LGT.-
Tôi được nhạc sĩ Phú Quang giới thiệu và làm quen với nhà thơ Nguyễn
Duy tại một tiệm cà phê trên đường Ðồng Khởi (Tự Do cũ) vào năm 2000,
cũng là lần cuối cùng tôi có mặt tại Việt Nam cho đến nay, bởi vì sau
khi công khai là thành viên trong ban biên tập Ðàn Chim Việt, con đường
về Việt Nam với tôi bị khép lại.
Trước
cuộc gặp này, tôi đã nghe rất nhiều về nhà thơ “lính” đầy cá tính qua
giao thiệp với một số anh em trong giới văn nghệ sĩ, lúc bấy giờ thường
tụ tập uống bia, tán gẫu chuyện đời tại “Quán Nghệ Sĩ” do họa sĩ Ca Lê
Thắng làm chủ quán, nằm trên đường Pasteur trong những năm 1980. Hôm
ấy, trông anh thật bình dị, ăn mặc tươm tất nhưng rất đơn giản, nói
chuyện nhẹ nhàng và hài hước.
Tôi
và nhiều bạn bè, những người thuộc thế hệ anh, rất cảm phục anh, một
nhà thơ, một nghệ sĩ nhưng sống trung thực và viết với lòng can đảm của
một người lính.
Trong
những năm 1980, chúng tôi vẫn gọi anh là nhà thơ hiện thực, phản kháng.
Anh đã gặp không ít khó khăn trong cuộc sống vì những bài thơ của mình.
Các quan chức văn hóa nể trọng tài năng và đạo đức của anh nhưng không
ưa anh.
Trên đây là lời giới thiệu tác giả Nguyễn Duy. Nhật báo Người Việt trích đăng nguyên văn bài viết này:
Trong môi trường mà tự do tư tưởng thuộc vùng cấm của Ðảng, mà vào thời gian ấy anh đã viết:
“...Lời nói thật thà có thể bị xử tội
lời nịnh hót, dối lừa có thể được tuyên dương
Có cái miệng làm chức năng cái bẫy
sau nụ cười là lởm chởm răng cưa
có cái môi mỏng ráp hơn lá mía
hôn má bên này bật máu má bên kia
có trận đánh úp nhau bằng chữ nghĩa
khái niệm bắn đi không biết lối thu về...
Cần lưu ý có lắm nghề lạ lắm
nghề mánh mung cứa cổ bóp hầu nhau
nghề chửi đổng, nghề ngồi lê, nghề vu cáo
nghề ăn cắp lòng tin và chẹt họng đồng bào
có cả nghề siêu nghề gọi là nghề không làm gì cả
thọc gậy bánh xe cũng một thứ nghề...”
Hôm
nay đọc được bài tùy bút mới viết của anh, nhớ tình xưa, nghĩa cũ, (bài
được đăng trên Tuổi Trẻ Online 24 Tháng Giêng2006), xin được giới thiệu
cùng bạn đọc để chúng ta hiểu thêm, chia sẻ những bức xúc của nhiều văn
nghệ sĩ tại Việt Nam và để cùng nhìn nhận rằng, thời nào cũng có những
người cầm bút chân chính.
Nỗi nhớ “thời khó thở”
Hồi này, thời thế “dễ thở hơn” rồi.
Thẫn thờ nhớ một “thời khó thở”, thời hậu chiến gian khổ, kéo dài hơn một thập kỷ sau 1975.
30/04/1975,
cả dân tộc thở phào nhẹ nhõm trút gánh nặng 30 năm máu lửa khốc liệt.
Một thằng lính làm thơ là tôi không chỉ thở phào mà còn nhảy dựng lên,
hát toáng lên:
“...Tôi đi tìm thân nhân qua rừng già nguyên thủy
tôi đi tìm thân nhân qua rừng kẽm gai Mỹ
... Hỡi ai không gặp thân nhân
xin cùng tôi chung mái nhà ấm áp
là nguyên vẹn nhân dân - Tổ quốc
ta hành hương trên đất đai sum họp
nơi nào cũng có thân nhân!...”
(Tìm thân nhân - 1975)
Phơi
phới vui hòa bình, thống nhất. Và hi vọng xanh rờn. Trên đất đai này
chỉ còn người Việt Nam với nhau. Ðã có người tếu táo rằng: “Từ nay sẽ
không còn kẻ ngoại bang nào dám đụng đến cái lông chân của người Việt
Nam!” Vậy mà đáng tiếc thay, chính người Việt Nam với nhau lại đưa nhau
vào một thời ngạt thở mới.
