Hằng năm cứ
vào dịp cuối năm, khi mùa Xuân nơi cuối ngõ và tân niên sắp trở về là
mùa hoa mai lại rộ nở. Mỗi lần khi Xuân về ba tôi dẫn tôi ra chợ hosa
Sài Gòn, những năm xưa dó chợ hoa ngày Tết chạy dài trên đường Nguyễn
Huệ từ khúc đường Lê Lợi thẳng về gần bờ sông Sài Gòn. ...
... Chợ hoa thì gồm đủ loại hoa từ các nơi mang về, hoa mai xem như đóng vai trò chính vào dịp Tết trong mỗi gia đình, rồi cuối cùng ba và tôi mang về ít nhất một nhành mai mà ông cẩn thận chọn.
Kỷ niệm và nguồn gốc hoa mai:
Ở
xứ Mỹ đã lâu mà cái may cho tôi được định cư ngay tại quận Cam có phố
Sài Gòn Nhỏ nên mỗi dịp Tết đến, hương Xuân vẫn đong đầy quang phố, ví
dụ ta đi từ khu vực chợ ABC đi đọc trên đường Bolsa hướng về góc
Brookhurst xong quẹo trái về khu vục chợ Đồng Hương, tâm hồn của người
lữ khách từ phương xa sẽ ấm lòng khi chính tay minh lựa chọn một cành
mai chiếu thủy hay một chậu mai tứ quí vừa ý. Tôi nhớ ba tôi chỉ chọn
nhành mai có nhiều búp thì minh mới chưng lâu trong cả tuần lễ Tết nhất
để đón lộc may. Nếu muốn nụ mai sơm nở, chúng ta chỉ cần hơ lửa gốc
mai, thế là hôm sau hoa mai nở rộ, lý do ba giải thích khi hơ lửa nóng,
nhựa trong thân cây sẽ tăng độ chuyển dịch về ngọn để các búp mai buộc
nở hoa. Những lộc lá non trên cành hoa mai cũng đươc người thưởng ngoạn
mai như ba tôi chú ý nhiều. Màu xanh lục của lá non có màu lam như
ngọc từ trong những búp hình móng gà tỏa ra. Những chùm lá non này đã
đượm màu cho những chùm hoa vàng thêm ý nghĩa hơn trong vẻ đẹp.
Tôi
nhớ có thấy hoa mai 6 cánh tại Việt Nam. Loại thông thường là 4 hay 5
cánh không quí bằng, dĩ nhiên trị giá bán không thể so sánh với mai 6
cánh được. Giữa loài hoa mai mà con người cũng định giá bằng những tiêu
chuẩn khác nhau khi ta có dịp bàn thảo về các nhà trồng mai hay thưởng
ngoạn hoa mai. Ba tôi có người bạn đồng sự rất say sưa với cây kiểng,
mỗi khi ông bàn về cây kiểng với ba tôi tôi nghe như ông mang cả triết
lý hay quan niệm dịch lý của phương Đông là đưa mai từ vũ trụ quan vào
nhân sinh quan của truyền thống tạp tục của dân tộc.
Tôi nhớ có
lần tôi hỏi ba tôi vì sao tôi mang tên của loài hoa ngày Tết thì ba tôi
giải thích ông rất thích hoa mai, những loại mai quí, và rồi tôi hân
hạnh với cái tên "Ngọc Mai" mà ba tôi đã đặt cho tôi. Khi tôi viết bài
này tôi nhớ lại những ân tình vô giá mà ông đã dành cho tôi.
Trở
về chuyện Tết nhất đầu năm, chúng ta hãy nhớ lại kỷ niệm xưa nào đó ngó
lên bàn thờ gia tiên có lư hương đồng bóng loáng, có mâm ngũ quả, có
bánh chưng hay bánh tét, có mâm mứt, có trà mạn sen, có cặp dưa và có
nhành mai ngày Tết và hỡi bạn còn nhớ hương thơm của mai khi tỏa hoa
cho lộc may đầu năm ? Thật vậy, hoa mai rất thơm. Đặc biệt khi tiết
trời đầu năm càng lạnh, khiến cho mai càng tỏa hương thơm ngát. Chính
cái khứu giác đó làm cho ta trân quí mai hơn.
