Theo Dan Chim Viet - Bruce J. Dickson (Nguyễn Ước dịch) - 12-01-2006
Kinh nghiệm toàn trị tại Trung Quốc - Bài thứ hai
Lời mở đầu của người tuyển dịch
Bruce J. Dickson là phó giáo sư môn khoa
học chính trị và các sự vụ quốc tế tại Ðại học George Washington. Ông
là tác giả bảy cuốn sách về Trung Quốc, trong đó dặc biệt có
Red Capitalism in China: The Party, Private Entrepreneurs, and Prospect for Political Changes (Chủ nghĩa tư bản đỏ tại Trung Quốc: đảng, các doanh gia và viễn ảnh thay đổi chính trị, 2003) và
Democratization in China and Taiwan: The Adapbility of Leninist Parties
(Dân chủ hóa tại Trung Quốc và Ðài Loan: khả năng thích nghi của các
đảng Lênin-nít, 1997), và là biên tập viên cộng tác của tạp chí
Problems of Post-Communism (Các vấn đề thời hậu cộng sản).
Với sự nổi bật của Ðảng Cộng sản Trung Quốc (ÐCSTQ) trong Ðại hội
Thứ 16 của Ðảng này vào tháng Mười một năm 2002 bằng một ban lãnh đạo
mới và một chương trình cập nhật hóa, hệ thống chính trị đang nắm quyền
kiểm soát đó có triển vọng chính trị nào?
Giải quyết nhẹ nhàng việc chuyển giao quyền lực như vừa qua chứng tỏ
một cấp độ ổn định có tính định chế chưa từng thấy bên trong giới tinh
hoa chính trị (elites) của Trung Quốc. Và tuy hiện nay ÐCSTQ đang có
thì giờ để nhìn sự tàn lụi dần cái sức mạnh của đảng ở cơ sở hạ tầng
quần chúng, nạn nhân của nhiều trầm cảm phát sinh từ sự hội nhập tăng
theo mức lũy tiến của Ðảng cùng với một xã hội đang thay đổi lẹ làng.
Trong khi đó, các chính sách “cải cách và mở cửa” của ÐCSTQ có những hệ
quả ngoài dự tính, làm yếu thêm viễn tượng về sự tiếp tục độc quyền
chính trị của nó: vì khu vực tư nhân đang bành trướng, Ðảng không còn
kiểm soát nơi chốn nhân dân ở và làm việc; vì sự lan rộng của việc tiếp
cận internet, vô tuyến truyền hình qua vệ tinh viễn thông và truyền
thông tự chọn, Ðảng không còn kiểm soát loại thông tin nào người dân
đang có hoặc nó được phổ biến như thế nào; và vì sự kết hợp những lợi
tức sẵn có để chi tiêu rộng rãi hơn và sự giải phóng chính trị, Ðảng
không còn kiểm soát những gì dân chúng làm trong lúc nhàn rỗi. Ðể giải
quyết những hệ quả đó, Ðảng dùng một sách lược mới. Trong chừng mực
thiết yếu của sách lược đó, nó tái định hướng một cách có hiệu quả mối
quan hệ của Ðảng với xã hội Trung Quốc, và tới một mức độ nào đó, phát
sinh câu hỏi được nhiều người chia sẻ về sự sinh tồn lâu dài của một
chế độ toàn trị đang giải phóng và hiện bị khống chế bởi một đảng độc
nhất: việc thích nghi với môi trường kinh tế và xã hội mới sẽ làm mạnh
hoặc quả thật làm yếu sự tiếp tục nắm quyền lực của Ðảng?
Từ bên trong lẫn bên ngoài Trung Quốc, nhiều nhà quan sát kỳ vọng rằng
sự tiếp tục cải cách kinh tế và tư nhân hóa cùng hội nhập hệ thống quốc
tế sẽ dẫn tới những phát triển kinh tế và rồi lần lượt đẩy mạnh những
hình thức phát triển xã hội - đặc biệt sự ló dạng một xã hội dân sự, và
tối hậu, sự khởi đầu mạnh mẽ công cuộc dân chủ hóa. Ðây là một quan
điểm hấp dẫn, đặt căn bản trên những cái nhìn thấu suốt của lý thuyết
về hiện đại hóa; chúng thường bị sỉ vả nhưng vẫn được nhiều người ưa
chuộng. Tuy thế, sự thật thì phát triển xã hội và kinh tế chưa là đáp
ứng “tự nhiên” đưa dân chủ tới gần: trong khi bị liên quan tới các cấp
độ phát triển, dân chủ cũng là những diễn tiến chính trị rất cá biệt,
được thúc đẩy một cách cá biệt bởi những người làm chính trị (cả bên
trong lẫn bên ngoài chế độ). Ðảng Cộng sản Trung Quốc biết như thế nên
nó hành động để ngăn chặn những yêu cầu mang tính tổ chức đang dậy lên
từ bên ngoài đảng nhằm mục đích thay đổi chính trị.
