Theo Dan Chim Viet - Lý Đợi - 24-01-2006
Ngày
tết, thị trường khách du lịch nội địa Việt Nam nóng lên, vì sau một năm
bận rộn, đầu tắt mặt tối... một bộ phận nhỏ người dân cũng tự cho phép
mình vui chơi như những người sung túc thực sự. Và Mỹ Sơn cũng là một
điểm đến, thu hút khá nhiều khách trong và ngoài nước. Nhưng thực tế,
nó còn gì để xem, nó đã phản bội và đánh lừa du khách như thế nào, chắc
nhiều người cũng muốn biết.
Cái khó khi viết về du lịch nội địa Việt Nam thì muôn vàn; bởi thực tế,
nếu bất cứ ai đã tham gia tối thiểu một ngày-một đêm vào cái chỉnh thể
du lịch ấy thì cũng thấy hàng ngàn thứ bất cập. Nhưng tôi không đề cập
vào những cái khó chi li, thuộc chuyện bên ngoài, và nằm trong mối quan
hệ giữa dịch vụ du lịch và khách hàng du lịch. Cái bên trong tôi muốn
nói, tựu trung lại có 3 cái khó: Thứ nhất, đến từ cơ chế quản lý của
nhà nước, quan niệm và cung cấp đối xử, làm việc với du lịch còn quá sơ
sài, lạc hậu, thậm chí ấu trĩ… nên ngăn trở sự phát triển. Thứ hai, đến
từ chính những người khai thác du lịch, quan niệm về mối quan hệ với
khách hàng còn rất nhiều quan liêu, xem như chủ tớ, thậm chí ban phát
ân huệ; và hiểu biết của họ về văn hoá, địa lý, lịch sử… thì quá yếu
kém nên các cảnh quang, địa điểm du lịch bị phá huỷ, hư hỏng nặng nề.
Thứ ba, đây là điều thảm hại nhất, lại đến từ chính những khách hàng,
họ cứ xem địa điểm du lịch như là một cái chợ trời, bỏ vài hào tiền lẻ
ra là mặc sức phá phách, lấy cắp và phóng uế bừa bãi; điều này ban đầu
chỉ đến với khách nội địa, sau lan sang cả khách Việt kiều và nước
ngoài, những người vốn có tiền nhiều hơn, muốn chứng minh sự hiện diện
của mình ghê gớm và dữ dội hơn…
Để diễn giải về 3 cái khó này, thiết nghĩ cũng không khó và không còn
cần thiết nữa, bởi lâu nay, rải rác trên các báo đài trong và ngoài
nước đã đề cập nhiều lần; và cũng đã không thiếu những chi tiết được
dẫn chứng, những sự việc được phân tích. Đó là nói về tính nóng của
thông tin báo chí, còn về tính thực tiễn của vấn đề, nhắc lại những
điều này [một cách giẫm chân tại chỗ] cũng không có ích gì. Việc của
những người còn quan tâm, nhận diện và phân tích du lịch nội địa Việt
Nam phải làm là gọi tên được hiện trạng của vấn đề, phải nhìn ngắm nó
trong một viễn cảnh đang và sẽ xảy ra. Làm được điều này, thì tự nhiên
các cái khó bị dồn chân vào mép tường, được phán xét và thay đổi, hay
bị triệt tiêu nhanh chóng hơn.
Và vì vậy, cái dễ khi viết về du lịch nội địa Việt Nam cũng là ở điểm
này: đụng vào vấn đề nào, nắm lấy chuyện gì, phân tích chi tiết ra sao…
cũng được; vì giống như một mảnh đất khai hoang đã lâu nhưng chưa cày
cấy, trồng trọt. Bất cứ cái gì hay điểm nhìn nào với du lịch nội địa
Việt Nam cũng là thoả đáng và cần thiết. Bởi tất cả còn trong giai đoạn
chưa bắt đầu, tươi nguyên và bề bộn nhiều thứ. Trong bài viết ngắn, mà
tôi xem là những điều tản mạn này, tôi sẽ tập trung đề cập 2 vấn đề:
Một, về kỳ quan du lịch Mỹ Sơn. Hai, về quan niệm du lịch 3S hay 4S của
Việt Nam.
1.
