Hội nghị “Việt Nam và các Nhiệm kỳ Tổng thống”

Theo Dan Chim Viet - Nguyễn Sông Thương - 16-01-2006

Hội nghị về chiến tranh Việt Nam

Theo bản thông cáo báo chí ngày 10 tháng giêng 2006 của Thư viện và Viện Bảo tàng Tổng thống John F. Kennedy tại Boston, Văn khố Quốc gia và tất cả các Thư viện Tổng thống Hoa Kỳ sẽ tổ chức một hội nghị lịch sử kéo dài hai ngày, 10 và 11/3/2006, về Việt Nam và các Nhiệm kỳ Tổng thống. Hội nghị chưa từng có này sẽ xét lại lịch sử chiến tranh Việt Nam và các Nhiệm kỳ Tổng thống Hoa Kỳ. Hội nghị miễn phí, mở cửa cho mọi người sẽ tổ chức tại Thư viện Tổng thống John F. Kennedy ở Boston.

“Việt Nam và các Nhiệm kỳ Tổng thống” là hội nghị quốc gia đầu tiên được sự bảo trợ của tất cả các Thư viện Tổng thống – từ Hoover đến Clinton – và Văn khố Quốc gia Hoa Kỳ. Các sử gia hàng đầu, những chính khách chủ yếu trong thời chiến Việt Nam, và các nhà báo đã tường trình về cuộc chiến sẽ xét lại tất cả, từ những dữ kiện trước cuộc chiến, các quyết định của Tổng thống, tường thuật của giới truyền thông, dư luận quần chúng, những bài học thu được, đến ảnh hưởng của kinh nghiệm Việt Nam trong chính sách bang giao sau này.

Trong số người tham dự hội nghị có tướng hồi hưu Alexander Haig, cựu Ngoại trưởng Henry Kissinger, Cố vấn đặc biệt của Tổng thống Kennedy, Theodore Sorensen, Phụ tá Đặc biệt của Tổng thống Johnson, Jack Valenti, Thượng Nghị sĩ Chuck Hagel, nhà báo Bob Herbert của tờ New York Times, các ký giả truyền hình Steve Bell (ABC News) và Dan Rather (CBS News), cựu Đại sứ Pete Peterson, giáo chức đại học và các tác giả về chiến tranh Việt Nam George Herring, Robert D. Schulzinger, Marilyn Young, David Halberstam and Frances Fitzgerald, những sử gia Michael Beschloss, David Kaiser và Jeffrey Kimball. Cựu Tổng thống Jimmy Carter sẽ phát biểu qua video. Brian Williams của NBC News sẽ điều hợp tất cả mọi phiên họp trong ngày thứ nhì của Hội nghị.

Cuộc chiến tại Việt Nam là chiến tranh dài nhất, gây nhiều tranh cãi nhất mà Hoa Kỳ đã tham dự. Trong Chiến tranh Việt Nam, Hoa Kỳ mất hơn 58.000 người và có hơn 3 triệu người Việt đã thiệt mạng. Kể từ ngày các cố vấn quân sự Mỹ có mặt tại Việt Nam từ những năm 1950 đến ngày Sài Gòn thất thủ, 30/4/1975, cuộc chiến Việt Nam là tâm điểm của các chính sách ngoại giao thời Chiến tranh lạnh của các Tổng thống Eisenhower, Kennedy, Johnson, Nixon và Ford. Chiến tranh Việt nam tiếp tục có ảnh hưởng đến chính sách của các nhiệm kỳ Tổng thống sau đó và di sản của cuộc chiến 30 năm trước đặc biệt thích hợp với chiến tranh của Hoa Kỳ chống khủng bố hiện nay.

Người đứng đầu ngành lưu trữ văn thư của Hoa Kỳ, Allen Weinstein, nhận định “Chúng tôi hy vọng và mong rằng hội nghị này sẽ tiết lộ thêm nhiều thông tin mới về chiến tranh Việt Nam và những ảnh hưởng của cuộc chiến này với vai trò Tổng thống Hoa Kỳ. Là những cơ quan gìn giữ và quản lý tài liệu lịch sử quốc gia, Văn khố Quốc gia và các Thư viện Tổng thống ở vị trí duy nhất để tạo dựng một diễn đàn nhằm xét lại ảnh hưởng của chiến tranh Việt Nam đối với đất nước và dân chúng Hoa Kỳ.”


…Không có người Việt Nam và người Mỹ gốc Việt Nam

Như nêu trên, danh sách diễn giả tham dự hoàn toàn không có một tên tuổi Việt Nam. Phạm X. Quang, tác giả “A Sense of Duty: My Father, My American Journey”, blog phản đối trên “Vietnam Review Blog”. Quang cho hay sau nhiều lần liên lạc với Thư viện Kennedy bằng điện thư và điện thoại, nhân viên trách nhiệm vẫn tảng lờ không trả lời yêu cầu về sự có những khuôn mặt đại diện cộng đồng người Mỹ gốc Việt. Quang viết cho Trung tâm Kennedy, “Tôi yêu cầu quý vị có những khuôn mặt đại diện cộng đồng người Mỹ gốc Việt: một cựu chiến binh, một chính khách và/hay một người tị nạn, những người này không những chỉ đã sống qua cuộc chiến mà còn vượt chết đến Hoa Kỳ kể lại nỗi hãi hùng của nó cho người Mỹ biết. Ba triệu người Việt nam, cả hai bên, đã chết. Khoảng 250.000 chiến sĩ Nam Việt Nam tử trận. Có gần 2 triệu người Việt Nam đang sống trên đất Mỹ. Họ là những người Mỹ đã trực tiếp bị ảnh hưởng vì thảm kịch ấy.”

