giới hạn trong khuôn khổ chật hẹp của sự bóc lột tư sản, và do
đó, thực ra nó luôn chỉ là chế độ dân chủ đối với thiểu số mà thôi.
Ngày nay, ở những nước tư bản phát triển nhất, hiện thực xã hội của nó
vẫn đang tiếp tục phơi bày đầy rẫy những sự việc bất công và phi dân
chủ. Từ Giáo hoàng Jean Paul II cho đến nhiều học giả tư sản đã công
khai bày tỏ rằng, chủ nghĩa tư bản là không thể chấp nhận được dưới góc
độ đạo đức và càng không thể là tương lai của nhân loại. Thực tế xã hội
cho thấy, giữa quyền dân chủ tư sản được quy định bằng văn bản pháp
luật và việc thực hiện trên thực tế luôn có khoảng cách rất xa. Gần đây
nhất ở Mỹ, cơn bão Katrina đi qua khiến cho người dân Mỹ kinh hoàng và
giận dữ không phải vì độ tàn phá khủng khiếp của nó, họ đã thật sự
khủng hoảng niềm tin khi mà những người da đen, những người nhập cư,
những người lao động nghèo khổ đã bị chính quyền bỏ rơi trong thời khắc
tuyệt vọng.
Với sự thẳng thắn và ý thức tự phê bình nghiêm túc, chúng ta thấy
rằng việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
cũng có những khó khăn, hạn chế, thiếu sót. Chúng có những nguyên nhân
cơ bản như:
- Một số tổ chức và cấp ủy đảng còn có biểu hiện vi phạm nguyên tắc
tập trung dân chủ, quan liêu, mất dân chủ hoặc dân chủ hình thức, không
chấp hành nghiêm nghị quyết, không thực hiện tốt việc phê bình và tự
phê bình trong Ðảng.
- Tổ chức bộ máy hành chính nhà nước còn cồng kềnh, nặng nề; hệ
thống pháp luật chưa hoàn thiện và đồng bộ; thực hiện cải cách hành
chính còn chậm trễ gây nhiều phiền hà cho nhân dân. Chưa quy định rõ
ràng hợp lý chức năng, nhiệm vụ, cơ chế vận hành của tổ chức bộ máy dẫn
đến tình trạng vừa chồng chéo, vừa sơ hở, đùn đẩy trách nhiệm cho nhau;
một số bộ, ngành không thực hiện đúng chức năng quản lý nhà nước trên
các lĩnh vực được giao phó.
- Tổ chức các đoàn thể nhân dân nhìn chung khắc phục chưa tốt tình
trạng hành chính hóa trong hoạt động dẫn đến không nắm chắc được tâm
tư, nguyện vọng và vướng mắc của quần chúng để kịp thời giải quyết hoặc
báo cáo với tổ chức đảng, chính quyền phối hợp giải quyết.
- Một bộ phận không nhỏ trong đội ngũ cán bộ của Ðảng, Nhà nước và
các đoàn thể còn bộc lộ nhiều bất cập, yếu kém so với yêu cầu, nhiệm vụ
của giai đoạn cách mạng mới. Trong điều kiện kinh tế thị trường, một bộ
phận không nhỏ cán bộ sa sút về phẩm chất chính trị, về đạo đức lối
sống, lợi dụng chức quyền dẫn đến quan liêu, tham nhũng, sa vào chủ
nghĩa cá nhân.
- Trình độ dân trí, năng lực nhận thức và thực hành dân chủ của
quần chúng nhân dân trong những năm đổi mới, tuy đã được nâng lên một
bước, nhưng vẫn còn nhiều biểu hiện non yếu. Sự hiểu biết về các quy
định của pháp luật, về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm công dân,
nhìn chung còn chưa đầy đủ, còn cảm tính, xuôi chiều. Tình trạng coi
thường pháp luật, kỷ cương, kỷ luật, quy tắc sinh hoạt xã hội vẫn còn
tiếp tục diễn ra.