Chiến lược của ÐCSTQ gồm hai mũi giáp công: nung đúc những quan hệ nặng
tính liên hiệp và đồng thời, bổ dụng giới tinh hoa kinh tế và kỹ
thuật.[1] Vào đầu thập niên 1980, thấy sự thành lập vô số các tổ chức
kinh tế, xã hội và chuyên gia, các quan chức của đảng hoặc chính phủ
bắt đầu khống chế các chức vụ chóp bu của nhiều tổ chức đó, cho phép
nhà nước bỏ rơi ngay tức khắc những “khát vọng chuyên chế” của nó và
duy trì sự kiểm soát có liều lượng trên các nhóm có ảnh hưởng nhất
trong xã hội.[2] Vì lý do ấy, rất ít các tổ chức đó được hưởng ngay cả
mấp mé cái cấp độ tự quản mà các kiểu mẫu có tính tiêu chuẩn hóa của
“xã hội dân sự” đòi hỏi. Có điều không tổ chức nào tìm kiếm cấp độ tự
quản ấy, vì tại Trung Quốc, tự quản thì giống như bất lực. Thay vào đó,
họ thích được nằm sâu bên trong nhà nước, không khác gì ý thích của các
tổ chức tương tự tại hầu hết các nước Ðông Á và các xứ đang phát
triển.[3]
Trong khi đó, Ðảng tuyển mộ loại chuyên gia kinh tế và kỹ thuật cần
thiết để đẩy mạnh công cuộc hiện đại hóa kinh tế. Ở đây, lý do cơ bản
tự nó có hai nếp gấp: thứ nhất, ÐCSTQ muốn được móc nối với những loại
người nó cần để thúc đẩy tăng trưởng liên tục mà vốn là nguồn gốc chủ
yếu của lời tuyên xưng đương đại của Ðảng về sự cai trị có tính chính
thống của nó. Thứ hai, ÐCSTQ muốn ngăn chặn những nỗ lực phát xuất từ
các nhóm tinh hoa mới này nhằm hoặc thành lập các nhóm của chính họ
trong vị trí đối lập với Ðảng hoặc đứng chung hàng ngũ với những kẻ đối
lập với chế độ. Loại bổ dụng này không giống với lối xây dựng đảng từ
trước tới nay của ÐCSTQ với đối tượng đảng là người dân thường - chủ
yếu là người lao động và nhà nông - và tiến hành công tác đó bằng việc
lập các tiểu tổ tại chỗ họ sinh sống và làm việc. Nhưng hiện nay, Ðảng
ngày càng đặc biệt ra sức nhấn mạnh tới những người có tài năng phát
triển kỹ thuật và doanh nghiệp: trong khi có khoảng 5% dân số tùy thuộc
vào Ðảng thì tỉ lệ đảng viên trong giới doanh gia tư nhân từ 13% năm
1993 lên tới khoảng 20% năm 2000. Ngược lại, các công nhân kỹ nghệ và
nông nghiệp hiện nay chiếm phần thiểu số trong tổng số đảng viên, họ từ
63% năm 1994 xuống còn 45% năm 2002. Ðảng cũng tạo ưu tiên để thu hút
các chuyên gia có học. Tỉ lệ đảng viên có trình độ giáo dục trung học
hoặc cấp cao hơn từ 17.8% năm 1984 lên tới 52.5% năm 2002. Và trong Ban
Chấp hành Trung ương của ÐCSTQ, tỉ lệ các ủy viên có bằng đại học hoặc
cao đẳng từ 55.5% năm 1982 lên tới 98.6% năm 2002, còn tỉ lệ của những
người có bối cảnh kỹ thuật (nghĩa là khoa học, kỹ thuật hoặc quản trị)
từ chỉ 2% năm 1982 lên tới 57% năm 1997. Cả 9 ủy viên của Ban Thường vụ
Bộ Chính trị được tuyển chọn hồi tháng Mười một năm 2002 đều là chuyên
gia khoa học kỹ thuật.
Hậu quả của những chuyển đổi này là ÐCSTQ tái định nghĩa mối quan hệ
của nó với xã hội Trung Quốc - một sự tái định nghĩa được diễn tả bằng
khẩu hiệu “Tam đại biểu - Ba đại diện”: Thay vì mô tả mình đơn giản là
người tiên phong của giai cấp vô sản, Ðảng lúc này tuyên bố đại diên
cho: 1) “các lực lượng sản xuất tiên tiến” của xã hội, nghĩa là đặc
biệt các giai cấp trung lưu thành thị càng ngày càng đông đảo, gồm các
nhà kinh doanh, các chuyên viên, các chuyên gia kỹ thuật cao; 2) sự cổ
vũ “văn hóa tiên tiến”, như đối lập với những truyền thống “phong kiến”
hoặc chủ nghĩa duy vật chất hiện đại; và 3) các quyền lợi của đại đa số
nhân dân Trung Quốc. Chính sự tái định hướng này của Ðảng, hơn bất cứ
những sắp xếp việc kế thừa được định chế hóa ở cấp thượng đỉnh, tạo ra
tiềm năng thật sự cho sự thay đổi chính trị.
Cấm hay không cấm
Cả hai sách lược ấy đều có nguy cơ: một đằng, các tổ chức mới có thể tự
triển khai bản sắc của chúng và từ khước quyền lãnh đạo của Ðảng; đằng
khác, các đảng viên mới ấy có thể đẩy Ðảng tới hướng tuyệt thông với
các thành phần cơ bản và chính thống của nó. Và quả thật, chính những
quan tâm này làm dậy lên những cuộc tranh luận hiềm khích bên trong
ÐCSTQ suốt thập niên 1980, đặc biệt về tư cách đảng viên của doanh gia.
