Đạo lý xếp hàng

Theo Nguoi Viet - Phạm Việt Vinh - 23-01-2006

Nếu nghiêm chỉnh xếp hàng ở Trung Quốc, thì bạn sẽ đứng ỳ một chỗ; trong một môi trường hung dữ, bạn phải chen lấn, huỵch thụi - Jung Chang (Trương Nhung), nhà văn nữ nổi tiếng gốc Trung Quốc đã từng nói vậy. Bà hoàn toàn có lý. Nhưng điều ngược lại có lẽ cũng không sai. Ở một xã hội vừa nhốn nháo vừa ù lỳ, thì chuyện ngoan ngoãn xếp hàng nói chung lại càng làm cho quốc gia ỳ ạch.

Kinh nghiệm xếp hàng của tôi được bắt đầu ở Hà Nội vào đầu những năm 60 thế kỷ trước, một thời gian ngắn sau khi nhà thơ chính trị gia Tố Hữu dõng dạc “Chào 61 đỉnh cao muôn trượng!” Hồi đó, mọi nhu yếu phẩm của dân thành thị đều trông chờ vào hệ thống mậu dịch nhà nước, từ mảnh vải áo quần theo tiêu chuẩn mỗi năm đến chai nước chấm theo định chuẩn mỗi tháng. Và để mua mọi thứ, người ta đều phải xếp hàng. Vất vả nhất, có lẽ là xếp hàng mua thịt. Bình thường, quầy bán thịt 6 giờ sáng mới mở cửa,, nhưng muốn mua được thịt ngon - tốt nhất là miếng mỡ để rán ra dành dụm dùng dần, hay là miếng giò lợn, vì thịt có xương nếu mua một cân chỉ phải cắt phiếu có nửa cân, thì người ta phải xếp hàng từ sáng sớm. Khoảng 3, 4 giờ sáng ngày chủ nhật duy nhất được “ăn tươi” trong tháng, mẹ đánh thức tôi dậy đi xếp hàng mua thịt. Mắt nhắm mắt mở, cầm theo một chiếc rá cũ, tôi lần bước đến quầy thịt mậu dịch Chợ Hôm. Ðến sớm vậy, nhưng chiếc rá cũ của tôi bao giờ cũng phải xếp sau hàng chục những rổ, rá cũ, những viên gạch và những chiếc nón rách. Cách không xa những vật “thế nhân” đó là những bóng người uể oải, lầm lụi trong đêm tối. Vài người đàn ông đứng hút thuốc, mấy cụ già túm tụm rì rầm chuyện con cháu, và không ít người lại gà gật tiếp giấc ngủ còn dang dở. Nhưng, ai cũng như tôi, cứ vài ba giây lại phải đánh mắt canh chừng xem rổ rá, nón gạch của mình có bị gạt ra ngoài không, hay người mới đến có xếp vào cuối hàng không.

Nghiêm chỉnh đến vậy, cảnh giác đến vậy mà gần đến 6 giờ, khi thịt được chuyển đến, và các cô mậu dịch viên hồng hào béo tốt chuẩn bị mở quầy báo hiệu “cuộc chiến đấu” bắt đầu, thì tôi bao giờ cũng bị giật thót tim, giống hệt như khi ở lớp không thuộc bài mà bị thầy giáo gọi lên bảng. Thực ra. tôi chỉ có việc cầm lên chiếc rá rách, khư khư bám chặt lấy vị trí thay chiếc rá rách và đừng để cho người ta gạt ra ngoài hàng. Tham gia cuộc xô đẩy là những người hung tợn và khỏe mạnh hơn. Có những thanh niên, nam có nữ có, bỗng nhiên xuất hiện và lừng lững đứng phía đầu, họ hoặc là lờ đi, hoặc là gầm gừ trấn áp phản ứng của mấy bà già đột nhiên bị chen ngang, họ có sức mạng của cơ bắp và sự thô bạo. Xếp trước chiếc rá của tôi là một chiếc nón cũ, tôi nghĩ là của một người, nhưng khi quầy thịt mở cửa, thì như làm xiếc, một bà sồn sồn nhấc chiếc nón lên cho tôi thấy rõ dưới đó là 4, 5 vật “thế nhân” xếp hàng khác. Lát nữa, bà ta sẽ bán chỗ của những vật này cho những ai đến muộn. Ðứa bé như tôi chỉ còn biết có nén uất, lặng im. Họ có sức mạng của sự láu cá, gian manh. Thực tế, kiên tâm đứng sau lưng người khác, hy vọng rồi mình sẽ đến lượt, chỉ là hành vi của những đứa trẻ nhỏ bé như tôi, của những cụ già hiền lành yếu đuối, và của những bác công nhân ưa kỷ luật nhưng sợ va chạm. Xếp hàng ở Hà Nội, bao giờ cũng đi kèm theo sự dữ tợn chen hàng và xảo quyệt bán buôn.