Trên Vienam Review Blog, Phạm X. Quang viết, “Có lý do chính đáng để phản đối. Có phải ban tổ chức dùng tiền thuế của dân Hoa Kỳ để dựng diễn đàn hợp lý và cân bằng hay không? Còn nhiều nhà báo, chính khách, học giả cựu chiến binh và những người nổi bật khác cũng không có tên (trong danh sách diễn giả ở hội nghị).”

“Ai đủ tư cách phát biểu thay cho cộng đồng người Mỹ gốc Việt? Tuổi tác, giọng nói, sức khoẻ, đời sống riêng tư có phải là những nhân tố ngăn cản (sự có mặt của người Mỹ gốc Việt)?”


Ngoài dự định viết ở vài cột quan điểm, Quang định đến tham dự hội nghị ở Boston và viết freelance cho vài nhật báo (bằng tiếng Anh và sẽ dịch sang tiếng Việt), một số trang web và ghi lại ấn tượng trên Blog riêng của mình.

Quan tâm của Quang vẫn là ai sẽ đại diện cho cộng đồng người Mỹ gốc Việt, chẳng lẽ, “tôi có thể lại ngồi xem một các ông bà ấy, một bè như cũ, lý luận tại sao hơn 3 triệu người Việt Nam, hơn 58 ngàn người Mỹ và vô số người khác đã chết sau khi trận chiến kết thúc”?

Cũng ở Vietnam Review Blog, Jean Libby, trong phần góp ý với Phạm X. Quang viết, “Vấn đề ở đây là việc đưa đồng minh của Mỹ vào Hội nghị. Lịch sử chiến tranh Việt Nam bị đánh mất trong dòng xoáy cho rằng Việt Nam Cộng Hòa đã không phải là một thực thể xứng đáng để được tranh đấu, đã không có người lãnh đạo và những người hiểu và muốn dân chủ. Lịch sử chiến tranh Việt nam ở Mỹ đang được kể lại qua giọng của kẻ chiến thắng cho đây là một phong trào vì độc lập. Thế hệ đang trưởng thành ở Mỹ tin như thế, những luận cứ này nằm đầy trong sách giáo khoa.”

Libby cũng không cho Kissinger hay Ted Sorensen và Jack Valenti là những diễn giả xứng đáng, là những người tin vào dân chủ, “Kissinger chỉ muốn đem Hiệp định Paris 1973 làm di sản lịch sử cho riêng mình cùng tô điểm, đánh bóng sự phản bội (của Kissinger) với Việt Nam... Ted Sorensen và Jack Valenti, “những người quan tâm chính là bảo vệ tiếng tăm lịch sử của những Tổng thống họ đã phục vụ.”

Libby viết tiếp, “Vấn đề của diễn đàn chuyên đề này có thể tóm tắt là những trình bầy về chiến tranh Việt Nam như là một cuộc chiến của Hoa Kỳ nhằm phục vụ quyền lợi của chế độ cộng sản và những người phản chiến Mỹ.”

Như thế, câu hỏi Libby đặt ra cho Quang và người đọc: Cách tốt nhất để làm thế nào cho công luận thấy rằng “Nếu không đưa lịch sử của Việt Nam Cộng Hòa do chính người Việt Nam trình bầy vào chương trình, hội nghị này sẽ rỗng tuếch” là gì?

Libby đề nghị ngay, với thời gian còn không lâu, phương án khả thi để phổ biến thông tin và quan tâm này đến mọi người là tạo những đường nối kết đến trang “A Sense of Duty” để cập nhật thông tin về hội nghị và bầy tỏ quan điểm trên Blog của Phạm X. Quang.

Tháng giêng 2006

Nguồn: Vietnam War Conference on March 2006 Omits Vietnamese, Pacific News Service và Vietnam Review Blog


Chương trình Hội nghị (theo thông tin ngày 9/1/2006):

Diễn giả tại Hội nghị “Vietnam and the Presidency” Thứ sáu, 10 tháng 3 và Thứ bẩy, 11tháng 3, 2006 tại John F. Kennedy Presidential Library and Museum Columbia Point, Boston, MA 02125

Thứ sáu, 10/3

Chúng ta vào cuộc chiến thế nào (How We Got In: The United States, Asia, and Vietnam)

1:00 – 2:30 p.m.

George Herring, Giáo sư Sử, University of Kentucky, tác giả America's Longest War: The United States and Vietnam, 1950-1975.