Vào tháng Tám năm 1989 - không lâu (cũng không phải ngẫu nhiên) sau khi
chế độ buộc lòng phải đàn áp những cuộc biểu tình thân dân chủ của quần
chúng trong năm đó tại Bắc Kinh và hàng trăm thành phố khác ở Trung
Quốc - các lãnh tụ chính thống của ÐCSTQ cấm ngặt việc kết nạp doanh
gia. Lệnh này làm chậm lại sự sinh sôi nảy nở của thành phần doanh gia
trong Ðảng nhưng còn lâu lắm mới chấm dứt được sự kết nạp đó: các viên
chức Ðảng địa phương thường lơ lệnh cấm ấy, trong khi các đảng viên
hiện hành thì xói mòn nó bằng việc bản thân họ càng ngày càng đi vào
doanh nghiệp tư nhân.
Suốt thập niên 1990, tính chất thích đáng hay không của lệnh cấm ấy
được thảo luận kỹ lưỡng trên các tạp chí của ÐCSTQ. Người ủng hộ thì
ghi nhận sự mâu thuẫn giữa các biểu đồ nhân số đang thay đổi của Ðảng
và truyền thống xã hội chủ nghĩa trong việc ủng hộ các quyền lợi của
người lao động, đặc biệt của tầng lớp nông dân, chống lại những kẻ
thuộc về tư bản tư nhân, đồng thời cảnh cáo rằng số lượng ngày càng
tăng các doanh gia ở trong Ðảng đang xói mòn tính chặt chẽ của Ðảng và
thậm chí đang đe dọa sự sống còn của Ðảng. Người chống lại lệnh cấm thì
đưa lời tranh cãi thực dụng hơn. Họ tuyên bố, các doanh gia mới này sở
dĩ thành công là do bởi các chính sách của Ðảng, và không nên trừng
phạt họ vì họ làm theo chính sách của Ðảng; thêm nữa, sự thành công của
họ làm lợi cho đảng và cho đất nước bằng việc tạo ra công ăn việc làm
mới và gia tăng sự thịnh vượng chung, qua đó nâng cao tính chính thống
của chế độ; và cuối cùng, nếu các doanh gia tiếp tục bị cấm vào Ðảng
thì lúc đó họ có khả năng tổ chức chống lại Ðảng, vì các tài nguyên
kinh tế ngày càng tăng của họ sẽ chuyển đổi, một cách không tránh được,
thành sức mạnh hoặc ảnh hưởng chính trị.
Vào ngày 1 tháng Bảy năm 2001, kỷ niệm 80 năm ngày thành lập ÐCSTQ,
Tổng bí thư Giang Trạch Dân chính thức thúc giục hủy lệnh cấm đó -
nhưng ông thất bại, kể cả việc giải quyết vấn đề đó. Các sách báo xuất
bản dùng đường lối Mác-xít chính thống để phê bình kịch liệt và chỉ
trích rằng lời phát biểu ấy của họ Giang làm hại quyền lợi của ÐCSTQ,
rồi họ đi rất xa tới độ cáo buộc ông vi phạm kỷ luật Ðảng qua việc đề
nghị một sáng kiến gay cấn như thế mà không có sự xem xét cặn kẽ và
thích đáng trong nội bộ Ðảng. Giang phản ứng bằng cách đóng cửa các tạp
chí đó và như thế, bịt miệng tiếng nói công khai của chủ nghĩa Mác
chính thống của Ðảng. Trong kỳ họp quốc hội tháng Mười một năm 2002, đề
nghị kết nạp doanh gia và lý thuyết của họ Giang về “tam đại biểu” được
ghi bổ sung vào bản hiến pháp nhưng cuộc tranh luận ấy vẫn tiếp tục nơi
hậu trường. Kẻ chống lại sự bổ sung đó thì tranh cãi rằng chính sách
kinh tế mới của Trung Quốc làm chuyển thể xã hội Trung Quốc và có nguy
cơ tạo ra sức ép chính trị theo một cách thức và trên một qui mô mà sẽ
đưa sự cai trị của Ðảng tới một chung cuộc. Người ủng hộ thì phản bác
rằng việc đi theo định nghĩa mới về vai trò của Ðảng và việc mở hàng
ngũ Ðảng ra cho các quyền lợi kinh tế đa dạng của Trung Quốc đương đại
(mà trong quá khứ, nhiều đại diện của nó bị bức hại như là các “kẻ thù
của giai cấp”) sẽ giúp tăng cường chứ không làm tiêu hao quyền cai trị
của Ðảng.