Nhưng điều rõ nhất, xếp hàng là chỉ dấu của sự thiếu thốn nghèo nàn. Xếp hàng từ 4 đến 8, 9 giờ sáng, dùng hết phiếu thịt một tháng cho cả nhà, tôi mua được 1,4 kg thịt lợn. Mẹ và hai anh em tôi - phiếu N, tiêu chuẩn Nhân dân, mỗi người được 300 g thịt. Bố tôi - phiếu E, tiêu chuẩn công nhân, cán bộ cấp thấp, được mua 500 g. Ngày đó, tem phiếu thực phẩm và nhu yếu phẩm của thị dân Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa được mang các ký hiệu chữ cái. Phiếu trẻ em dưới 6 tuổi có ký hiệu TR. Phiếu dân thường, gọi là phiếu Nhân dân, có ký hiệu N. Phiếu của cán bộ, công nhân viên cấp thấp, có ký hiệu E. Cán bộ khá hơn, như giám đốc xí nghiệp, có phiếu ký hiệu C. Cán bộ cấp cao, như cục trưởng, vụ trưởng thì không có phiếu, mà có bìa B. Bộ trưởng, ủy viên Trung ương Ðảng thì có bìa A, có cửa hàng phục vụ riêng tại Tôn Ðản. Chuyện xếp hàng mua thịt không xảy ra đối với những ai có bìa A, bìa B.

Cho đến nay, đối với nhiều người, lý cớ sâu xa của những ký hiệu tem phiếu hồi đó vẫn còn là một điều bí ẩn, Trẻ em được viết tắt thành TR, dân thường - Nhân dân mang ký hiệu N, điều này khá rõ: Nhưng ý tưởng nào đã mang lại ký hiệu E cho cán bộ cấp thấp? Ký hiệu C cho cán bộ tầm trung? Và ký hiệu B, A cho cán bộ cấp cao và siêu cao? Có ý kiến lý giải E là đàn Em, C là Cán bộ, B là Bố, là Bác, và A là Át (As) chủ bài, là đỉnh cao chót vót. Lời đàm tiếu là con đẻ của sự không minh bạch, nhưng lại phơi bày ra một cấu trúc đẳng cấp, một sự xếp hàng trong xã hội - không những theo hàng dọc - kẻ trước người sau, mà còn là theo bậc thang, người đứng trước cao hơn kẻ đứng sau. Ðiều kỳ lạ nữa là dân thường - từ bà bán rau rong đến bác công nhân bốc vác, mới được gọi là nhân dân, mang ký hiệu N. Cán bộ từ thấp đến cao đã không phải là Nhân dân, họ được coi cao hơn dân, và phải dùng nhiều thịt hơn dân. Trong khi trầm lặng xếp hàng hay tranh thủ cơ hội rình rập chen ngang, nhân dân không có thời gian và tâm trí để thắc mắc, và không được thắc mắc điều này. Nhân dân phải yên tâm khi biết rằng, không trước thì sau họ cũng tới lượt để mua 3 lạng thịt và nửa cân đậu phụ tiêu chuẩn của mình.

