Thực phẩm mà người Mỹ gọi là legumes gồm có các loại hạt đậu khô dùng
để nấu ăn, như đậu Hà Lan, đậu tây cô ve, đậu đen, đậu lima, pinto,
pha, đậu ngự.Chữ légume của Pháp là để nói tới các loại rau, cải, củ.
Còn
thực phẩm mà người Việt ta gọi là Đậu hoặc Đỗ thì người Mỹ lại chia ra
thành 2 loại: bean và pea. Nói chung tất cả đều là hạt đậu nằm trong
những vỏ dài mà khi chín sẽ nứt ra làm đôi.
Đậu được trồng ở khắp nơi trên thế giới và có tới trên mười ngàn loại khác nhau.
Theo
các nhà khảo cổ thì đậu được trồng trước tiên ở các quốc gia Đông Nam Á
châu từ cả chục ngàn năm về trước. Nhiều nơi, đậu được gieo giữa hai
luống ngô, vì đậu có thể hấp thụ nitrogen từ không khí, tồn trữ dưới
đất và làm đất giầu thêm chất này để giúp ngô tăng trưởng.
Giá trị dinh dưỡng
Hạt đậu là nguồn dinh dưỡng rất phong phú, ngon mà tương đối lại rẻ tiền.
Đậu
nành cung cấp đủ các loại amino acid thiết yếu mà cơ thể cần. Đậu có
nhiều calcium, cho nên các vị tu hành, người ăn chay có thể sống lành
mạnh chỉ với đậu hũ và các sản phẩm khác của đậu nành. Đậu có lượng đạm
chất cao hơn các các loại ngũ cốc khác từ hai đến năm lần.
Hạt
đậu có nhiều sinh tố nhóm B, nhiều sắt, potassium, rất nhiều chất xơ.
Đa số hạt đậu đều có rất ít chất béo và calories, ngoại trừ đậu nành và
đậu phụng lại có nhiều chất béo lành bất bão hòa.
Đậu có ít calories nhưng có nhiều nước.
Một
trăm gram đậu nấu chín cho 100-130 Calories và 7 gram chất đạm, tương
đương với số đạm trong 30 gram thịt động vật. Đậu nẩy mầm có nhiều đạm
hơn đậu nguyên hạt. Khi ăn chung đậu với các loại hạt, đạm của đậu có
phẩm chất tương đương với đạm động vật.
Người Bắc Mỹ và người Âu
ít chú ý đến các loại đậu vì nấu các đậu này mất nhiều thời gian, phải
ngâm đậu trước khi nấu. Để tiết kiệm thì giờ, dùng đậu chế biến nấu
chín đựng trong hộp rất tiện lợi: chỉ việc đổ bớt nước mặn trong đậu
hoặc rửa đậu cho bớt mặn rồi nấu.
Nhưng người Nam Mỹ và Á Châu xem các loại hạt đậu là một thành phần quan trọng của lương thực.
Ở
Châu Mỹ La Tinh, từ Mễ Tây Cơ xuống đến Trung Mỹ, Nam Mỹ, đâu đâu cũng
thấy có đậu đen và đậu đỏ (black and red beans) trong các bữa ăn. Ở Ấn
Độ, đậu lăng (lentil) được ăn trộn với gạo và rất phổ biến.
Nhật Bản có loại đậu màu nâu gọi là azuki được ăn với cơm.
Ở Trung Hoa và Nhật Bản, Việt Nam đậu nành rất thông dụng trong việc chế tạo tương và chao, tầu hũ.
Hạt đậu nấu chín có thể ăn khi còn nóng hay để nguôi.
Có
thể nấu đậu với thịt, cá hoặc với các loại rau khác. Đậu nấu chín cũng
có thể cho thêm gia vị, nghiền nát rồi quệt vào bánh mì kẹp để ăn.
Đậu
tươi không cần nhiều thời gian để nấu, nhưng khi phơi khô thì cần ninh
nấu lâu hơn. Để rút ngắn thời gian nấu, ta có thể ngâm đậu trong nước
nóng vài giờ cho đậu thấm nước và mềm hơn. Nước ngâm đậu có thể dùng để
nấu món ăn cho thêm hương vị.