Tôi tra cứu sách thực vật học về nguồn gốc của hoa mai và được biết như sau:
Tên Việt: mai vàng
Tên Hoa: hoàng mai
Tên Anh: Vietnamese mickey-mouse plant
Tên khoa học: Ochna integerrima
Họ: Ochnaceae
Mai
có các loại như mai tứ quý (Ochnaceae serrulata, quế diệp hoàng mai
(Ochnaceae kirkii Oliv. Heima), mai chiếu thủy (Wrightia religiosa).
Mai
và đào chính ra cùng dòng họ, nhưng về sau các nhà thực vật học nghiệm
thấy đào (peach) hay mơ (apricot), mận (plum hay prune) và anh đào
(cherry) là loại ra quả, nên tách riêng dòng họ mai ra. Mai có nhiều
màu như: hoàng mai, hồng mai, và bạch mai. Ở Việt Nam người ta gọi hồng
mai là hoa đào hay mơ, nở hoa dịp đầu xuân. Miền bắc có nhiều đào và
mơ. Tại miền nam, chỉ có vùng cao nguyên lâm viên Dà Lạt thích hợp cvho
đào và mơ.
Cây đào hay mơ như đã nói chỉ trồng được ở miền Bắc,
là loại hoa đặc biệt của tết Nguyên đán. Nhiều người chuộng chơi hoa
đào tết vì hoa đào có màu đỏ sẽ mang lại sự may mắn trong năm. Ðào được
phân loại có 4 giống: Giống "đào bích" có màu hồng thẫm, sai hoa là một
loại đào dùng để cắm chơi trong các ngày tết. "Ðào phai" hoa màu hồng
nhạt cũng sai hoa và thường được trồng để lấy quả. "Ðào bạch" ít hoa
hơn, tương đối khó trồng. Các loại đào này đều có hoa kép. Giống "đào
thất thốn", cây thấp nhỏ, hoa nhỏ và nhiều màu, màu đỏ thẫm thường được
trồng vào chậu uốn thành các dạng thế.
Về loại mai vàng tại
miền nam có nhiều. Nếu như hoa đào, chi mai là đặc sản của miền bắc vào
ngày tết, thì hoa mai vàng lại là đặc sản của miền nam. Mai vàng thuộc
họ hoàng mai, là một loại cây rừng. Cây mai vàng cũng rụng lá vào mùa
Ðông, thân, cành mềm mại hơn cành đào. Hoa mai vàng mọc thành chùm và
có cuống dài treo lơ lửng bên cành, ở nách vệt cuống lá và hơi thưa.
Hoa màu vàng, có mùi thơm, e ấp và kín đáo. Mai vàng còn có giống sau
khi cho hoa còn kết quả màu đỏ nhạt bóng như ngọc, là mai tứ quí và nhị
độ mai.
Mai trồng để lấy hoa vào dịp tết Nguyên đán được trồng
từ hạt hay triết cành. Có thể trồng mai vàng ngoài vườn, vào bồn hay
vào chậu đều được. Mai ưa ánh sáng và đất ẩm. Người miền Nam thường
chơi hoa mai vàng vào những ngày tết. Còn giống hoa nước gọi là mai
chiếu thủy, cây lá nhỏ, hoa nhỏ mọc chùm trắng và thơm, thường trồng
vào núi đá non bộ, ra hoa mùa xuân, cây và cành được uốn tỉa lại thành
cây thế.
***
Hoa mai trong văn chương Việt Nam:
Ngày
Xuân là dịp người thi sĩ nâng bút, người họa sĩ vung cọ dể thi họa. Tôi
truy lục được một số thơ văn tiêu biểu cho bài viết biên khảo này như
sau:
1) Với Quách Tấn:
Thi sĩ Quách Tấn vốn yêu hoa mai và ông đã viết về loài hoa này như sau:
"Mai
là một đề tài rất thông dụng. Thi nhân dùng để tượng trưng cho niềm
tiết tháo, cho lòng tinh khiết của mình. Thói đa tình cũng thường biểu
lộ trong thơ. Chúng ta đã thấy rõ những điểm ấy trong bài thơ Mai chúng
ta đã được đọc.