Cùng lúc đó, hiện ra rõ ràng trước mắt là các tổ chức quần chúng của
Ðảng đang bị phân rã. Trong khi Ðảng có mặt ở mọi chốn lao động của nền
kinh tế qui hoạch thuở trước, thì nay rõ ràng là nó vắng mặt tại những
chốn lao động của khu vực tư nhân đang ngày càng tăng. Ðảng Cộng sản
Trung Quốc nay chỉ phát triển được cơ sở không tới 1% trong hơn một
triệu rưỡi các xí nghiệp tư nhân đang xuất hiện trên toàn xứ sở và nó
chỉ tuyển mộ được một ít đảng viên trong các lực lượng lao động. Ở nông
thôn, đất sống của 70% trong tổng số 1.3 tỉ dân số Trung Quốc, vào giữa
thập niên 1990, Ðảng tuyên bố có một nửa các tổ chức nông thôn của Ðảng
không hoạt động vì hiếm có người chịu gia nhập Ðảng. Dù Ðảng bỏ ra
nhiều nỗ lực để tái tiếp tế sinh lực cho các cơ sở của mình ở nông
thôn, những báo cáo về tình trạng èo uột của chúng và mức gia nhập thấp
vẫn tiếp tục được gởi lên trên và chuyền quanh. Người ta ước lượng có
khoảng 2,5 triệu đảng viên, hầu hết là thanh niên, đang gia nhập “dân
số nổi trôi” của đám dân thiên di tìm việc làm tại các thành phố. Như
thế, sự có mặt của Ðảng tại vùng nông thôn lại yếu ớt thêm. Ðối với hệ
thống Lênin-nít, thành tố quyết định của nó là năng lực giám sát và phê
chuẩn động thái kinh tế và xã hội; hệ thống ấy có được ổn định hay
không là tùy vào năng lực thiết yếu đó.[4] Như Samuel P. Huntington ghi
nhận, sức mạnh của bất cứ chế độ toàn trị độc đảng nào cũng tùy thuộc,
trên một qui mô lớn, vào sức mạnh của đảng cai trị. Khi đảng suy yếu
thì chế độ mất ổn định.[5]
Liên hiệp chủ nghĩa và bổ dụng, hai sách lược song sinh của ÐCSTQ có thể nói là tương tự với hai thành tố
gom vào và loại trừ của chủ nghĩa liên hiệp của nhà nước
mà Alfred Stephan nhận ra: ÐCSTQ muốn gom vào nó những người nào thuộc
giới tinh hoa về kinh tế và kỹ thuật mà không đe dọa nó bằng một nghị
trình chính trị khác, đồng thời nó muốn loại trừ những người nào có khả
năng đe dọa nó; Ðảng muốn gom vào nó các phần tử nào, các mảng nào của
xã hội dân sự đang xuất hiện mà kinh tế là quyền lợi chủ yếu của chúng
không thành vấn đề đối với Ðảng; cùng lúc đó, Ðảng loại trừ và thỉnh
thoảng đàn áp các phần tử thích tranh luận chính trị và có nhiều khả
năng tạo ra thách đố cho Ðảng, thí dụ, Ðảng Dân chủ Trung Quốc hoặc
Pháp Luân Công, một tập đoàn gần như có tính cách tôn giáo và hấp dẫn
quần chúng. Như Michael W. Foley và Bob Edward ghi nhận, nếu một xã hội
dân sự đầy khí lực là thiết yếu cho các nền dân chủ ổn định thì nó lại
có khuynh hướng tạo thành nguy cơ lớn lao cho các chế độ toàn trị.[6]
Ðảng Cộng sản Trung Quốc nhận thức rất rõ sự dị biệt giữa lãnh vực kinh
tế bên trong xã hội dân sự của Trung Quốc, một lãnh vực mà quyền lợi
của nó tương hợp với quyền lợi của Ðảng, với lãnh vực chính trị nhỏ hơn
mà nguy hiểm hơn đang tiềm tàng sự thách đố.[7] Sách lược mà ÐCSTQ vạch
ra là ôm chặt lãnh vực kinh tế, trấn áp lãnh vực chính trị, và ngăn
chặn sự ly khai chống lại Ðảng của giới tinh hoa kỹ thuật và kinh tế.
Như kẻ đánh bạc liều lĩnh, Ðảng cho rằng sách lược ấy là đúng đắn và có
thể thực hiện lâu dài, nhưng như Ken Jowittt đã cảnh cáo, rằng chính
giai đoạn gom vào này có thể là bước đi trước làm tuyệt chủng, một cách
giản dị, các đảng Lênin-nít hơn là ngăn chặn sự tuyệt chủng đó.[8]
Cái gì đang lâm nguy
Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đang héo hon vì những đe dọa đối với sự ổn
định của hệ thống của họ. Thật không dễ thấy sự mỏng manh của ÐCSTQ vì
từ năm 1989 tới nay, nó không phải đối mặt với một thách đố trực tiếp
nào trong lúc phải xoay xở để sống sót với những phí tổn cực lớn cho uy
tín của nó ở bên trong Trung Quốc và tiếng tăm của nó ở hải ngoại. Kể
từ lúc đó, những người phản kháng cũng thận trọng để sống sót dưới hình
thức tổ chức lỏng lẻo và không liên kết nhau, đồng thời tránh việc chất
vấn về căn bản chính thống của hệ thống chính trị của chế độ hiện hành.
Nhưng bất chấp những thận trọng đó, sự phản kháng đang ngày càng tăng
trên khắp xứ sở, ở cả thành thị lẫn nông thôn.[9] Hầu hết những sự cố
ấy đều liên quan tới các vấn đề cơ bản: tiền lương không trả, hợp đồng
bị cắt ngang, tịch thu tài sản, đánh thuế phi pháp, các giấy hẹn thay
cho tiền mặt dùng chi trả các hợp đồng cung cấp lúa gạo và các loại
thực phẩm khác, và vân vân. Ðảng Cộng sản Trung Quốc đối phó lại bằng
một hỗn hợp củ cà rốt và cây gậy, vừa đáp ứng các yêu cầu về tiền bạc
của những người phản kháng, vùa bắt bỏ tù những kẻ đứng đầu các cuộc
phản kháng.