Vài Ưu điểm của đậu
1-Đậu
chứa một loại chất xơ gọi là pectin. Chất xơ này có khả năng hút nước
và nở ra trong dạ dày khiến người ta có cảm giác no không thèm ăn. Nó
cũng làm chậm tiến trình hấp thụ thực phẩm trong ruột, giúp bệnh nhân
tiểu đường tránh được sự tăng gia quá mau đường huyết, và cơ thể khỏi
phải tiết ra nhiều insulin hơn.
Các loại đậu “bean” và “pea”
thì lại có một lượng pectin nhiều hơn táo một chút. Như vậy các đậu này
giữ vai trò quan trọng trong sự làm giảm lượng cholesterol trong máu,
còn tốt hơn cả loại cám yến mạch (oat bran).
Trong các loại đậu, đậu nành được xem là hữu hiệu nhất để giảm cholesterol và triglyceride trong máu.
Nghiên
cứu ở Ý và Thụy Sĩ cho thấy là, bệnh nhân có cholesterol cao, mà ăn
nhiều chất đạm từ đậu nành thay thế cho thịt cá, thì mức cholesterol
của họ giảm xuống 31%. Kết quả này xem ra còn tốt hơn tác dụng của các
loại thuốc giảm cholesterol đắt tiền bán trên thị trường. Bác sĩ James
Anderson, Đại học Kentucky, khuyên bệnh nhân mỗi ngày ăn một cốc đậu
pinto nấu chín để hạ cholesterol.
2-Cũng theo bác sĩ Anderson,
ăn đậu thường xuyên giảm nhu cầu Insulin để chữa bệnh tiểu đường, vì
đậu làm đường trong máu tăng lên rất chậm.
3-Gần đây các nhà
khoa học lại mới tìm ra một tác dụng vô cùng bổ ích của các hạt đậu, đó
là khả năng chống ung thư. Đậu có chứa chất acid phytic, một chất chống
oxi hóa rất mạnh. có thể chận đứng tiến trình ung thư hóa của tế bào.
Ngoài
ra, khảo cứu ở súc vật trong phòng thí nghiệm cho thấy đậu “bean”, đậu
“pea” và đậu lăng “lentil” có chứa chất ức chế protease là chất có khả
năng phòng chống ung thư da, vú và gan. Thử nghiệm ở người cũng thấy
tác dụng tương tự về phòng chống ung thư vú và nhiếp hộ tuyến.
Chuyên
gia về ung thư Anne Kennedy cho chuột ăn một hóa chất gây ung thư,
nhưng khi chất ức chế protease được bôi vào miệng chuột thì ung thư
không xẩy ra.
4-Đậu giúp đại tiện đều đặn, dễ dàng vì phẩn to
hơn, mềm hơn, từ đó giảm thiểu được các nguy cơ ung thư ruột già và
trực tràng. Đó là kết quả các nghiên cứu của Tiến sĩ Sharon Fleming,
Đại học Berkeley, California.
5-Một khoa học gia Ấn Độ, SN.
Sanyaldan nhận thấy dân số Tây Tạng không thay đổi trong suốt 200 năm.
Thực phẩm chính của họ là đậu. Sau nhiều năm tìm hiểu, ông ta thấy đậu
có khả năng ngăn ngừa sinh đẻ nhờ hóa chất m-xylohydroquinone. Ông ta
thử cho đàn bà dùng thì tỷ lệ sinh đẻ giảm hẳn, mà đàn ông dùng thì số
lượng tinh trùng cũng giảm. Nhận xét này đang được nghiên cứu kiểm
chứng thêm. Ngoài ra có lẽ tác dụng của nó không mạnh bằng các dược
phẩm ngừa thụ tinh hiện có, nên ít ai để ý tới.
Một vài vấn đề khi ăn Đậu
Một đặc tính của đậu là sản xuất rất nhiều hơi (gas) trong ruột, với hậu quả gây ra trung tiện làm cho ta mắc cỡ.