Thời
đó, sau 1975, bạt ngàn lính giải ngũ, trở lại nơi xóm làng xơ xác sau
chiến tranh. Triệt để hợp tác hóa ở nông thôn. Ðánh tư sản, triệt nhà
giàu ở thành thị. Kẻ vào trại học tập cải tạo, không bản án, không thời
hạn. Người ra biển vượt biên không hẹn ngày về, phó mặc sinh mạng cho
sóng gió và ma quỷ. Ðất nước liền một dải mà lắm nhà lại lâm cảnh ly
tán. Mà cõi lòng lại đau nỗi cắt chia mới. Lương thực viện trợ của nước
ngoài như hồi chiến tranh không còn nữa. Nạn đói hoành hành khắp nước.
Ðột
ngột lính Pol Pot tràn sang, thảm sát dã man dân lành suốt một dải biên
giới Tây Nam. Lại đột ngột súng nổ, lại chết người, lại cháy nhà, suốt
toàn tuyến biên giới phía Bắc. Một thằng lính làm thơ là tôi đã cởi áo
lính rồi, lại cùng lính ra mặt trận phía Nam, lên mặt trận phía Bắc.
Lại đột ngột làm thơ trận mạc:
“...Biên ải xưa giặc giã mới tràn vào
máu lửa ngỡ cũ rồi mà vẫn mới
gian truân xưa cứ tưởng đã cũ rồi...”
(Lên mặt trận ngày đầu - Lạng Sơn 17/02/1979)
Nền
kinh tế quốc gia “tuột dốc theo chiều rơi thẳng đứng” (chữ của nhà thơ
Tố Hữu, phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng lúc bấy giờ). Lại thiếu gạo.
Lại đứt bữa. Lại thấy người ăn mày đầy đường. Lại ăn độn đủ cả sắn,
ngô, khoai, bo bo, mì sợi, mì bột, mì hột. Nhà tôi bắt đầu nuôi lợn
trên lầu ba... “nâng con lợn lên ngang tầm thời đại!...”
Tiềm lực ngủ yên
Thời đó, gia đình tôi ở trong khu tập thể Hội Văn nghệ TP. HCM:
... lầu ba, nhà 190 Nam Kỳ Khởi Nghĩa
tiếng tắc kè nhỏ giọt trong đêm
tiếng mưa rừng nhỏ giọt trong trí nhớ
vết đạn trên tường dù trát lại vẫn có màu vôi khác...
Nghe tiếng tắc kè kêu trong thành phố, nhìn thấy ánh trăng một đêm cúp điện, lại nhớ về những cánh rừng xưa, những bạn lính cũ.
Lại
thương đến nhão lòng những ước mơ đơn sơ, mộc mạc một thời. Về với mẹ.
Về với vợ con. Về với thanh bình vườn ruộng. Về để làm cho dân giàu
nước mạnh. Sắp về!... Sắp về!... Con tắc kè trên rừng cây “giơ xương
trắng lên trời” do chất độc khai quang hồi đó, nó nói thế. Nó nhắc thế.
Nó cứ điệp khúc thế. Cái điệp khúc mơ của người lính trận.
Một cựu binh là tôi lại bắt đầu mơ một điệp khúc mơ đơn sơ mộc mạc khác:
“Hãy thức dậy, đất đai
cho áo em tôi không còn vá vai
cho phần gạo mỗi nhà không còn thay bằng ngô, khoai, sắn...”
Và bắt đầu một nỗi day dứt khác:
“...Khoáng sản tiềm tàng trong ruột núi non
châu báu vô biên dưới thềm lục địa
rừng đại ngàn bạc vàng là thế
phù sa muôn đời sữa mẹ
sông giàu đằng sông và bể giàu đằng bể
còn mặt đất hôm nay - em nghĩ thế nào?
lòng đất rất giàu, mặt đất cứ nghèo sao?...”
Ðó là nỗi day dứt của một thường dân.
Kèm theo là nỗi day dứt của một thường dân làm thơ:
... Lúc này ta làm thơ cho nhau
đưa đẩy mà chi mấy lời ngọt lạt
ta ca hát quá nhiều về tiềm lực
tiềm lực còn ngủ yên...