Một cách kiên quyết và thỉnh thoảng tàn nhẫn, Ðảng bảo vệ sự độc quyền
của nó đối với các hội đoàn có tính chính trị. Thậm chí một phong trào
cực kỳ vô hại như phong trào khuyến khích sinh viên bảo vệ môi sinh
bằng cách đừng dùng loại đũa chỉ dùng một lần, cũng đã cẩn thận không
tự tổ chức mình, vì sợ bị đánh giá là một nhóm có tiềm năng đối lập và
rồi những người đứng đầu phong trào có nguy cơ bị đuổi học hoặc thậm
chí bị bỏ tù. Sự vắng mặt các cuộc phản kháng có qui mô lớn sau một
thập niên có những gương mẫu đặc biệt - từ Bức tường Dân chủ năm
1978-79 tới những cuộc phản kháng của đại chúng tại Quảng trường Thiên
An Môn năm 1989 - không thể được đánh giá một cách đáng tin cậy là dân
chúng đang mãn nguyện, nhưng đó chỉ là phản ứng “có lý trí” trước một
chế độ từng chứng tỏ nó “máu lạnh” tới ngần nào trong ý chí trấn áp và
khả năng trấn áp những ai đòi đỏi thay đổi chính trị sâu rộng hơn.[10]
Dù chế độ ra sức đặt căn bản tính chính thống của nó trên sự phát triển
kinh tế, nhưng đi kèm với phát triển kinh tế là sự gia tăng của tham
nhũng và bất bình đẳng, mĩa mai thay, cùng lúc, đã và đang xói mòn tính
chính thống. Có điều tự thân sự ủng hộ yếu ớt mà nhân dân đang dành cho
Ðảng không đe dọa nền cai trị của Ðảng. Như Adam Przeworski tranh cãi
rằng: Sự chú ý mà người ta dành cho “tính chính thống” của một chế độ
thường bị đặt sai chỗ: cái quan trọng hơn (sự ủng hộ của nhân dân) là
sự thiếu vắng cái có khả năng thay thế có hiệu quả.[11] Và ÐCSTQ thành
công trong việc ngăn chặn cái có khả năng thay thế nó. Nó bằng lòng
chấp nhận con số ngày càng tăng những cuộc biểu tình rời rạc, trong
chừng mực chúng đừng hiệp nhất hoặc tổ chức thành nhóm quyền lợi xã hội
có thể hoạt động lâu dài. Ðiều ấy cho phép Ðảng tiếp tục đàn hồi, khi
co khi giản, trong việc tối thiểu hóa nhu cầu thích nghi về chính trị.
Nhưng nó cũng có ý nghĩa rằng không có một lực lượng xã hội tự quản và
chặt chẽ mà khi lâm vào thời kỳ khủng hoảng, Ðảng có thể thương thảo
với nó để hoặc đưa tới một giải pháp êm thắm hoặc một sự chuyển tiếp
được “thỏa ước” rất đổi khó khăn.
Thay đổi chính trị và xã hội đang diễn ra tại Trung Quốc có những hệ
quả chính trị nào? Suốt kỷ nguyên sau Mao, nhiều người quan sát ghi
nhận sự bất tương hợp của các định chế Lênin-nít và nền kinh tế thị
trường đang tăng trưởng; họ tiên liệu rằng tới một lúc nào đó, các hệ
thống chính trị và kinh tế ấy sẽ đưa tới một hòa điệu căn bản, có thể
bằng cải cách có tính dân chủ hơn là bằng sự khôi phục việc qui hoạch
có tính tập trung. Cho tới lúc này, ÐCSTQ đang gây trở ngại cho các kỳ
vọng đó và sự bất tương hợp ấy vẫn còn. Dù vậy, nhiều người quan sát
vẫn tiếp tục mường tượng rằng công cuộc chuyển thể Trung Quốc thành một
thực thể dồi dào sinh lực với tiềm năng thương mại lớn lao cuối cùng sẽ
đưa tới sự chuyển tiếp dân chủ tương đối êm thắm.[12] Nhưng không phải
ai cũng lạc quan như thế. Những khủng hoảng kinh tế và tài chánh đang
hiện ra lờ mờ ở Trung Quốc khiến một số người tiên đoán sự sụp đổ của
chính quyền Trung Quốc, dù trong số những người ấy chẳng ai có tham
vọng tiên đoán sự sụp đổ ấy sẽ xảy ra vào thời điểm nào hoặc sau sự sụp
đổ sẽ là cái gì.[13]
Cả hai viễn ảnh kể trên đều bỏ sót các khía cạnh quan trọng của toàn
cảnh. Người tin rằng sự chuyển thể chế độ của Trung Quốc đi liền với,
một cách không tránh được, sự hiện đại hóa kinh tế, đã không để ý tới
vấn đề tác nhân trung gian - nghĩa là vấn đề ai sẽ lãnh đạo cuộc chuyển
thể và nó sẽ cho cuộc chuyển thể đó một hình thù như thế nào; trong bối
cảnh toàn trị, sự dân chủ hóa là kết quả không thể tránh của sự tăng
trưởng kinh tế hơn là hậu quả hành động của các lãnh tụ chính trị bên
trong chế độ và các lực lượng dân chủ bên ngoài xã hội nói chung. Hầu
hết các doanh gia tư nhân và giới tinh hoa kỹ thuật của Trung Quốc đều
cho thấy họ ít quan tâm tới việc cổ vũ cho dân chủ hóa. Cộng đồng của
những người bất đồng chính kiến tại Trung Quốc đã và đang bị Ðảng xói
mòn rất hiệu quả bằng cách bỏ tù hoặc trục xuất ra nước ngoài những
lãnh tụ nổi tiếng nhất; trong khi đó, giữa các lãnh tụ ấy lại có xung
khắc cá nhân và không tín nhiệm nhau - đặc biệt giữa những người sống
lưu vong - gây trở ngại cho một sự hợp tác có hiệu quả hoặc tuyên
truyền một thông điệp hợp nhất.