Ðương nhiên, chuyện xếp hàng chẳng phải “đặc sản” của Việt Nam hay Trung Quốc. Người Anh cũng lặng lẽ xếp hàng chờ xe buýt. Người Nga trước đây cũng “rồng rắn lên mây” chờ đến lượt mua lít Vodka. Cách đây mấy năm, người Ba Lan cũng nối đuôi nhau để mua lạng xúc-xích. Người Ðức thất nghiệp hiện nay đến Sở lao động hay Sở xã hội, sau khi rút số thứ tự, cũng lặng lẽ ngồi chờ đến lượt lĩnh trợ cấp hay đón nhận tin vui có việc. Những triển lãm tranh nổi tiếng tại Berlin cũng bắt hàng ngàn người xếp hàng 5, 7 tiếng ngoài trời. Nhưng họ, hoặc là mong chờ chiêm ngưỡng lâu đài nghệ thuật, hoặc là nguyền rủa bước đường số phận rủi ro. Không ở đâu có tâm thức vui sướng khi được xếp hàng để cho một ngày hạnh phúc vì có thịt như Hà Nội thuở ấy.

Rồi chiến tranh kết thúc, sau gần 20 năm lại tiếp tục vận lộn với cái đói, cả nước được dẫn dắt vào cuộc xây dựng Kinh tế thị trường mang định hướng Xã hội chủ nghĩa, chuyện xếp hàng mua gạo mì, rau thịt trở thành dĩ vãng. Nhưng, điều kỳ lạ vẫn còn: Khác với bất cứ nơi nào trên thế giới, ở Việt Nam người ta vẫn can tâm, tĩnh trí đứng đằng sau người khác, đứng phía dưới người khác trong một cuộc xếp hàng xã hội dai dẳng để chờ đón “tiêu chuẩn” của mình. Giống như trước đây, đẳng cấp xã hội vẫn là vị trí ở một cuộc xếp hàng gắn liền với một tiêu chuẩn nhất định trong một cuộc chia chác của cải quốc gia. Mục tiêu, mong ước của bất cứ ai trong cái “hàng ngũ trước sau” đó là chuyển dịch về phía trước, là được bước lên bục xếp cao hơn để được chia phần nhiều hơn.

Thời còn tem phiếu, cán bộ phiếu C phấn đấu để có bìa B; khi đó người ta sẽ không phải xếp hàng, việc này là của người phục vụ: Người ta tu chí xếp hàng để có người xếp hàng cho mình. Quan chức bìa B sẽ gắng sức để có bìa A; khi đó, “tiêu chuẩn” sẽ là muốn gì được nấy, sẽ là vô hạn định; lúc đó, xã hội “thiên đường cộng sản - làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” sẽ là hiện thực, tất nhiên, chỉ là cho một một thiểu số rất nhỏ đứng ở hàng đầu, ở nấc thang cao nhất. Hơn nữa, chuyện tem phiếu nói trên là dành cho dân thành phố. Người nông dân, ngoài tiêu chuẩn vải vóc, chỉ còn biết trông vào năng suất thất thường trên những mảnh ruộng hợp tác hóa. Vậy là, trong cuộc chuyển dịch xếp hàng xã hội “từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến lên chủ nghĩa cộng sản”, những con “Át chủ bài” đã về đến đích. Ngoài ra, kèm theo những tiêu chuẩn “xã hội cộng sản” đó còn là những quyền lực trời bể - ước mơ của bao người kế cận. Thực tế, trong cuộc xếp hàng không hẳn là vô hình đó, những người đứng đầu đã về tới thiên đường “cộng sản”, còn tại phần đuôi, 80% vẫn định vị ở chế độ nông nghiệp nghèo nàn.

Tân thời, đồng tiền chính thức chiếm lĩnh vị trí thống trị. Mọi chức tước, vị trí xã hội đã được cân đo, đong đếm bằng Dollar Mỹ: Bộ trưởng, Thứ trưởng - giá tiền triệu, vụ trưởng, cục trưởng - vài trăm ngàn; trưởng phường - mấy chục ngàn. Ðứa con ghẻ kinh tế tư nhân hoặc là bấp bênh vất vưởng, hoặc là vẫn phải ngoan ngoãn nương bóng các “đại gia” nhà nước. Người nông dân vẫn bị bỏ mặc với các sản phẩm nông nghiệp ngày càng rẻ mạt. Cuộc sống thành thị, vị trí công nhân viên nhà nước với các chỉ tiêu định chế - tuy không còn là tem phiếu, vẫn là một mục đích, một ước mơ cao. Suy cho cùng, trong hàng ngũ tiến tới một nền “Kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa”, những Át chủ bài, những Bố, những Bác ngày xưa, nay vẫn đến đích Tư bản đầu tiên. Cái đuôi Xã hội chủ nghĩa nghèo nàn vẫn thuộc về số đông nhân dân còn lại. Các Át, các Bố đã đi xe Mercedes đời mới nhất của Cộng hòa liên bang Ðức và có tài khoản bí mật kếch xù tại các ngân hàng Thụy Sỹ, còn hầu hết các đoàn “bà mẹ anh hùng”, “chi bộ vững mạnh”, các cháu thiếu niên quàng khăn đỏ xếp hàng vào thăm “Lăng Bác” lại đến từ những vùng cằn cỗi, xa xôi.