Từng
chút, từng chút, ý tứ bài thơ “Ðánh thức tiềm lực” tượng hình dần trong
tâm trí tôi, đến đầu năm 1980 mới ngọ nguậy nở thành từng con chữ trên
giấy.
Những
dòng chữ nặng nề và chậm chạp chở lênh đênh tâm sự trầm buồn và chân
thật như bọt bèo, như rều rác bập bềnh trôi trên dòng sông tuổi thơ.
Thêm
rồi bớt, viết rồi sửa, đến giữa năm 1982 bài thơ dài ra thành vài trăm
dòng. Tôi tự thấy nó còn nôm na lắm, ngôn ngữ thơ chưa được. Nhưng cái
được ở đây là tâm tình thật của tôi. Thôi, cứ để thế. Tôi dừng bài thơ
lại với đoạn kết:
Tôi muốn được làm tiếng hát của em
tiếng trong sáng của nắng và gió
tiếng dẻo dai đòn gánh nghiến trên vai
tiếng trần trụi lưỡi cuốc
lang thang khắp đất nước
hát bài hát đánh thức tiềm lực!
Bài thơ ngủ yên
Bài
thơ đi từ trong lòng ra nên tôi thuộc lòng nó ngay từ lúc vừa viết vừa
sửa, cứ lẩm bẩm một mình như lên cơn thần kinh. Thời đó, thơ như thế là
“gai góc” quá, thậm chí là “phản động”, không những bị cấm in mà còn bị
cấm đọc. Cái thời hễ có ai phát ngôn khác đi so với công thức phát ngôn
chính thống thì đều bị quy là “phản động”, bị “kiểm thảo”, bị “kỷ
luật”...
Bản
thân tôi, năm 1973-1974 ở Hà Nội cũng đã từng khốn đốn, lao đao vì mấy
bài thơ “có vấn đề” bị viết bản “tự kiểm” (14 trang giấy khổ lớn, hồi
ấy gọi là “giấy năm hào hai”). May thay, cuộc tổng tấn công mùa xuân
1975 bùng nổ, rồi thống nhất đất nước... Sự kiện lịch sử lớn lao xóa
phăng đi cuộc sát phạt nhỏ mọn trong làng văn tù túng, lũ chúng tôi
bỗng tự nhiên thoát nạn.
Thế
mà ngay khi tôi vừa viết xong bài “Ðánh thức tiềm lực”, đột ngột được
tin lão thi sĩ Hoàng Cầm bị tống ngục Hỏa Lò chỉ vì tội tự ý phát tán
bản chép tay tập thơ Kinh Bắc (*) của chính ông, trong đó có bài Lá
diêu bông “ám chỉ chủ nghĩa xã hội là không tưởng”. Tôi không khỏi chột
dạ. Tự xem xét lại mình, thơ của tôi rõ ràng là có “rất nhiều vấn đề”.
Xin nhớ cho, lúc đó là giữa năm 1982.
“...Lời nói thật thà có thể bị xử tội
lời nịnh hót, dối lừa có thể được tuyên dương
Có cái miệng làm chức năng cái bẫy
sau nụ cười là lởm chởm răng cưa
có cái môi mỏng ráp hơn lá mía
hôn má bên này bật máu má bên kia
có trận đánh úp nhau bằng chữ nghĩa
khái niệm bắn đi không biết lối thu về...
Cần lưu ý có lắm nghề lạ lắm
nghề mánh mung cứa cổ bóp hầu nhau
nghề chửi đổng, nghề ngồi lê, nghề vu cáo
nghề ăn cắp lòng tin và chẹt họng đồng bào
có cả nghề siêu nghề gọi là nghề không làm gì cả
thọc gậy bánh xe cũng một thứ nghề...”
(đoạn viết năm 1980)
Viết
thế ấy thì in ở đâu và đọc cho ai? Chỉ dám đọc chơi với vài bạn rượu
tri kỷ. Ðược đoạn nào “rỉ tai” đoạn nấy, từng đoạn, từng đoạn rời rạc.