Ðứng trước tình hình đó, việc mở rộng và phát huy dân chủ XHCN,
phát huy cao độ vai trò nhân tố con người trong sự nghiệp CNH, HÐH ở
nước ta hiện nay đang là một nhiệm vụ to lớn đặt ra cho tất cả các cấp,
các ngành. Trước mắt, để làm tốt được nhiệm vụ đó, theo chúng tôi cần
phải nắm vững một số vấn đề có tính giải pháp sau đây:
Thứ nhất, phải luôn luôn quán triệt quan điểm dân chủ vừa là mục
tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội. Quyền lực chính trị của
nhân dân không được bảo đảm sẽ dẫn tới tình trạng người dân thờ ơ, lãnh
đạm đối với xã hội, suy giảm tính tích cực chính trị - đó chính là đầu
mối làm suy giảm và đánh mất tiềm năng sáng tạo, mất động lực để phát
triển. Khi dân chủ được bảo đảm, con người và các quan hệ xã hội sẽ trở
nên cởi mở và năng động hơn. Nguồn lực của mọi nguồn lực, động lực của
mọi động lực, động lực sâu xa cho mọi sự phát triển chính là nhân tố
con người.
Thứ hai, phải thực hiện dân chủ trong Ðảng, trong bộ máy nhà nước
và các đoàn thể xã hội; đồng thời không ngừng nâng cao hiệu quả vận
hành của cả hệ thống chính trị.
Ðảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền, lãnh đạo xây dựng Nhà
nước pháp quyền Việt Nam. Ðảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng
và phát huy quyền làm chủ, chịu sự giám sát của nhân dân, dựa vào nhân
dân để xây dựng đảng, đoàn kết và lãnh đạo nhân dân tiến hành sự nghiệp
cách mạng. Người đảng viên cộng sản là người có tôn chỉ mục đích trung
thành và hy sinh vì lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công nhân và nhân
dân lao động. Vì vậy, trong quá trình dân chủ hóa, trước hết phải tiến
hành dân chủ hóa trong Ðảng, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung
dân chủ, phê bình và tự phê bình. Các tổ chức Ðảng, cũng như từng đảng
viên, đều phải hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật. Nếu
trong nội bộ đảng không có dân chủ thì không thể nói đến dân chủ ngoài
xã hội. Phải thực hiện dân chủ hóa và xóa bỏ bệnh hình thức ngay từ
khâu bầu cử các cơ quan lãnh đạo các cấp của Ðảng, Nhà nước và các đoàn
thể xã hội.
Trong hệ thống chính trị, Ðảng là lực lượng duy nhất lãnh đạo. Muốn
tránh nguy cơ độc đoán chuyên quyền - những biểu hiện thường thấy của
mất dân chủ - thì đảng phải luôn đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo
đối với hệ thống chính trị, mà trong đó cơ bản nhất là đối với nhà
nước. Sự lãnh đạo của Ðảng bảo đảm cho Nhà nước mang bản chất giai cấp
công nhân, thật sự là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, hoạt động theo
đúng đường lối, quan điểm của Ðảng, thể hiện bản chất cách mạng và khoa
học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Sự lãnh đạo của
Ðảng tạo điều kiện phối hợp và phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống
chính trị, giúp Nhà nước hoàn thành thuận lợi mọi nhiệm vụ của mình.
Mặt trận và các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội ngày càng có
vai trò to lớn khi các quan hệ xã hội dân sự ngày càng phát triển. Do
vậy, Ðảng phải lãnh đạo để định hướng Mặt trận và các đoàn thể thực
hiệncác mục tiêu xã hội chủ nghĩa, gắn bó với quyền lợi của dân tộc,
giai cấp và các hội viên, đoàn viên; đồng thời tôn trọng và khuyến
khích tính năng động và tự chủ của các đoàn thể và tổ chức xã hội.
Hoạt động của các thành viên trong hệ thống chính trị có chức năng,
nhiệm vụ riêng nhưng cùng nhau tạo ra một sức mạnh tổng hợp để nhằm đạt
mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, khẳng định trên thực tế quyền lực chính
trị thật sự thuộc về nhân dân lao động.
Thứ ba, phải bảo đảm các thể chế dân chủ được chế định bằng nguyên
tắc, luật pháp và các chuẩn mực văn hóa đạo đức. Ðối với xã hội, một
mặt, pháp luật ghi nhận và thể chế hóa quyền con người, quyền công dân
và bảo đảm về mặt pháp lý cho các quyền đó được thực hiện; mặt khác,
pháp luật trở thành phương tiện để các thành viên của xã hội có điều
kiện bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình...