Việt
Nam chưa có được chục kỳ quan thuộc di sản thế giới, thì 2 trong số ấy
nằm trong tỉnh nghèo Quảng Nam, một tỷ lệ rất cao và rất đặc biệt so
với 64 tỉnh thành còn lại. Mỹ Sơn, và Hội An [giống như cố đô Huế] là
kỳ quan thuộc về con người, do con người tạo ra. Nghĩa là không có tính
hên-xui-may-rủi của địa lý trong chuyện này, rủi chăng là do chiến
tranh liên miên, do chế độ độc tài xem thường di sản cha ông, xem
thường du lịch-dịch vụ nên khiến cho lụi tàn nhanh chóng mà thôi.
Về mặt lịch sử và địa lý, Mỹ Sơn nằm ở một ví trí gần như là trung tâm
của đất nước; nơi đây là chứng tích của một thời đại huy hoàng, thánh
địa của người Chămpa, mà bước chân thiên di của họ vào tận Khánh Hoà,
Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa Vũng Tàu… và xa hơn nữa. Điều này là một
sức hấp dẫn với các khách du lịch văn hoá, vì không bị tính đứt quãng
trên đường đi thăm quan, tìm hiểu. Mỹ Sơn cũng là chứng tích cho ý đồ
quảng nam [mở rộng về phương Nam] của cư dân miền Bắc, điều đã diễn ra
trước cả thời Lý -Trần và đến tận cả ngày nay, năm 2005. Đi du lịch Mỹ
Sơn cũng có nghĩa là đi du lịch Hội An [một sự liên đới], Huế và động
Phong Nha... kế cận bên nhau. Chưa nói, với những người có am hiểu và
sành điệu, thì khi đến Quảng Nam rồi, ai lại chỉ đi 2 kỳ quan, bởi suối
Tiên ở Quế Sơn, đập nước Phú Ninh, suối Mơ ở Đại Lộc, vườn trái cây Đại
Bường, suối Đá, Bà Nà, Ngũ Hành Sơn ở Đà Nẵng… cùng với biển Non Nước,
Cửa Đợi, Hà Mi, Bàn Thạch… cũng có sức hấp dẫn của nó. Rồi cả chuyện
bơi thuyền sông Thu lên Hòn Kẽm Đá Dừng, ăn trái Lòn Bon, dạo chơi các
làng nghề, ăn đặc sản… cũng đủ thứ để chọn lựa. Đó là nói về chuyện nội
tại, chứ nhìn từ tổng quan của du lịch đất nước, thì Mỹ Sơn cũng giống
như phần Nhã Ca [Diễm Ca] tươi mát trong Kinh Thánh, nằm gần chính
giữa, giúp người đọc-người thưởng lãm dừng chân thư giãn.
Sau
khi xuống sân bay Tân Sơn Nhất, lòng vòng Sài Gòn và các tỉnh lân cận,
đi một quãng đường cũng khá dài [khoảng 1000km] thì đến nơi đây, sau đó
đi các tỉnh lân cận, rồi cũng một quãng tương tự nữa thì đến Hà Nội, đi
loanh quanh, ra sân bay Nội Bài, vào Sài Gòn hoặc rời khỏi Việt Nam,
cũng được… Phải nói là các kỳ quan phân bổ cũng khá hợp lý, miền Nam
nhộn nhịp, nhiều sức sống thì không cần có kỳ quan, khách vẫn đến, miền
Trung khô cằn, bảo thủ thì cần nhiều kỳ quan hơn, nó cũng là cách để
nối miền Nam trẻ trung, năng động với miền Bắc già nua, ấu trĩ…; đó
cũng là cách để miền Trung nhà quê có thể ngồi chung bàn với hai đồng
liêu, một là gã độc tài, một là tên tư bản.