Nhà văn Nguyễn Quang Sáng an ủi tôi: “Cứ đợi đấy, rồi sẽ đến hồi có
người nghe và có người in”. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn thì “triết” hơn: “Sự
chân thành tự nó hóa giải bế tắc. Hãy xem lại cái cây mình có thật ngay
thẳng không. Cây ngay chẳng sợ chết đứng”. Tôi đã thấy những “cây ngay”
mà vẫn bị “chết đứng”, nên lòng cứ thấp thỏm một nỗi lo ngại không xác
định, tự nhủ mình phải giữ gìn, chớ hớ hênh mà rước vạ.
Ðọc thơ “dù có ra sao cũng đành”...
Khốn
nỗi, cũng giống như có ghẻ phải gãi, có thơ không thể không đọc. Không
được in thì cứ đọc, mai sau dù có ra sao cũng đành... (một câu hát của
Trịnh Công Sơn). Oái oăm thay, lần đầu tiên tôi công bố “Ðánh thức tiềm
lực”, đọc liền mạch hoàn chỉnh toàn bài thơ, lại là đọc tặng một người
thuộc lớp người “đáng sợ” nhất lúc bấy giờ: ông Sáu Dân, tức Võ Văn
Kiệt - ủy viên Bộ Chính trị, bí thư Thành ủy TP. HCM.
Hồi
đó, khoảng đầu thu năm 1982, ông Sáu sắp sửa thôi giữ chức bí thư thành
ủy để ra Hà Nội làm phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm chủ nhiệm Ủy
ban Kế hoạch nhà nước. Ông Nguyễn Quang Sáng chợt nảy sáng kiến họp mặt
vài anh em bạn ruột (ngay tại căn hộ lụp xụp của ông trong khu tập thể
194B Nam Kỳ Khởi Nghĩa) để mời ông Sáu đến... chơi!
“Quý
trọng ông Sáu thì tụi mình mới mời ổng uống ly rượu đế. Trước, để coi
ổng có chịu đến chơi không. Sau, để nói thẳng nói thật với ổng chút ít
tâm sự của tụi mình về tình hình thế sự”. Ông Sáng xác định “mục đích
và ý nghĩa” cuộc gặp như vậy, rồi gọi điện thoại “thử” xin nói trực
tiếp với ông Sáu. Ông Sáu nhận lời ông Sáng.
Cuộc
“chơi” hôm đó thật thoải mái và vui vẻ. “Phe văn nghệ” có nhà văn
Nguyễn Quang Sáng, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, Trần Long Ẩn, nhà thơ Nguyễn
Bá (từ Cần Thơ lên) và tôi. “Phe chính trị” có mỗi ông Sáu.
Với
nét cười hồn hậu, cởi mở, ông Sáu nói rất ít, không một lời “huấn thị”,
chỉ kể một kỷ niệm vui vui hồi chiến tranh, rồi chăm chú lắng nghe
chúng tôi hát và “tự do ngôn luận”. Nguyễn Quang Sáng nói chuyện viết
và lách, viết đã khó, lách còn khó hơn. Trịnh Công Sơn vừa hát tình ca
vừa góp ý với lãnh đạo thành phố về vấn đề... ẩm thực. Trần Long Ẩn trổ
tài “ca bài ca cà chớn”, những ca khúc lời nhại hài hước diễu cợt cả
thời đại. Còn tôi, không biết nói gì hơn là “xin đọc tặng anh Sáu một
bài thơ vừa ráo mực, bài Ðánh thức tiềm lực...”
Bản án nhân tình
Xin
chèn ngang một mẩu chuyện cũ... Tôi chỉ mới được gặp ông Sáu có mỗi một
lần, khoảng giữa năm 1981, trong buổi tổng kết cuộc sinh hoạt chính trị
(do nhà thơ Bảo Ðịnh Giang điều hành) chuẩn bị thành lập Hội Nhà văn
TP.HCM. Thấy nhiều người đọc thơ tặng ông Sáu, tôi cũng đọc, bài “Ông
già Hậu Giang” ngang tàng (bản in sau đó đổi ra “Ông già Nam bộ”), và
bài “Bán vàng” - để “báo cáo” với bí thư thành ủy về đời sống thực của
số đông thi sĩ lúc bấy giờ. Khúc dạo đầu còn e ngại lắm, nơm nớp lo có
người ngăn cản:
“...Tâm hồn ta là một khối vàng ròng
đành đem bán bớt đi từng mảnh nhỏ
Ta mơ màng, ta uốn éo, ta lả lơi
để mặc kệ mái nhà xưa dột nát
mặc kệ áo quần thằng cu nhếch nhác
mặc kệ bàn tay mẹ nó xanh xao
ta rất gần bể rộng với trời cao
để xa cách những gì thân thuộc nhất”...