Xét theo chuỗi tình huống ấy thì thật khó xác định một trung gian nào
có khả năng làm tác nhân cho công cuộc đổi thay chính trị có tính dân
chủ. Mặt khác, người tiên đoán sự sụp đổ của chế độ cộng sản thì không
để ý tới những tài nguyên chính trị mà Ðảng hiện có: các tổ chức có
tính chính trị, nghĩa là sự tiếp tục vắng mặt của tổ chức đối lập, và
sự tiếp tục chấp nhận ÐCSTQ của hầu hết nhân dân Trung Quốc như một
loại hình sinh hoạt chính trị độc nhất hiện có trong nước. Cùng lúc ấy,
Ðảng tiếp tục là nguồn bảo trợ chủ yếu cho công ăn việc làm và các cơ
hội kinh doanh. Ðảng cũng đang tự quấn quanh thân nó lá quốc kỳ Trung
Quốc giữa lúc lòng yêu nước đang gia tăng, biến sự phê bình Ðảng thành
một hành động trông có vẻ không ái quốc. Thêm nữa, Ðảng làm cho quần
chúng nản lòng ủng hộ sự đổi thay chính trị bằng sự nơm nớp sợ hãi rằng
sẽ có tình trạng bất ổn đi liền với công cuộc dân chủ hóa. Và nhiều
người tại Trung Quốc chấp nhận lời tuyên bố của ÐCSTQ rằng chế độ dân
chủ thì không thích hợp với nền văn hóa Trung Quốc, vì thế, làm giảm
thiểu thêm nữa cái sức ép buộc Ðảng phải cam kết cải cách chính trị sâu
rộng hơn.
Loay hoay mày mò mãi
Trong các điều kiện ấy, kịch bản có khả năng xảy ra nhất về một tương
lai có thể thấy trước là ÐCSTQ loay hoay mãi với sách lược thích nghi
có giới hạn của nó, liên hiệp các quyền lợi mới trong khi đề kháng sức
ép của khát vọng thay đổi chính trị. Ðây không chỉ là kịch bản có khả
năng xảy ra nhất mà còn là kịch bản tốt lành nhất đối với ÐCSTQ, vì
những đổi thay đang diễn ra về xã hội và chính trị có khuynh hướng làm
tiêu hao hơn là làm vững mạnh địa vị đảng cai trị của nó. Có khả năng
xảy ra là sự tăng trưởng kinh tế và tư nhân hóa sẽ làm Ðảng suy yếu qua
sự tiếp tục băng hoại của các tổ chức quần chúng của Ðảng và sự tiếp
tục suy yếu khả năng của Ðảng trong việc giám sát và kiểm soát các
khuynh hướng xã hội đang chiếm ưu thế.
Trong khi Trung Quốc đang kinh qua cải cách chính trị nhiều hơn các nhà
quan sát thừa nhận,[14] thì sự qui hoạch cải cách đó làm cho hệ thống
toàn trị hoạt động hữu hiệu hơn chứ không làm cho nó đáp ứng hơn sức ép
đòi thay đổi của xã hội. Cùng lúc đó, không thể chối cãi rằng các sức
ép ấy đang gia tăng. Câu hỏi là liệu ÐCSTQ có thể điều tiết chúng trong
khuôn khổ Lênin-nít thiếu yếu của nó hay không. Và căn cứ vào lịch sử
của ÐCSTQ và kinh nghiệm của các đảng Lênin-nít khác, câu trả lời có
khả năng là không. Trước hết, chủ nghĩa Lênin bất tương hơp với sự xuất
hiện một xã hội dân sự chính cống; khát vọng chủ yếu của các đảng ấy là
nhấn mạnh lên đường dọc của quyền lực và ngăn chặn các loại dây liên
kết hàng ngang của các tổ chức tự trị vốn là nền tảng của xã hội dân
sự. Thứ đến, Trung Quốc thiếu các định chế có khả năng làm kênh vận
chuyển sự tham gia chính trị mà yêu cầu mỗi ngày một tích cực hơn.
Chính xác là vì ÐCSTQ quá hữu hiệu trong việc bảo vệ độc quyền chính
trị của nó và việc trấn áp thật sự các tổ chức tự quản nên sự phản
kháng của quần chúng có khuynh hướng leo thang, và tới khi xảy ra thì
nó vượt quá tầm kiểm soát. Hễ lúc nào ÐCSTQ tỏ vẻ đang cân nhắc hoặc
đang khích lệ cải cách chính trị thì lúc đó, các biến cố xảy ra trầm
trọng thêm từng ngày cho tới khi lãnh đạo Ðảng cảm thấy bị thúc ép phải
ra tay đàn áp các phong trào cá biệt của quần chúng đang tạo sức ép đòi
cải cách. Ðiều này rất đúng với thời kỳ Bức tường Dân chủ năm 1978-79,
với những thử nghiệm các cuộc bầu cử địa phương đầu thập niên 1980, với
những cuộc biểu tình của sinh viên năm 1986-87, và thêm lần nữa, với
thời kỳ có những cuộc biểu tình tại Quảng trường Thiên An Môn và những
nơi khác năm 1989. Ngày nay, bất chấp thực tế đang diễn ra sự giải
phóng, các nhà lãnh đạo Trung Quốc miễn cưỡng thảo luận công khai về
khả năng có sự cải tổ chính trị được bảo trợ một cách chính thức vì họ
sợ mình sẽ thêm lần nữa mở chiếc cửa ngăn không cho lũ lụt tràn vào.
