Từ khi các nhà nho VN ở cuối thế kỉ XIX bắt đầu tiếp xúc với loạt sách vở mà người Trung Hoa thời bấy giờ gọi là tân thư ,
thì một phong trào “đổi mới tư duy” dấy lên. Trong số những nhà trí
thức hàng đầu thế hệ đó có những vị như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh,
Lương Văn Can, Huỳnh Thúc Kháng… đã sớm đứng vào hàng tiên phong cho
phong trào duy tân đầu thế kỉ XX. Đấy thật sự là một đợt “cởi trói tư
duy” đúng nghĩa của trí thức Việt Nam thời hiện đại. Phong trào duy tân
đầu thế kỉ XX đã để lại một di sản sâu sắc mà cho đến nay chưa có một
công phu tìm hiểu toàn diện và trung thực.
Một nét nhỏ của phong trào duy tân là những nhà trí thức cấp tiến thời
ấy đã có những nỗ lực giúp đồng bào mình cùng tự nhìn lại, đánh giá lại
những cái hay cái dở của dân tộc mình. Các vị ý thức rất rõ là: nếu
không thành tâm nhìn lại mình thì dân tộc và đất nước sẽ không thoát
khỏi vòng lạc hậu. Đổi mới cần bắt đầu từ đổi mới tư duy. Đó là động
lực đầu tiên của phong trào đông du, mà một trong những mục đích lớn
của nó là tạo cơ hội cho những thanh niên cấp tiến lúc bấy giờ được "du
học" để bắt kịp đà văn minh của thế giới.
Trong khi sưu tầm cho loạt đề tài này, chúng tôi có mạn phép đăng lại
một số trích đoạn sưu tầm của nhà văn Vương Trí Nhàn. Ông đã bỏ công
sưu lục một số những phát biểu của một số nhà trí thức mới ở buổi đầu
thời duy tân thế kỉ XX.
Mời bạn đọc cùng theo dõi những lời tự bạch của một thế hệ tiên phong cho thời hiện đại của Việt Nam.
Ích kỷ và khôn vặt (Nguyễn Đỗ Mục, Đông dương tạp chí, 1914)
Cái tật ích kỷ vốn là một thứ hay lây: Trông thấy những vườn hoa cây
cảnh ở sân nhà trường hay ở nơi đền chùa, hoặc cạnh đường đi lối lại,
đã không biết giữ gìn để làm một cái cảnh vườn chung thì chớ, nhiều
người lại còn đang tay bẻ tàn bẻ hại, để đem về nhà mà chơi thích chí
lấy một mình. Cái chứng ích kỷ đã mọc ra, đến lúc lớn lên thành ra một
người đi đến đâu phá hủy đến đấy. Cũng vì lẽ đó mà dân An Nam không mấy
khi có được cảnh vui chung (1), ai có muốn chơi cảnh thì lại phải xây
một vài cái bể cạn hay là bầy mươi lăm cái chậu con để làm một khu vui
riêng mà không chung chạ với ai cả. Dần dần nảy ra một cái tư tưởng
đáng cười, đáng khinh, đáng ghét, đáng sợ là hai chữ ích kỷ, mà một câu
"ăn cỗ đi trước lội nước đi sau" đủ vẽ hết được ruột gan.
(1) tức là không có các loại công viên hoặc khu giải trí công cộng
Vụng nói chuyện (Nguyễn Văn Vĩnh, Đông dương tạp chí, 1914)
Ai có ý đến những nơi họp tập, hoặc là chỗ chơi bời thì thực là buồn
thay cho cái trí dục của những người đời nay. Ngoại giả chuyện cô đầu,
chuyện cờ bạc, chuyện hát tuồng, chuyện chim chuột, chuyện quần áo còn
thì không mấy khi được nghe những câu chuyện lý thú, làm tỏ được học
vấn kẻ nói, lợi được trí khôn người nghe.
Mà xem như trong cách nói chuyện, thì thiếu niên (1) ta nghe lại có ý
thích những câu chuyện tầm thường, nói chuyện để mà khoe cho người nọ
người kia biết cát cách của ta chơi xa xỉ hoặc là kỳ khu... Ai ăn nói
có tư tưởng cô tỏ học vắn thì thường người nghe thích nhưng ít cầu, vì
câu chuyện cô nghĩa, làm cho phải nghĩ, phải đối đáp nhọc mệt... Người
nói chuyện hay, cũng có kẻ phục là người có ích, nhưng trong cái phục
có cái ghen cô cát ghét. Ghen là vì ở đâu đến cướp mất tai kẻ nghe,
ghét là vì ở đâu đến làm tỏ cái nhàm của câu cười cợt tầm thường người
ta đang thú.
(1) Hồi
đầu thế kỷ XX, chữ "thiếu niên" không phải dùng để chỉ lớp thiếu nhi từ
l0 đến 14 tuổi như bây giờ. Mà có nghĩa là người trẻ tuổi, tức lớp
thanh niên 18 tuổi trở lên.
Học để kiếm gạo (Phan Bội Châu, Lời hỏi các bạn thanh niên, 1928)
Đi học để kiểm gạo (1), tệ hại lớn lắm. Vì cốt kiểm gạo thời cái mục
đích đã dở hoặc nhân vì mục đích đó mà sinh ra hay giả dối, hay tham
lợi riêng, cốt được gạo thời thôi, đạo đức mà chi, hợp quần mà chi, ái
quốc mà chi, trăm việc hỏng trớt (2).
(1) hiểu theo nghĩa rộng: chỉ cốt sinh lợi, có tiền
(2) trớt: tất cả, hết thảy.
Vương Trí Nhàn
Theo báo Thể thao & Văn hóa