Việc thực hiện dân chủ điều quan trọng là phải hoàn thiện các chế
định dân chủ để buộc các chủ thể cầm quyền dù muốn hay không cũng phải
tuân theo. Nếu không có thể chế để qua đó nhân dân kiểm soát được quyền
lực thì tất yếu sẽ dẫn đến xu hướng lạm quyền. Về dân chủ trực tiếp
việc ban hành Quy chế dân chủ ở các loại hình cơ sở theo Chỉ thị số
30/CT-TW ngày 18-2-1998 của Bộ Chính trị và Nghị định số 29/1998/NÐ-CP
ngày 11-5-1998 của Chính phủ vừa qua là một hướng đi đúng đắn và đã đạt
được những thành tựu nhất định. Về dân chủ đại diện thì phải thông qua
các chủ thể quyền lực trong hệ thống chính trị, thông qua cấp ủy đảng,
đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp, thông qua những người
lãnh đạo các đoàn thể nhân dân, thông qua các phương tiện thông tin đại
chúng... Các quan hệ dân chủ ấy cần được định chế bằng luật pháp và
chuẩn mực xã hội. Pháp luật không thể quy định trách nhiệm chung chung
và người dân thì không biết đại diện của mình là ai. Phải xây dựng các
thể chế để bảo đảm năng lực của sự đại diện, hiệu quả của sự đại diện,
từ khâu tổ chức hoạt động của các cơ quan đại diện đến vị trí, vai trò,
quyền hạn và trách nhiệm của những người đại diện. Phải làm cho chế
định bầu cử thật sự tự do, công khai, dân lựa chọn, dân biết đầy đủ quá
trình bầu cử, dân kiểm tra kết quả bỏ phiếu... Và như vậy việc thực
hiện dân chủ còn có quan hệ trực tiếp với việc đổi mới về tổ chức và
phương thực hoạt động của hệ thống chính trị, vì nó được thực hiện bằng
hệ thống chính trị.
Thứ tư, phải bảo đảm tính toàn diện trong quá trình mở rộng và phát
huy dân chủ. Quá trình dân chủ hóa phải được triển khai trên tất cả các
lĩnh vực của đời sống từ kinh tế, chính trị, văn hóa tinh thần liên
quan đến đời sống của mỗi cá nhân, đời sống của cộng đồng; từ tư tưởng
hành động của con người đến các thiết chế xã hội.
Về kinh tế, cái cốt lõi là bảo đảm lợi ích kinh tế của người lao động.
Những lợi ích đó phải được thể chế hóa trong các quyền công dân: sở
hữu, quản lý, phân phối làm cho người lao động làm chủ thực sự về tư
liệu sản xuất, tạo động lực phát triển sản xuất kinh doanh là cơ sở để
thực hiện lợi ích và tiến bộ xã hội.
Về chính trị, phải bảo đảm cho nhân dân có quyền tham gia vào các
hoạt động quản lý điều hành của nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội
một cách trực tiếp và thông qua các đại diện ưu tú do mình lựa chọn.
Phải bảo đảm quyền dân chủ trong ứng cử, bầu cử, trong thảo luận, đóng
góp ý kiến xây dựng các dự án luật; trong sinh hoạt dân chủ ở các cơ
quan dân cử, các đoàn thể xã hội...
Về văn hóa, tinh thần, phải tạo cho các tầng lớp nhân dân có quyền
tự do hưởng thụ thành tựu văn hóa tiến bộ và tự do tư tưởng. Nhà nước
bảo đảm cho công dân quyền được thông tin, tự do ngôn luận, tự do tín
ngưỡng, tự do sáng tạo, quyền thảo luận và biểu quyết những vấn đề quan
trọng trong việc xây dựng đời sống văn hóa tinh thần xã hội...