Như thế, ÐCSTQ bị thúc ép bởi các hành động của nó trong quá khứ và đặc
biệt bởi các quyết định của nó nhằm trấn áp sự phản kháng chính trị có
tổ chức và nhằm ngăn chặn sự hình thành các tổ chức tự quản. Lãnh đạo
Ðảng biết điều đó, và họ cẩn thận phối trí những chuẩn bị việc kế thừa,
thiết kế các sách lược về chủ nghĩa liên hiệp có giới hạn và về bổ dụng
để làm nản lòng những ai đang nuôi hy vọng rằng có khả năng sớm xảy ra
một cuộc cải tổ chính trị nào đó. Một số nhà lãnh đạo toàn trị, bằng
những thiết kế khác, đã đánh giá quá cao sự ủng hộ của quần chúng, với
niềm tin rằng mình sẽ sống sót và khởi sắc.[15] Nhưng không có vẻ như
giới lãnh đạo của ÐCSTQ sẽ có một quyết định sai lầm chiến thuật như
thế.
Hệ quả là các viễn ảnh về một nền dân chủ tại Trung Quốc thì liên quan
trực tiếp tới chính số phận của ÐCSTQ. Có vẻ như Trung Quốc không kinh
qua sự dân chủ hóa cùng với sự liên tục của chế độ như Ðài Loan và
Mêhicô đã làm.[16] Nghĩa là, cho dù ÐCSTQ có thể sống sót dưới một hình
thức nào đó sau cuộc chuyển tiếp, và cho dù nhiều quan chức của Ðảng có
thể ở lại một cách tích cực trong một chế độ hậu công sản - như trường
hợp nhiều chính phủ ở Ðông Âu và cựu Liên Xô - nếu đất nước Trung Quốc
có trở thành dân chủ thì cốt yếu nằm ở chỗ ÐCSTQ phải chi trả phí tổn
cho cuộc chuyển tiếp đó. Chỉ sự suy thoái của ÐCSTQ mà thôi thì không
đặt được quá trình tiến tới dân chủ cho bất cứ tương lai hậu cộng sản
nào. Nhiều nơi ở châu Á đang có “nền dân chủ hẹp hòi”, và một nền dân
chủ được củng cố đầy đủ thì hầu như không là tiêu chuẩn trong phần còn
lại của thế giới hậu cộng sản.[17] Như hết thảy chúng ta đều thoáng
thấy trong nhiều trường hợp, sự kết liễu của chủ nghĩa cộng sản không
bảo đảm cho sự bắt đầu một chế độ dân chủ.
Chú thích:
[1] Xem: Ken Jowitt, New World Disorder: The Leninist Extinction (Vô
trật tự thế giới mới: sự tuyệt chủng của những người theo thuyết
Lê-nin), Berkeley: University of California Press, 1992, 88-120. Cũng
xem cuốn của tôi: Red Capitalists in China: The Party, Private
Entrepreneurs, and Prospects for Political Change, New York: Cambridge
Univerity Press, 2003.
[2] Xem: Gordon White, Jude Howell và Shang Xiaoyuan, In Search of
Civil Society: Market Reform and Social Change in Contemporary China
(Ði tìm xã hội dân sự: Cải cách có tính thị trường và thay đổi xã hội
tại Trung Quốc đương đại), Oxford: Oxford University Press, 1996; Mixin
Pen, “Chinese Civic Assosiation: An Empirial Analysis,” Modern China
24: (“Hội đoàn công dân tại Trung Quốc: một phân tích theo kinh
nghiệm,” Tạp chí Trung Quốc hiện đại số 24, tháng Bảy 1998), 285- 318;
Tony Saich, “Negotiating the State: The Development of Social
Organizations in China,” China Quartely 03.2000 (Thương thảo với nhà
nước: sự phát triển các tổ chức xã hội tại Trung Quốc,” Trung Quốc Quí
San tháng Ba 2000), 124-41.
[3] Xem: Peter Evans, Embedded Autonomy: States and Industrial
Transformation (Sự tự quản bị giữ riết: Nhà nước và sự chuyển thể kỹ
nghệ), Princeton: Princeton University Press, 1995.
[4] Andrew G. Walder, “The Decline of Communist Power: Elements of a
Theory of Institutional Change”, Theory and Society 23 (“Sự sa sút của
quyền lực Cộng sản: các yếu tố lý thuyết về thay đổi định chế,” Tạp chí
Lý thuyết và Xã hội số 23, tháng Tư 1994), 297-323.
[5] Samuel P. Huntington, “Social and Institutional Dynamics of
One-Party Systems” (Các động lực có tính xã hội và định chế của các hệ
thống độc đảng), trong: Samuel P. Huntington và Clement H. Moore (biên
tập), Authoritarian Politics in Modern Society: The Dynamics of
Established One-Party System (Sinh hoạt toàn trị trong xã hội hiện đại:
Các hệ thống độc đảng đã được thiết lập), New York: Basic Books, 1970,
9.
[6] Michael W. Foley và Bob Edwards, “The Paradox of Civil Society”,
Journal of Democracy 7 (“Nghịch lý của xã hội dân sự”, Tạp chí Dân chủ
số 7, Tháng Bảy 1996), 38-52.
[7] Yanqi Tong, “State, Society, and Political Change in China and
Hungary,” Comparatives Politics 26 (“Nhà nước, xã hội và thay đổi chính
trị tại Trung Quốc và Hungary,” Tập san Chính trị học đối chiếu số 26,
tháng Tư 1994); White, Howell và Shang, In Search of Civil Society.