Nguyên
do là vì nhiều người thiếu diêu tố (enzyme) để tiêu hóa chất đường
alpha-galactosides trong đậu. Khi xuống ruột, đường này bị các vi sinh
vật phân hóa, tạo ra nhiều chất hơi. Nhưng kinh nghiệm cho hay nếu
thường xuyên ăn đậu thì trở ngại này có thể không đáng kể vì cơ thể sẽ
quen đi.
Vả lại, các bác sĩ đều cho biết trung tiện không phải là một vấn đề sức khỏe mà chỉ có thể là một vấn đề trong giao tế xã hội.
Ông Tổ của nền Y học Tây phưong Hippocrates nói rằng trung tiện cần thiết cho sức khỏe con người.
Dân Trung Hoa cho rằng trung tiện là dấu hiệu của một sự tiêu hóa tốt.
Benjamin
Franklin, một trong những vị cha già lập quốc của nước Mỹ, đã viết một
đoạn văn hài hước về hiện tượng tiêu hóa này. Ông đề nghị các nhà bác
học hãy thí nghiệm để tìm ra chất nào khiến con người ăn vào có thể sản
xuất ra trung tiện có mùi thơm tho.
Không phải chỉ các loại đậu
mới tạo ra hơi trong ruột. Các thực phẩm khác như ngũ cốc, hành, tỏi,
bắp su và nhiều thức ăn có chất xơ (fiber) đều tạo ra hơi do phản ứng
hóa học hoặc sự lên men trong ruột.
Có nhiều cách để làm giảm bớt hơi của đậu trong quá trình tiêu hóa.
Chuyên viên hóa học Alfred Olson giới thiệu cách sau đây.
Trước
khi nấu, ta hãy ngâm đậu với nước trong một đêm; sau đó đổ nước đi.
Nhúng đậu trong nước sôi, hay nấu lên vài phút, sau đó lại ngâm nước
khoảng 4 tiếng đồng hồ trước khi đem ra nấu với thức ăn khác. Khuyết
điểm của cách này là đậu sẽ mất đi nhiều khoáng chất và sinh tố.
Một
phương pháp thứ hai là xay đậu để làm thành bột nhão rồi nêm thêm muối,
xì dầu (soya sauce), tiêu, ớt cắt vụn vào bột nhão để chế biến thành
các món ăn cho hợp khẩu vị. Không nên chộn thêm hành tỏi, vì các món
này tạo ra hơi nhiều hơn.
Một vấn đề khác nữa là Đậu khô có
nhiều chất purine. Với một số người nhậy cảm, purine có thể làm tăng
uric acid trong máu, đưa tới bệnh thống phong gout. Tinh thể acid uric
đóng trên khớp xương mà thông thường nhất là ở ngón chân cái làm người
bệnh rất đau nhức.
Một vài loại đậu có hóa chất làm tiêu hủy sự
hấp thụ các sinh tố B, E, D, beta carotene trong ruột. Một số đậu khác,
nếu không nấu chín, có thể có vài chất dính liền với khoáng sắt, đồng,
khiến hồng cầu tụm lại với nhau.
Đậu phọng là một trong mươi thực phẩm thông thường nhất gây ra dị ứng hoặc nhức nửa đầu ở một số ít người dễ nhậy cảm.
Vài loại đậu thường ăn
Trên
thị trường, có đậu tươi, đậu khô, đóng hộp hoặc đông lạnh. Mỗi thứ có
một hương vị độc đáo, một hình dáng riêng biệt và cách nấu nướng cũng
khác nhau.
-Đậu đỏ thường nấu chung với gạo, với thịt (stew), làm xà lách hoặc dùng trong món chili.
-Đậu
lima mầu trắng kem hoặc xanh nhạt, hạt nhỏ, hình trái thận. Đậu này
thường dùng để nấu súp, làm xà lách, hoặc hầm với thịt gà. Hầu hết đậu
lima đều được đóng hộp, làm đông lạnh trước khi tung ra thị trường.
-Đậu Pinto mầu cam, hình bầu dục dùng nhiều trong món cơm nấu kiểu Mexicain hoặc để hầm với các loại thịt.
-Đậu đen hạt nhỏ, đen bóng ta dùng để nấu chè đường, nấu súp hoặc ninh với thịt.
-Đậu Adzuki hạt nhỏ, mẫu đỏ bóng loáng dùng làm xà lách, nhồi gà vịt, nấu súp hoặc ninh với thịt.