Thứ năm, phải đẩy mạnh dân chủ ở cơ sở. Việc bảo vệ quyền làm chủ
của nhân dân ở cơ sở và từ cơ sở là vấn đề rất quan trọng. Cơ sở là nơi
trực tiếp thực hiện đường lối, chính sách của Ðảng và Nhà nước, là nơi
sinh sống, lao động sản xuất, công tác, nơi diễn ra tiếp xúc và mối
quan hệ nhiều mặt giữa các tầng lớp nhân dân với đảng bộ chính quyền,
công chức điều hành xử lý công việc thường ngày... Do vậy, cần phải xây
dựng chế độ dân chủ bắt đầu từ cơ sở, từ nền tảng của hành chính với sự
tham gia thật sự của quần chúng vào tất cả đời sống của nhà nước.
Qua một thời gian thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, chúng ta đã
thấy rõ được những hiệu quả thiết thực. Quyền làm chủ của nhân dân được
bảo đảm trên thực tế ở những lĩnh vực cần thiết. Nhiều vụ việc ở cơ sở
được nhân dân đấu tranh làm sáng rõ; cán bộ, đảng viên được theo dõi,
nhắc nhở, do đó đã hạn chế đáng kể các hành vi tiêu cực. Hệ thống chính
trị ở cơ sở nhiều nơi được củng cố; nhân dân phấn khởi, kinh tế - xã
hội phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện, quốc phòng an ninh
được giữ vững. Tuy nhiên, việc thực hiện dân chủ ở cơ sở luôn luôn vận
động và biến đổi không ngừng, đòi hỏi phải thường xuyên nghiên cứu và
tổng kết các mô hình thực tiễn để đổi mới và vận dụng sáng tạo các hình
thức, biện pháp tổ chức thực hiện nhằm đưa Quy chế dân chủ ở cơ sở đi
vào cuộc sống một cách vững chắc.
Thứ sáu, phải không ngừng nâng văn hóa chính trị, văn hóa dân chủ
và năng lực thực hành dân chủ của quần chúng nhân dân lao động.
Mọi quyền lực thuộc về nhân dân, phải do nhân dân tự tay mình thực
hiện, đó là nguyên lý và nội dung của nền dân chủ XHCN. Nền dân chủ đó
vì vậy, sẽ phụ thuộc vào nền tảng xã hội sâu, ý thức chính trị của nhân
dân và khả năng của nhân dân tham gia vào đời sống chính trị của đất
nước. Các yếu tố bảo đảm đó chỉ có thể trở thành hiện thực khi mà trình
độ văn hóa chính trị của nhân dân đạt được ở những mức độ nhất định và
ngày càng được nâng cao.
Thực tế là, chỉ khi nào người dân tự giác nhận thức được quyền và
nghĩa vụ của mình, tự giác tham gia công việc nhà nước, công việc xã
hội, hoạt động với tư cách là người chủ lúc đó mới có điều kiện thực
hiện dân chủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra một nguyên tắc hoạt động
chính trị: "Phải đưa chính trị vào giữa dân gian". Không có tri thức
người dân sẽ không bảo vệ được lợi ích của mình, sẽ hành động một cách
tự phát và sẽ bị mất phương hướng trong đời sống chính trị, lúc đó dân
chủ chỉ còn là một thứ dân chủ hình thức.
Thứ bảy, trong xã hội hiện đại cần phát huy vai trò là cầu nối
thông tin giữa dân với Ðảng của truyền thông đại chúng để làm cơ sở cho
các cuộc tranh luận, thảo luận, trưng cầu ý kiến qua đó nâng cao văn
hóa dân chủ trong xã hội. Ðây là một kênh quan trọng để hình thành dư
luận xã hội nhằm thực hiện chức năng góp phần mở rộng dân chủ XHCN.
Truyền thông đại chúng cũng là diễn đàn, nơi dân chúng diễn đạt ý kiến
của mình, nơi nhân dân gửi đơn thư, khiếu nại trước khi các cơ quan
chức năng vào cuộc.
Tóm lại, ở nước ta trong giai đoạn hiện nay việc mở rộng và phát
huy dân chủ là mục tiêu và động lực phát triển. Hơn lúc nào hết chúng
ta phải quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, phải "làm sao cho
nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình".
Do vậy, "thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết
mọi khó khăn".
[**] PGS, TS, Ủy viên T.Ư Ðảng,
Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
[*] Đầu đề do Biên tập viên đặt lại cho đúng với nội dung của bài
viết, nguyên là: Ở nước ta, dân chủ là mục tiêu, động lực phát triển
Nguồn: Nhân Dân, ngày 21/11/2005