Không bị ai chặn lời, tôi mạnh dạn “làm tới”:
“...Cái ác biến hình lởn vởn quanh ta
tai ách đến bất thần không báo trước
tờ giấy mong manh che chở làm sao được
một câu thơ chống đỡ mấy mạng người
Vợ chồng ngủ với nhau đắn đo như vụng trộm
không cái sợ nào bằng cái sợ sinh con
hạnh phúc lớn vòng tay ôm không xuể...”
Vẫn không thấy ai chặn lời.
Phòng họp lặng ngắt. Tôi bình tâm kết thúc bài thơ:
Thì bán bớt đi một ít vàng ròng
để sống được qua ngày gian khổ đã
phải sống được qua cái thời nghiệt ngã
để khối vàng đây chỉ đổi lấy mây trời!
Sau
cuộc họp đó tôi không những không bị “búa” như dự đoán của tôi và của
nhiều người khác, mà lạ thay còn được người thư ký của bí thư thành ủy
tìm gặp: “Anh Sáu nhắn cậu chép tặng anh ấy bài “Bán vàng” và bài “Ông
già Hậu Giang” để làm kỷ niệm tình cảm”. Tôi hơi ngại, hỏi lại Nguyễn
Quang Sáng: “Liệu có phải ông Sáu cần văn bản chứng cớ để xử lý?...”
Ông Sáng nói: “Chắc không phải. Nếu muốn xử, ổng chỉ cần ra lệnh”. Tôi
bèn chép hai bài thơ và không quên ghi cẩn thận dưới tên mỗi bài: Tác
giả chép tặng anh Sáu Dân để làm kỷ niệm tình cảm.
Ít
lâu sau, tại cuộc gặp gỡ nhân dịp đại hội thành lập các hội nghệ thuật
chuyên ngành của thành phố, với tư cách bí thư thành ủy, ông Sáu nói
chuyện với đông đảo văn nghệ sĩ. Trong bài nói không dài đó của ông Sáu
Dân có một đoạn tôi không bao giờ quên: “Vừa qua, tôi đã nghe và đã đọc
bài thơ “Bán vàng” của nhà thơ Nguyễn Duy. Theo tôi, đó là một bản án
nhân tình đối với chế độ của chúng ta. Ðau, nhưng là sự thật. Chúng ta
cần chân thành nhìn nhận sự thật để cùng nhau vươn lên, vượt qua giai
đoạn khó khăn. Muốn vượt lên thì phải có niềm tin. Mà cốt lõi của niềm
tin là tin ở con người...”
Lần
đầu tiên tôi trực tiếp nghe một bài huấn thị chính trị như thế, trực
tiếp thấy một nhà lãnh đạo chính trị ứng xử như thế. Ðó là khoảng giữa
năm 1981. Quả là bất ngờ. Tự nhiên tôi xúc động, vì một cái gì đó mà
tôi chưa biết gọi nó là cái gì, hình như nó chỉ là cái lẽ nhân tình
bình thường mà sao ta ít thấy ở những vị quan lớn. Và, tự nhiên tôi cảm
thấy tin ông...
Lúc
này, với tất cả nỗi niềm “tin ở con người”, tôi lại trang trọng kính
tặng ông Sáu một “rừng gai góc” mới. Tôi đứng ngay ngắn, nhìn thẳng ông
Sáu mà đọc, thấy ông không cười cười nữa, hơi cúi đầu đăm chiêu với
gương mặt bình thản không phơi lộ cảm xúc. Tôi cũng bình tâm làm phận
sự của mình:
“...Xưa mẹ ru cho ta ngủ yên lành
để khôn lớn ta hát bài đánh thức
có lẽ nào người lớn cứ ru nhau
ru tiềm lực ngủ vùi trong thớ thịt...
Tiềm lực còn ngủ yên trong quả tim mắc bệnh đập cầm chừng
Tiềm lực ngủ yên trong bộ óc mang khối u tự mãn.