[8] Ken Jowitt, New World Disorder.
[9] Elizabeth J. Perry và Mark Selden (biên tập), Chinese Society:
Change, Conflict, and Resistance (Xã hội Trung Quốc: thay đổi, xung
khắc và đề kháng), New York: Routledge, 2000; Thomas Bernstein và
Xiaobo Lu, Taxation without Representation in Contemporary Rural China
(Ðánh thuế mà không có tiêu biểu tại nông thôn Trung Quốc đương đại),
New York: Cambridge University Press, sắp xuất bản.
[10] Timur Kuran, “Now Out of Never: The Element of Surprise in the
East European Revolution of 1989", World Politics 44 (Ngày nay tưởng
chẳng bao giờ: yếu tố ngạc nhiên trong cuộc cách mạng Ðông Âu năm
1989,” Tạp chí Chính trị thế giới số 44, tháng Mười một 1991, 7-48.
[11] Adam Przeworski, “Some Problems in the Transition to Democracy”
(Một số vấn đề trong cuộc chuyển tiếp tới dân chủ), trong: Guillermo
O’Donnell, Philippe C. Schitter, and Laurence Whitehead (biên tập),
Transitions from Authoritarian Rule, Vol. 3: Comparative Perspectives
(Các cuộc chuyển tiếp từ nền cai trị toàn trị, Cuốn 3: Ðối chiếu các
viễn cảnh) Baltimore: Johns Hopkins University Press, 1986.
[12] Henry S. Rowen, “The Short March: China’s Road to Democracy”,
National Interest Fall 1996 (“Cuộc di hành ngắn ngủi: đường tới dân chủ
của Trung Quốc”, tập san Quyền lợi quốc gia, số Mùa thu 1996), 61-70;
Shaohua Hu, Explaining Chinese Democratization (Cắt nghĩa sự dân chủ
hóa Trung Quốc), Westport, Conn.: Praeger, 2000; David Sheff, China
Dawn: The Story of a Technology and Business Revolution (Bình minh ở
Trung Quốc: Câu chuyện cuộc cách mạng kỹ thuật và doanh nghiệp), New
York: Harper Business, 2002.
[13] Gordon G. Chang, The Coming Collapse of China (Sự sụp đổ đang tới của Trung Quốc), New York: Random House, 2001.
[14] Ðể có thêm chi tiết giải thích về các điểm này, xem: Minxin Pei,
“Is China Democratizing?” Foreign Affairs 77 (“Có phải Trung Quốc đang
dân chủ hóa?”, Tạp chí Các sự vụ quốc ngoại, số 77, tháng Giêng - tháng
Hai 1998), 68-82. Pei ít lạc quan khi nhìn tiếp vào những viễn cảnh của
cuộc cải tổ chính trị tại Trung Quốc; xem: “China’s Governance Crisis,”
Foreign Affairs 81 (“Khủng hoảng cai trị tại Trung Quốc”, Tạp chí Các
sự vụ quốc ngoại số 81, tháng Chín - tháng Mười 2002), 96-109.
[15] Guillermo O’Donnell và Philippe C. Schmitter, Transitions from
Authoritarian Rule: Tentative Conclusions about Uncertain Democraties
(Những chuyển tiếp từ nền cai trị toàn trị: Các kết luận chưa dứt khoát
về các nền dân chủ bất định), Baltimore: Johns Hopkins University
Press, 1986, đặc biệt chương 6; Samuel P. Huntington, The Third Wave:
Democratization in the Late Twentieth Century (Ðợt sóng dân chủ hóa thứ
ba trong cuối thế kỷ hai mươi), Norman: University of Oklahoma Press,
1991, 174-78.
[16]Tôi giải thích tỉ mỉ về biện luận này trong Democratization in
China and Taiwan: The Adaptability of Leninist Parties, Oxford: Oxford
University Press, 1997; và “Taiwan’s Democratization: What Lessons for
China?” (“Cuộc dân chủ hóa của Ðài Loan: Bài học nào cho Trung Quốc?”)
trong: Muthiah Alagappa (biên tập), Taiwan’s Presidential Politics:
Democratization and Cross-strait Relations in the Twenty-first Century
(Hoạt động chính trị bầu cử tổng thống tại Ðài Loan: dân chủ hóa và
những quan hệ giao lưu đôi bờ trong thế kỷ hai mươi mốt), Armonk, N.Y.:
M.E. Sharpe, 2001.
[17] Michael MacFaul, “The Fourth Wave of Democracy and Dictatorship:
Noncooperative Transitions in the Post-Communist World,” World Politics
54 (“Ðợt sóng thứ tư của dân chủ và độc tài: những cuộc chuyển tiếp bất
liên hiệp trong thế giới hậu cộng sản,” Tập san Chính trị thế giới số
54, Tháng Giêng 2002), 212-44.
DCVOnline: Xin đón đọc loạt bài Kinh nghiệm toàn trị tại Trung Quốc trên DCVOnline trong những ngày tới
11-1-2006: Những giới hạn co giãn của toàn trị
12-1-2006: Ðe dọa quyền tối thượng của Ðảng
13-1-2006: Những vấn đề yếu ớt của nhà nước
14-1-2006: Sự bất bình đẳng mới
15-1-2006: Ổn định như núi lửa đang sôi
16-1-2006: Thức giấc cùng Trung Quốc