Và nhân đọc thơ Mai, chắc các em cũng như tôi không khỏi nghĩ luẩn quẩn:
-
Mai kết bạn cùng tùng, trúc, luôn làm đại biểu cho giới nam nhi. Liễu
luôn đại biểu cho giới phụ nữ. Còn Mai, khi thì đàn ông, khi thì đàn
bà. Như thế có phải Mai là Đức Quán Thế Âm Bồ Tát của loài thực vật có
sắc, có hương ?
- Phi thị, thị phi cần chi phải biện bạch. Xem
thơ mà tìm được cái thú do nhận thức, do tưởng tượng, do suy tư…, đó là
đạt được mục đích. Bởi đối với chúng ta, xem thơ, nói chuyện thơ, không
có mục đích nào khác hơn là hưởng thú, hưởng thú để di dưỡng tính tình,
đẻ tăng tiến trên đường học vấn.
Nhưng không nên lý luận suông
mà sanh chán. Bấy nay đã đem Mai của cổ nhân ra làm quà cho các em, tuy
chưa được bao lăm, song các em đã biết qua mùi vị. Bây giờ tôi xin gửi
đến các em một ít "cây nhà lá vườn".
Xuân Giáp Dần (1974), nhân
khóm Mai trong vườn, trong tháng giêng, tháng hai nở lác đác, sang
tháng ba mới nở vun cành, tôi cao hứng ngâm được một luật:
"Giếng ngọt Giang Nam một khóm già
Xuân ngoài sáu chục nhánh trĩu hoa
Tình Xuân còn đợi duyên công chúa
Hương muộn càng say giấc Tố Nga
Mộng ngấm sương khuya hồn đọng ngọc
Vần gieo gió sớm bút trao già
Hỡi người thức trắng đêm thương nhớ
Tiếng địch thành cao vọng bến xa"
Tứ
tuy không thoát khỏi phạm vi ảnh hưởng của cổ nhân, nhưng tình cảm chân
thiết, nên chép ra lòng không mấy ngại ngùng. Gần đây, nhân thấy một
người hàng xóm vất nhánh mai hết thời nơi xó nhà bếp, tôi cảm tác được
bốn vần:
"Trước Tết Mai là hoa
Sau tết Mai là củi
Trước bao nhiêu nâng niu
Sau bấy nhiêu hất hủi
Nâng niu Mai chẳng mừng
Hất hủi Mai không tủi
Nghìn trước ngẫm nghìn sau
Khe trong lồng bóng núi."
Nhìn
qua thì an nhiên tự tại, nhưng chíp chắp vẫn thấy chua chát ngậm làm
ngon, làm ngon để giữ lòng được an nhiên tự tại. Tôi nhận thấy người
cũng như mình, xưa cũng như nay, nói đến MAI chỉ vì mình mà nói, chớ
chưa từng thấy thi nhân nào vịnh Mai vì Mai. Đối với Mai như thế kể
cũng phụ phàng quá ! Song Viên Mai lại nói:
"Thơ vịnh vật mà
không có ký thác thì chẳng khác lời đùa của trẻ em…, thì thơ kia là Mai
hay Thi Nhân đâu còn là hai nữa, mà người đọc chúng mình còn phân biệt
Ngã, Nhân. Thơ vịnh Mai là thế. Thơ vịnh các vật khác cũng thế.", Quách
Tấn.
2) Với Vũ Hoàng Chương:
Nhà thơ Vũ Hoàng Chương cũng cho nhiều thơ về hoa Mai như:
"Cao sâu từng nhập bóng cây già
Cây vẫn thân xưa bóng chẳng nhòa
Vườn trải băng sương trăm thức cỏ
Xuân còn thúy vũ một cành hoa
Lòng nghe nắng ấm say đôi chút
Cánh để men hồng nhuốm phớt qua
Vang tiếng chim xanh về hót đấy
Bồng lai hẳn nhớ kẻ đi xa"
(bài "Tết Đề Mai", VHC)
"Rồng lên một bóng u hoài
Ôi thôi từng khúc ngã dài tâm tư!
Chín giao thừa, tám năm dư
Cành mai trắng mộng đêm trừ-tịch xuông..."