Thế nhưng, Mỹ Sơn đã thực sự còn lại gì, đã làm gì để xứng đáng với tầm
vóc và ý nghĩa của mình. Về mặt tâm linh, có thể nói ngay, Mỹ Sơn coi
như vứt đi. Tại sao thế? Bởi theo nhiều nhà nghiên cứu tâm linh, sở dĩ
vương quốc Chămpa đang hùng mạnh như thế, bỗng chốc thành suy tàn là do
Cao Biền [nhà Đại Đường] đã yểm một lá bùa phong-bế [phong toả & bế
quan] vào sau lưng núi Quắp, phá đi thế "hổ ngồi" của đất thánh địa,
khiến đất "rồng cuộn" phải bay lên, Đại Việt hết rơi vào thế "chó cùng
thúc giậu", Trung Hoa dễ bề thôn tính đất đai và xâm lược, vì có phương
Nam để Đại Việt lui về. Dù chuyện này, sử Việt Nam không còn lại gì
nhiều nên có phần tranh chấp, và cho dù chúng ta không chấp nê vào
chuyện này, nhưng khi nói về tâm linh [nghĩa là có tin vào tâm linh]
thì Mỹ Sơn ngày trước, đã một lần bị tổn thương nặng nề. Lần thứ 2 là
việc những bức tượng, phù điêu bị đục đẽo, cưa cắt để chuyển ra Cổ Viện
Chàm tại Đà Nẵng. Lần thứ 3 [năm 2005] là việc xây dựng Nhà trưng bày
Nhật Bản ngay cổng vào Mỹ Sơn, bên Khe Sẻ, và chuyển hết phần tượng,
cột đá và phù điêu còn lại vào để trong ấy. Nói như vậy là đã bỏ qua
những năm tháng chiến tranh Việt-Mỹ với bao nhiêu bom đạn đã trút
xuống; bỏ qua sự thờ ơ, lòng tham và cả sự huỷ diệt của con người, thời
gian. Để có thể nói việc làm của Cao Biền là tội đồ của một dân tộc này
với một dân tộc-một quốc gia khác, thời trung cổ, chuyện muôn đời, rất
khó tránh khỏi. Còn hai việc làm sau, là biểu hiện của một sự xuống cấp
trong nhận thức, trong tư tưởng, trong quan niệm, có thể nói là kết quả
của một hành động phản động và dốt nát thời hiện đại.
Mỹ
Sơn sở dĩ trở thành Mỹ Sơn, là vì ở đó nó có cấu trúc độc đáo về văn
hoá, tâm linh, kiến trúc, điêu khắc và nghệ thuật… và cả bối cảnh tự
nhiên đặc biệt. Tâm linh và văn hoá đã mất từ lâu, nay kiến trúc thì
còn một vài đống gạch, điêu khắc và phù điêu thì chui vào những nơi
nhảm nhí như các địa điểm kể trên và bán ra nước ngoài. Nếu bảo tàng và
các bộ sưu tập mà có thể thay thế được quang cảnh thật của một khu đền
tháp, một thánh địa thì UNESCO công nhận di sản tại xã Duy Phú, huyện
Duy Xuyên, Quảng Nam để làm gì; khách du lịch tìm đến nơi đây để làm
gì. Tại Pháp, vẫn có thể xem qua bảo tàng, Internet hoặc tivi cũng được
vậy.
Tình trạng này không chỉ diễn ra với Mỹ Sơn mà còn với tất cả các di
sản còn lại tại Việt Nam; Chỉ riêng Hội An là ít thê thảm, bởi ở đây kỳ
quan chính là cuộc sống, văn hoá, cách sinh hoạt của người dân, chẳng
lẽ phải di cư hay giết hết dân để chiếm di sản làm của riêng, cho vào
các bộ sưu tập và bảo tàng. Nếu làm được, tôi e rằng, Hội An cũng đã
không tránh khỏi điều này. Tôi cho rằng việc biến di sản lịch sử, di
sản công cộng thành của sở hữu cho một cơ quan, một tổ chức hay cho cả
tư nhân là hành động của những kẻ hoạn quan và bệnh hoạn, không sử dụng
được nhưng vẫn muốn chiếm làm của riêng... Mà thành tựu về tâm linh,
văn hoá và mỹ học của một dân tộc, là kết quả tịnh tiến của cả một quá
trình bồi đắp, chung sức và ít nhiều hi sinh những thứ thuộc về cá
nhân. Hành động của những gã hoạn quan này [mà hiện nay rất phổ biến
trên thế giới] là biểu hiện của một nhận thức phản động, một hành động
đi ngược về phía man di-mọi rợ. Với lối nhận thức như thế, thử hỏi từ
đây về sau, thế giới có còn tạo ra được di sản nữa hay không? Tôi tin
là không, và càng không có cơ hội cho các nước nghèo, nơi luôn bị các
nước giàu dòm ngó, ngay cả đến một cái trinh tiết mới sinh ra, có thể
tạo ra được di sản cho chính mình. Mua bán, chiếm dụng di sản công cộng
cũng như chiếm một cái bao cao su xài rồi, tinh trùng thì quý thật,
nhưng khi tinh trùng đã đi vào trong bao su và ung huỷ, thì chiếm dụng
để làm gì cơ chứ.