-Đậu
nành hạt nhỏ mầu vàng hoặc hơi đen làm đậu hũ, tương và nhiều loại thực
phẩm rất ngon khác. Kinh nghiệm ăn uống dân gian ta nói “Đậu nành là
anh nước lã” hoặc “Đậu nành rang, cả làng khát nước”. Ý nói sau khi ăn
đậu rang này thì rất khát nước.Đậu nành rất phổ biến ở quê hương ta,
với nhiều phó sản độc đáo, như tương, chao, đậu phụ...
-Đậu Hà
Lan mà chỉ có một số nhỏ tươi được bán, còn hầu hết được đóng hộp hoặc
làm đông lạnh. Khi còn tươi, đậu có mầu xanh sáng, sờ hơi mềm như
nhung. Đậu đóng hộp rất thông dụng và dùng trong việc chế biến nhiều
món ăn khác nhau.
Việt Nam ta có đậu đũa, đậu ván, đậu ngự, đâu cô ve, Hòa lan, đậu đỏ, đen, đậu nành, đậu xanh, đậu tây, đậu nâu, đậu xoắn, .
Công dụng trị bệnh trong y học cổ truyền:
Ngoài giá trị dinh dưỡng, một số đậu còn được y học dân gian ta dùng làm thuốc trị bệnh. Đó là:
a-Đậu
ván trắng: còn gọi là bạch biển Đậu ván có vị ngọt, tình hơi ôn, tác
dụng vào kinh tỳ và vị. TRong y học cổ truyền, đậu ván khô được dùng để
chữa cảm sốt mùa hè, nôn mửa, tiêu chẩy, tỳ vị suy nhược, chán ăn, rối
loạn tiêu hóa; làm thuốc giải nhiệt, co giật khi nóng sốt cao; giúp tóc
lâu bạc.
b- Đậu Xanh: Vỏ đậu xanh không độc, vị ngọt, tính nhiệt
có tác dụng giải nhiệt, làm mắt không mờ. Hạt đậu xanh cũng có tác dụng
giải nhiệt, giải độc tính của thuốc và kim loại, nấm, tiêu trừ phù
thũng, chữa sỏi đường tiết niệu, phòng và chữa cháy nắng.
c- Đậu
Đen: Đậu này thường dùng để nấu xôi, nấu chè ăn rất ngon. Ngoài ra, đậu
cũng bổ thận, lợi tiểu, nước tiểu trong hơn và nhiều hơn. Sách Tuệ Tĩnh
Nam Dược có ghi đậu đen dùng để chữa đau bụng giữ dội; trúng gió chân
tay tê cứng, chóng mặt, sây sẩm khi sinh đẻ; chữa mắt mờ ra gió dễ chẩy
nước mắt; chữa dị ứng, lở ghẻ, hen suyễn khi đổi thời tiết.
d-
Đậu phọng: Đậu phọng có công dung dinh dưỡng cao, có nhiều chất béo,
đạm và nhiều loại sinh tố. Dầu lạc dùng làm dầu ăn, đốt đèn và chế
thuốc.
e- Đậu nành: Đây là nguồn chất đạm rất quan trọng tại
nhiều quốc gia, nhất là quốc gia đang mở mang. Trong y học, đậu nành
dùng làm thức ăn cho người bị viêm khớp, người mới bình phục sau cơn
bệnh nặng, đặc biệt là những người bệnh tiểu đường, huyết áp cao và có
nhiều mỡ trong máu.
g-Đậu Đỏ. Đậu này có vị ngọt nhạt hơi
chua, tính bình. tác dụng vào kinh tâm và tiểu trường. Y học dân gain
dùng đậu đỏ để trị thủy thũng, sưng phù chân, bụng trướng, đau dạ dầy,
tả lị, trĩ đại tiện ra máu, bệnh thiếu vitamin B1, vàng da, lở loét.
Trẻ con chậm biết nói thìthì các cụ lấy đậu tán nhỏ hòa với rượu bôi
dưới lưỡi hàng ngày.
Bác sĩ Nguyễn Ý Đức
Texas-Hoa Kỳ