("Cành Mai Trắng Mộng", VHC)
"Ngàn mai lối tuyết đêm đông lạnh
Hai gã say sưa lạc nẻo về
Đắm giấc mơ tình trên nệm tuyết
Quanh người âu yếm lá mai che"
hay,
"Tuyết tan mai rụng còn đâu nữa
Dĩ vãng tìm đâu một chút ghi
Chăn gối đêm xưa nơi vực thẳm
Điêu tàn mang cả ái ân đi"
rồi,
"Mai Tuyết là hai nàng bạc mệnh
Lấy xuân làm mộ nắng làm tang
Nâng niu đưa tới nguồn say đắm
Chỉ một đêm đông gió phũ phàng."
("Hận Rừng Mai", VHC)
3) Với Sương Nguyệt Anh:
Khi
viếng Điện Núi Bà hay Linh Sơn Thánh Mẫu, nơi thắng cảnh thiên nhiên
rất hùng vỹ, uy nghi, trước những hàng mai trắng đang trổ hoa mừng
xuân, nữ sĩ Thụy Khuê Sương Nguyệt Anh cảm tác hai bài thơ tiêu biểu là
"Thưởng Bạch Mai Cảm Đề" và "Linh Sơn Nhất Thụ Mai" như sau:
"Non Linh đất phuớc trổ hoa nhân
Riêng chiếm vườn hồng một cảnh xuân
Tuyết đượm nhành tiên in sắc trắng
Sương pha bóng nguyệt ánh màu ngân
Mây lành gió lạnh nương hơi chánh
Vóc ngọc mình băng hắt khói trần
Sắc nước hương trời nên cảm mến
Non linh đất phước trổ hoa thần.
("Thưởng Bạch Mai Cảm Đề")
Và bài thơ Đường làm bằng hán tự khi xuân vịnh về tại Linh Sơn mà nữ sĩ Thụy Khuê đã cảm tác:
"Quỳnh tư ngọc cốt bản thiên chân
Tịnh độ cô liêu viên tục trần
Noãn nhập ám hương xuân dật từ
Hàn xung sơ ảnh nguyệt tà thần
Tuyết trung tự khước lưu phong vận
Phong ngoại ưng liên đạp tuyết nhân
Thừa hứng mạc hiếm sơn thủy viễn
Đồng lai dữ tử phú dương xuân".
("Linh Sơn Nhất Thụ Mai")
Bài thơ trên được thi sĩ Hi Đạm chuyển ngữ sang Việt ngữ:
"Ngọc quỳnh cốt cách trời ban
Đất tịnh trơ vơ lánh thế gian
Ấm áp hương đầm xuân buổi sớm
Lạnh lùng bóng nhạt nguyệt đêm tàn
Nghĩ thân ánh tuyết hơi sương đượm
Thương kẻ hài sương gót tuyết chan
Mến cảnh nước non xa chớ ngại
Cùng lên ngâm vịnh tứ xuân tràn."
4) Với Cao Bá Quát:
Thơ ông ca ngợi hoa mai như sau:
"Thập tái luân giao cầu cố kiếm
Nhất sinh đê thứ bái mai hoa."
(Mười năm chu du tìm gươm cổ
Cả đời chỉ cúi lạy hoa mai).
Cao tiên sinh cúi đầu lạy hoa mai một kiếp đời trân quí hoa mai.
5/ Với Nguyễn Du:
Nguyễn
Du tiên sinh nhìn bộ đồ trà có cây mai làm đề tài. Nổi tiếng trong
đương thời là bộ chén dĩa trà"Mai hạc" có câu thơ nôm trích trong
truyện Kiều của Nguyễn Du:
"Nghêu ngao vui thú yên hà
Mai là bạn cũ, hạc là người quen."
Cây
mai ở bộ tách uống trà này vẽ cành mai uốn cong rất nhiều hoa nở và
một con chim hạc đứng trên bờ đá. Bộ trà mang màu men xanh ngọc và đề
câu thơ chữ Hán "Hàn mai xuân tín tảo", tức là cành mai mùa lạnh báo
tin xuân sớm về.