Từ
sự tư hữu hoá vừa kể, cho chúng ta thấy một hình ảnh về chảy máu di
sản, chảy máu chất xám về nhận thức di sản. Nó dường như là một hệ luỵ,
tôi không muốn nói là kết quả tất yếu của xã hội hậu thực dân, hậu
thuộc địa. Các cá nhân giàu trong nước, trong giới lãnh đạo, các nước
giàu bên ngoài vẫn nuôi giữ trong tâm thức mình tư thế của một tên thực
dân; với phần nghèo còn lại, không còn cách nào khác, bị đẩy vào tư thế
thuộc địa hoá bị động, và cả chủ động. Với đồng tiền, với nghệ thuật…
thì đã lấy một số nước làm trung tâm; nay đến văn hoá, tư tưởng và tâm
linh, cũng lấy một số nước ấy làm trung tâm, thật là lạ. Lạ hơn cả, là
tập nhìn di sản của chính mình qua lăng kính, qua con mắt của người
khác. Từ rất lâu rồi, người ta nhìn về Mỹ Sơn và các di sản trong nước
qua con mắt của người Pháp, Nga, Nhật và phần phương Tây còn lại. Không
có mấy người Quảng Nam hay Việt Nam muốn nhìn Mỹ Sơn trong con mắt của
người Chămpa, người Quảng Nam hay người Việt. Thật là, không còn gì lạ
hơn, lạ một cách kỳ khôi.
2.
Với một thực trạng như vừa nêu, thì câu hỏi, liệu đi du lịch Việt Nam
trong thời buổi này có gì hấp dẫn? Nếu nói có, thì cũng dễ dàng được
chấp nhận, vì an ninh tốt, khách mỗi ngày mỗi đông; chưa kể là có hàng
tỷ cái nghịch lý và buồn cười, mà ngay một người khách thờ ơ nhất cũng
có thể nhận thấy được. Còn nếu nói không, thì không còn gì để bàn thêm.
Vì vậy, trong phần hai bài viết này, tôi sẽ giả định là có rất nhiều
hấp dẫn cho nhận thức về du lịch nội địa Việt Nam! Tôi xin lưu ý, ở đây
đang nói về nhận thức, chứ không phải là dịch vụ, hay giải trí. Bởi nếu
nói về dịch vụ, hay giải trí, thì không có nghĩa lý gì cả, bởi khi đồng
tiền xâm nhập vào, dịch vụ tất yếu phải ngày càng chuyên nghiệp hơn,
giải trí phải ngày càng sinh động, đa dạng và nhiều khả năng quảng cáo
cao hơn.
Tôi muốn nói về quan niệm du lịch của người Việt Nam, họ đang theo tiêu
chí 3S hay 4S. Nếu 3S thì chỉ gồm Sea [biển], Sand [đất-cát], và Sun
[mặt trời]; nếu 4S thì phải có thêm Sex [tình dục]. Nhiều nước, nhiều
nơi như London, Hawaii, Thái Lan, Singapore… còn gia tăng thêm See [tầm
nhìn-nhận thức], Soul [tâm linh-sự vi tế], và cả Save [lưu giữ-cứu hộ].
Khi nói về một chữ S nào đấy, nghĩa là chúng ta đang nói về một từ chìa
khoá, mà ở đó là một cánh cửa, để liên đới tới nhiều vấn đề có quan hệ
chặt chẽ và mang tính hữu cơ khác. Ví dụ khi nói đến Sea, không có
nghĩa chúng ta chỉ nói đến bờ biển, tắm biển hay bãi biển, mà chúng ta
còn nói tới các món ăn hải sản, các nhà hàng chuyên đồ biển danh tiếng,
các resort ven biển, các trò chơi và cả các con sông đổ ra biển… Chưa
nói, với những khách cao cấp hơn về nhận thức, người ta còn làm một so
đo về lối sống, về văn hoá của một xứ có biển với xứ không có biển, hay
vùng núi cao, hoang mạc. Nếu nhìn với tiêu chí và sự quán chiếu rộng
lớn như thế này, thì người Việt Nam, mà cụ thể là những người làm du
lịch Việt Nam chưa thông suốt và chưa làm đúng với bất kỳ chữ S nào.