Không
ngắc ngứ, không ngừng nghỉ, tôi kéo một lèo khoảng 10 phút cho đến hết
bài thơ. Thấy ai nấy ngồi lặng. Ông Sáu cũng im lặng chốc lát, mới chậm
rãi: “Nặng lắm. Nhưng chịu được”. Hình như ông vừa trải qua một cuộc
tra tấn. Rồi ông tiếp: “Nếu kể về cái tiêu cực thì tôi kể cả ngày không
hết. Còn nếu kể về cái tích cực thì tôi kể cả tuần cũng không hết.
Nhưng vấn đề ở đây không phải là chống tiêu cực hay biểu dương tích
cực. Vấn đề ở đây là con người, là văn hóa. Con người có thức dậy thì
đất đai mới thức dậy được...”.
Nghe
ông Sáu, tôi thở phào nhẹ nhõm, trút bỏ nỗi lo ngại không xác định lâu
nay vốn nặng trĩu lòng. Thì ra những câu thơ “khó chịu” thế kia không
phải chờ đến mai sau mới có người lắng nghe và chia sẻ. Những người
“chịu nghe” và “chịu được” loại thơ “nặng lắm” ấy đã hiện diện quanh
tôi ngay từ “thời khó thở” đó.
Tiềm lực thức giấc...
Sau
cuộc đọc thơ đó, tôi bèn đem “Ðánh thức tiềm lực” đi đọc và “phát tán”
ở nhiều nơi. Có nơi “hoan hô nhiệt liệt”, mời đọc, cho phát hành bài
thơ bằng băng ghi âm hoặc bản in rônêô. Lại có nơi cấm đọc, cấm lưu
hành cũng bài thơ đó. Nó xuất hiện muộn hơn trên mặt báo và sách. Lần
đầu tiên “Ðánh thức tiềm lực” được in là trên tờ Văn Nghệ Ðồng Nai do
nhà thơ Xuân Sách làm tổng biên tập, số tháng 12-1984. Nhưng tờ báo văn
tỉnh lẻ này chỉ ra mỗi tháng một kỳ, mỗi kỳ mấy trăm bản, loanh quanh
trong “xóm” Ðồng Nai, ít ai biết đến.
Mãi
cuối năm 1986, sau nghị quyết “Ðổi mới” của Ðại hội VI Ðảng Cộng sản VN
- được coi là đại hội “mở cửa” và “cởi trói” - bài “Ðánh thức tiềm lực”
mới được đăng nguyên văn trên báo Tuổi Trẻ, được phát hành khắp trong
nước và ngoài nước. Năm 1987, “Ðánh thức tiềm lực” có mặt đàng hoàng
trong tập thơ Mẹ và em cùng với bài viết “Ði tìm tiềm lực trong thơ
Nguyễn Duy” của Nguyễn Quang Sáng (Nhà xuất bản Thanh Hóa).
Và
từ đó nó đã được chọn vào nhiều tuyển tập. Có một dòng đề từ ngay dưới
tên bài thơ, tôi viết thêm sau cuộc đọc thơ vừa kể, để ghi nhớ một kỷ
niệm sâu sắc thời kỳ trước đổi mới: “tiễn đưa anh Sáu Dân đi làm kinh
tế”. Chính nhờ có những người-đánh-thức-tiềm-lực không biết mệt mỏi,
những người dám “xé rào cơ chế”, dám “chịu nghe” những gì khác đi, thậm
chí là ngược lại cái công thức phát ngôn chính thống, dám hành động vừa
quyết đoán vừa nhân tình... như ông Sáu Dân, chúng ta mới có được một
con đường đổi mới với những ngày “dễ thở hơn” như hôm nay.Chính nhờ có
những người-đánh-thức-tiềm-lực không biết mệt mỏi, những người dám “xé
rào cơ chế”, dám “chịu nghe” những gì khác đi, thậm chí là ngược lại
cái công thức phát ngôn chính thống, dám hành động vừa quyết đoán vừa
nhân tình... như ông Sáu Dân, chúng ta mới có được một con đường đổi
mới với những ngày “dễ thở hơn” như hôm nay.
(*) - Tập thơ Kinh Bắc do NXB Văn Học xuất bản năm 1994.
- Các Intertitle là của Tuổi Trẻ Online.
| LTS: Ý kiến bày tỏ trên trang Diển Ðàn là của các tác giả, không nhất thiết phản ảnh quan diểm của nhật báo Người Việt và Nguoi-Viet Online. |