Thật ra văn hóa ấm trà còn nhiều lắm, tôi đọc
tài liệu đâu dó mà nay đã quên. Nói chung trong văn hóa các loại sành
sứ có dùng biểu tượng của hoa mai. Tính chất thanh nhã của loài hoa này
đã đi vào văn hóa của dân tộc Việt Nam. Nghệ thuật hội họa cũng chọn
mai làm bao đề tài cho mùa Xuân hay cho ngày Tết. Thơ văn hay hội họa
xoay quanh 4 loài kiểng quí, hay nôm na là "tứ quí", mà hoa mai đã dân
đầu: Mai, Lan, Cúc, Trúc. Các nhà Nho thường trang trí bộ tranh họa
ngày xưa thời nho học thì hoa mai xuất hiện nhiều trong các bộ tranh vẽ
qua nhiều kiểu khác nhau như mai bên hoa cúc, mai xen trong cành trúc
hay mai lan song cặp,... bên cạnh là những dòng thơ ngắn bằng hán tự
trong nét thư họa bay bướm và tất cả nói lên ý nghĩa cao quí của mùa
Xuân về với chúng ta. Phải chăng hoa mai đã phô sắc diễm kiều, hoa mai
đã đóng góp một sắc thái văn hóa dộc đáo cho dân tộc Việt Nam. Sự rực
rỡ của màu hoa mai đang nở rộ trong ba ngày Tết thêm lá non nẩy lộc
tươi mát mới là điềm thịnh vượng, phát lộc, phát tài và nó còn bao hàm
ý nghĩa của sự hạnh phúc hay sung túc cho gia đình hay cho một đoàn thể
hay một tổ chức thương mại nào đó nhân dịp đầu năm, khởi sự cho một chu
kỳ mới của con người. Người người làm ăn phát đạt sung mãn của năm mới
đang đến với xa hội nói chung.
Thi ca về hoa Mai còn nhiêu,
tôi xin buớc sang lãnh vực âm nhạc. Ngày Xuân mới hay ngày Tết về làm
phơi phới thiên nhiên, làm xôn xao không gian qua vai trò của âm nhạc.
Âm nhạc về hoa mai:
"Bông mai vàng thuở nàng còn trẻ
Trên lối đi về lắm kẻ đợi mong
Bây giờ tình đã sang sông..."
("Lý Bông Mai" - Kim Tuấn & Trương Quang Tuấn)
"Con biết bây giờ mẹ chờ tin con
Khi thấy mai vàng nở rộ bên sông..."
("Xuân Này Con Không Về" - Duy Khánh)
"Mùa xuân... tung tăng trên phố phường
Nhánh mai vàng... khoe sắc đưa hương"
("Bên Nhau Mùa Xuân", Lê Quốc Thắng)
"Anh cho em mùa xuân,
Nụ hoa vàng mới nở..."
("Anh Cho Em Mùa Xuân", Nguyễn Hiên)
Nhạc
mừng Xuân mới hay mang âm hưởng vui tân niên có hoa mai còn nhiều lắm.
Ta đã đi từ thơ Quách Tấn, Vũ Hoàng Chương, Sương Nguyệt Anh, Cao Bá
Quát, Nguyễn Du đến âm nhạc Xuân của Nguyễn Hiền, tất cả đều nói đến
nét đẹp của mùa Xuân kèm theo vẻ thanh tao của hoa mai, vì hoa mai đã
hòa nhập vào nếp sống của dân gian. Hoa mai mặc nhiên góp phần cho văn
hóa xã hội thăng hoa giá trị tâm hồn chúng ta vậy.
***
Tóm
lại, hoa mai góp mặt tại quê hương Việt Nam đem lại nếp sinh động trong
tâm hồn văn hóa Việt tộc, mai đến rồi đi, rồi trở lại theo chu kỳ của
mùa Xuân, của những ngày Tết mới của năm, mai đi từ vũ trụ quan của
thiên nhiên đến góp phần vào nhân sinh quan trong hồn dân tộc, mai là
biểu tượng đẹp đẽ, hài hoà trong lòng văn hóa Việt. Mai là nguồn vui
cho mọi người chúng ta nói chung khi mùa Xuân về.
Với riêng tôi,
Mai là loài hoa tôi mang tên và bài viết này như là những lời ân tình
trân quí nhất của tôi kính gởi đến ba má tôi với lời chúc mừng đầu năm.
Pham Ngọc Mai