Để thấy rõ hơn, vì đang nói về Sea, chúng ta chỉ cần đặt ra câu hỏi, du
lịch Sea có đi đôi với Save, hay được Save hỗ trợ chu toàn chưa? Thì
câu trả lời sẽ cho ta biết Việt Nam có đạt được trình độ du lịch Sea
chưa? Sông ngòi và bờ biển thì ngày càng ô nhiễm, các đặc sản thì kiệt
quệ, các phương tiện để thưởng thức Sea thì không đủ an toàn, hay chưa
có cả phương tiện an toàn. Có gì làm nấy, như kiểu của trong kho xài
dần, vô lo vô nghĩ; đâu biết rằng, kho thì rất nhỏ, chẳng bao lâu thì
sẽ sạch nhẵn. Nguy hiểm hơn là chuyện trong tâm thức, những người làm
du lịch cứ nghĩ rằng, Việt Nam vĩ đại lắm, đẹp lắm, hấp dẫn lắm… cần gì
phải lo chu toàn, tôn tạo, khách sẽ tự khắc tìm đến. Tạo điều kiện
chính quy cho khách được đến là ban ân huệ cho họ rồi. Đâu biết rằng đó
là suy nghĩ cực kỳ quan liêu, thậm chí, ấu trĩ-ngu xuẩn. Bởi một thực
tế cho thấy rằng, ví dụ như Mỹ Sơn, số lượng khách đến tham quan ngày
một nhiều, nhưng trong số khách đó, thì có được mấy phần trăm đến lần
thứ hai, chứ đừng nói nhiều lần sau nữa. Bởi hai lý do: Một, như ở phần
đầu bài viết, đó là do họ biết rằng mình đã bị lừa, cái cần xem đâu còn
để mà xem. Hai, điều này cũng thực tế hơn, là yếu tố Sun đã không được
khai thác và phục vụ đúng-đủ nhu cầu tối thiểu. Khách du lịch xa phải
đi từ các khách sạn ở Hội An, Đà Nẵng là gần nhất, để đến một nơi mà
cái nóng và oi bức thật kinh khủng, [ngay cả mùa mưa cũng oi vì nằm
trong thung lũng] vậy mà trong bán kính khoảng 15-20 cây số, không có
một điểm dừng chân nào tỏ ra đủ chất lượng tương xứng để giải nhiệt, để
xả hơi, thư giãn… chứ chưa nói ngủ qua đêm. Đúng, Mỹ Sơn là thánh địa,
những chẳng lẽ xung quanh đó hàng chục cây số cũng phải chịu áp lực
thánh địa, mà đâu phải khách nào cũng đến để hành hương, chẳng lẽ họ
không được quyền nhận được những nhu cầu tối thiểu, dù từ xa, cách
thánh địa 10-15 cây số. Đó là chưa nói, Mỹ Sơn là nơi nhất thiết phải
kết hợp tối thiểu thêm 3S: Sun, Sand và Save… thì mới hi vọng giữ được
khách qua đêm, đến lần thứ hai và có thể giới thiệu cho nhiều người
khác cùng đến. Điều này có thể được chứng thực bởi Hội An, cách Mỹ Sơn
khoảng 1 giờ đi xe thôi, vậy mà khách đến đây lần thứ 2, thứ 3, thậm
chí nhiều lần… rất nhiều. Bởi ở đây, dù cũng chưa được quan niệm đúng
về tiêu chí các S, nhưng do điều kiện tự nhiên và lịch sử, nó có những
cái S vô hình. Cảm nhận được cái S vô hình này nên người ta đến. Đến để
biết thế nào là Sea, Sand, Sun ở Hội An, và cả Sex "mờ" [không công
khai] nữa. Và tất nhiên, do quy luật kéo theo, 4S này cũng được hỗ trợ
chu đáo hơn của Soul và Save.