Trong cuộc xếp hàng kỳ khôi đó, ước mơ của phần đông vẫn là một vị trí nào đó với các tiêu chuẩn rõ ràng như đi công tác nước ngoài, một miếng đất, một căn nhà. Nguyện vọng cao nhất của các cháu quàng khăn đỏ vẫn là vào trường đại học, có bằng cấp để làm cán bộ nhà nước hay nhân viên liên doanh và phóng xe máy đi vũ trường như bao nhiêu công tử con ông cháu cha khác. Mục đích của người cương vị “chục ngàn” là tiến lên cương vị “trăm ngàn”. Nhìn kỹ, vẫn là một trật tự xếp hàng người sau mong bước theo người trước, người dưới ước bước tiếp người trên hòa lẫn với sự tham gia của vũ lực cướp hàng và gian manh chen ngang như cái thuở chúng tôi xếp rá rách mua 300 g thịt.

Cách đây 15 năm, hồi còn ở trường đại học, có người tâm sự cùng bè bạn, rằng anh ta sẽ làm giàu, sẽ tiến thân không cần đến thẻ Ðảng - vì anh ta căm ghét những người cộng sản. Nay anh ta đã trở thành cán bộ cao cấp, và là Ðảng ủy viên. Anh ta đã đặt bước chân theo đúng vết của người đi trước, mặc dù “tình yêu” của anh ta đối với chủ nghĩa cộng sản không hề suy chuyển. Anh ta được tiếng là kẻ thức thời. Kết quả là một tiến trình chậm chạp về kinh tế và quẩn quanh một cách ngớ ngẩn về tư tưởng của cả một cộng đồng. Tuy hậu quả tệ hại chỉ đến với số đông, nhưng toàn bộ trật tự và ý thức của xã hội người Việt đang bị buộc chặt vào cuộc xếp hàng tiếp nối và chờ đón một tiêu chuẩn đã được định trước mà người khác đã có. Trong cuộc chơi cố ý hay vô thức đó, sẽ xuất hiện sự kỳ thị và các đòn độc ác đối với các hiện tượng và tư duy “chệch hướng”, “chệch hàng”, trong khi thực chất, sự “phá hàng” chính là động lực phát triển của xã hội và con người xưa nay.

Ngày xưa, người Việt có câu:

“Nhất sĩ nhì nông

Hết gạo chạy nhông

Nhất nông nhì sĩ!"

Một tâm thức xếp hàng xã hội đã được biểu hiện rõ ràng. Nó cũng không che giấu tính sẵn sàng xoay đảo của một thứ đạo lý tùy cơ. Ngày nay, mặc dù đã cố gắng uyển chuyển hóa thứ tự “sĩ, công, nông, thương”, người Việt đương đại vẫn không được nhìn nhận theo năng lực cá nhân, mà là theo vị trí trong một đoàn người sau trước, dưới trên. Chúng ta vẫn chưa nhận ra rằng, mỗi con người và mỗi vị trí phải có một giá trị riêng biệt và bình đẳng trong toàn xã hội, và không phải là trong một cuộc xếp hàng.

01-2006

(C) 2006 talawas


In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè:

     http://tudovis.com/kktd/binh_luan_2/bl_dao_ly_xep_hang.htm

Người gửi:

Địa chỉ email: *


Người nhận:

Có thể gửi cho nhiều địa chỉ, nhớ bỏ dấu phẩy trước khi bắt đầu địa chỉ mới.
Địa chỉ email: *
Lời nhắn:
Quí vị có thể copy hết cái bài ở trên và bỏ vào trong hộp Lời nhắn
 
* Thông tin bắt buộc        
Note: Chi tiết bạn điền vào trang này sẽ không được dùng để gửi thư không mời, hoặc bán cho nơi khác.