Người Hội An, có lẽ do truyền thống giao lưu nhiều thế kỷ, nên ứng xử
có phần tinh tế, nhã nhặn với du khách hơn phần Quảng Nam thộ kệch và
quá thật thà còn lại. Điều này làm cho du khách có cảm tưởng người dân
Hội An có hồn [Soul] và sự vi tế [Soul] hơn nhiều nơi khác. Khi nói về
điều này, hiển nhiên tôi đang nói về sức mạnh bản năng tiềm tàng của
mỗi địa điểm du lịch, chứ không phải nói về trình độ vươn tới các đẳng
cấp hay tôn chỉ của từng chữ S. Nhiều người sẽ khó đồng ý với quan điểm
này, nhưng thực tế cho thấy, đâu phải người ta chỉ đi du lịch vì dịch
vụ; mà yếu tố kích thích hơn, là tìm đến những nơi mình chưa biết, yếu
yố See trong du lịch luôn rất quan trọng, và giữ vai trò tiên phong...
Đến để thoả mãn See [tầm nhìn] và đến để xem nơi mình đến có được chiến
lược về nhận thức tầm nhìn không… luôn là câu hỏi trong vali của mỗi
người khách, khi quyết định mình sẽ đi đâu đó. Bởi du lịch, ban đầu,
được sinh ra từ yếu tố tìm đến để thoả mãn See, và See sinh ra các dịch
vụ để thoả mãn các nhân tố tìm đến. Một sự phản ứng dây chuyền, có tính
vòng tròn và một cách ứng xử rất tự nhiên. Tuy nhiên, ngày nay, sự ứng
xử tự nhiên không còn tỏ ra phù hợp và có thể chấp nhận được với những
địa điểm du lịch đã có lịch sử dịch vụ của mình. Ví dụ như Mỹ Sơn, hay
Hội An. Tại sao không? Bởi dễ hiểu một điều là, người ta có thể đi du
lịch sa mạc với một cái lều cùng những vật dụng thiết yếu khác để ngủ
bên một ốc đảo, chứ không thể đến một nơi như Hội An cùng với những thứ
đó. Đến với Hội An, không phải chỉ thoả mãn với yếu tố See [nhìn], mà
còn phải có Sea, Sun, Sand, Save, và cả Sex nữa. Còn đến với Mỹ Sơn,
mỗi yếu tố See thôi, cũng chưa chu toàn được…; vì thế, Mỹ Sơn luôn là
câu chuyện cần được kể và là điều đáng để nói nhất.
***
Nói ra những điều như vậy, không phải để phủ nhận hay xua đuổi lượng
khách đến Mỹ Sơn nói riêng, và Việt Nam nói chung, ngày một đông. Mà
là, để kích thích nhận thức của những du khách khi tìm đến Việt Nam,
nhất là người Việt ở hải ngoại, ngày càng có nhiều điều kiện và cơ hội
để trở về. Khi là du khách, hãy nhớ một điều là, chính bạn là nhân tố
quyết định đến trình độ và chất lượng của những nơi bạn đến. Đừng để
rơi vào tình trạng khẩn cấp như Save Our Sea, Save Our Sun, Save Our
Sand, Save Our See, Save Our Space, Save Our Sex, Save Our Sin, Save
Our Soul… như nhiều nơi khác trên thế giới; rồi mới lên tiếng, và tìm
cách khắc phục. Nếu bạn không lên tiếng, mọi sự sẽ băng hoại và đổ vỡ.
Với Mỹ Sơn, hay bất kỳ địa điểm du lịch nào khác cũng vậy, trong bối
cảnh mới, tôi tin rất khó để tránh khỏi tình trạng vực thẳm trong ý
thức đầu tư và thực thi tiêu chí du lịch, bởi vực thẳm ấy đang nằm ngay
dưới chân.
Đừng để tình trạng thờ ơ, tự nhiên chủ nghĩa xô chúng ta xuống vực thẳm
sẵn có. Hãy cứu lấy sự buồn rầu trong nhận thức và hành động.
Với du lịch nội địa Việt Nam, tôi tin chúng ta đã qua giai đoạn để
tranh cãi 3S hay 4S; qua giai đoạn lấp liếm và từ chối một S nào đó,
như Sex chẳng hạn; để đồng thanh kêu lên: HÃY CỨU LẤY SỰ BUỒN RẦU CỦA
CHÚNG TA [Save Our Sorrow]… , vì nó đang xâm chiếm từng giây từng phút
môi trường du lịch.
Sài Gòn 22/01/2006
---------------------------------
Chú thích:
Tất cả các hình trong bài là những kỷ vật văn hoá Chăm- pa nằm trong khuôn viên Mỹ Sơn nhưng nay không còn nhìn thấy nữa.
Copyright © 2006 by DCVOnline