Robert D. Schulzinger, Giáo sư Sử, University of Colorado, Boulder, tác giả of A Time for War: The United States and Vietnam, 1941-1975.

Marilyn Young, Giáo sư Sử, New York University, tác giả The Vietnam Wars, 1945-1990.

Điều hợp viên, Allen Weinstein, Archivist of the United States.


Việt Nam và băng ghi âm Tổng thống (Vietnam and Presidential Tapes)

2:45 – 4:45 p.m.

Về Tổng thống Johnson (On Johnson): Sử gia chuyên đề Tổng tống Michael Beschloss, tác giả The Johnson White House Tapes, 1963-1964.

Về Tổng thống Kennedy (On Kennedy): David Kaiser, Giáo sư môn Chiến lược và Chính sách, Naval War College, tác giả American Tragedy: Kennedy, Johnson, and the Origins of the Vietnam War.

Về Tổng thống Nixon (On Nixon): Jeffrey Kimball, Giáo sư Sử, Miami University, tác giả The Vietnam War Files: Uncovering the Secret History of Nixon-Era Strategy.

Điều hợp viên, Sharon Fawcett, Assistant Archivist for Presidential Libraries.

Diễn giả chính
5:00 - 5:30 p.m.

David Halberstam, đoạt giải Pulitzer, năm 30 tuổi, khi là ký giả tường thuật chiến tranh Việt Nam cho tờ New York Times (1964); tác giả quyển The Best and The Brightest, sử liệu nổi tiếng viết về tại sao và thế nào người Mỹ đã tham chiến tại Việt Nam.

Thứ bẩy, 11/3

Điều hợp viên, Brian Williams, Biên tập viên quản lý, Người đọc tin, NBC News ban tối

Giới Truyền thông và Dư luận Quần chúng (The Media and the Role of Public Opinion)
9:00 - 10:30 a.m.

Steve Bell, ký giả cho ABC News từ 1967 đến 1986, tường thuật từ Việt Nam và Indo-China (Đông Dương) đầu thập niên 70.

Frances Fitzgerald, tác giả và nhà báo, đoạt giải Pulitzer và giải Sách Quốc gia (National Book Award) với tác phẩm Fire In the Lake: The Vietnamese and the Americans in Vietnam.

Dan Rather, đọc tin cho CBS News từ 1981 đến 2005 và phụ trách 60 Minutes II; tường thuật chiến tranh Việt Nam cho CBS News những năm giữa thập niên 60.

Inside the White House
10:45 a.m. – 12:45 p.m.

Đại tướng hồi hưu Alexander Haig chỉ huy một tiểu đoàn tại Việt Nam (1966–67); ĐT Haig là Phụ tá Quân sự cho Cố vấn Anh Ninh Quốc Gia Henry Kissinger thời Tổng thống Nixon, trở thành Tham mưu trưởng của Nhà trắng. ĐT Haig trở thành Ngoại trưởng (1980–81) dưới thời Tổng thống Reagan.

Henry Kissinger, Ngoại trưởng (1973 to 1977) với Tổng thống Nixon. Trước đó là Cố vấn An Ninh Quốc Gia (1969-1973). Cùng được giải Nobel hòa bình 1973 với Lê Đức Thọ nhờ cuộc thương thuyết đình chiến giữa Nam và Bắc Việt Nam.

Theodore Sorensen, Phụ tá Đặc biệt của Tổng thống Kennedy (1960–63). Luật sư trưởng với tập đoàn luật sư Paul, Weiss, Rifkind, Wharton và Garrison tại thành phố New York.

Jack Valenti, Phụ tá Đặc biệt của Tổng thống Johnson (1963–66). Chủ tịch Hội Điện ảnh (1966–2004).

Những bài học thu gặt được (Lessons Learned)
2:15 – 3:45 p.m.

Thượng nghị sĩ Chuck Hagel, hai huân chương Tim Tím trong thời gian phục vụ tại chiến trường Việt Nam.

Bob Herbert phục phục vụ tại chiến trường Koreatrong thập niên 60. Biên tập viên phụ trách cột Quan điểm với tờ New York Times từ 1993.

Cựu Đại sứ Pete Peterson, Đại úy trong chiến tranh Vietnam War, bị bắn rơi năm 1966 và bị bắt làm tù nhân chiến trang 6 năm rưỡi. La Đại sứ Hoa Kỳ đầu tiên tại Hà Nội sau cuộc chiến.

Giữ chỗ trước tại Hội nghị: gọi điện thoại số (617) 514-1642 hay viết thư về John F. Kennedy Presidential Library and Museum, Columbia Point, Boston, Massachusetts, 02125, Attn: “Vietnam and the Presidency.” Chương trình sẽ có thể thay đổi vì thời giờ của các diễn giả. Theo dõi chương trình cập nhật tại trang web của Thư viện và Viện bảo tàng Tổng tống John F. Kennedy

In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè:

     http://tudovis.com/kktd/binh_luan_2/bl_hoi_nghi_vn_va_cac_nhiem_ky_tong.html

Người gửi:

Địa chỉ email: *


Người nhận:

Có thể gửi cho nhiều địa chỉ, nhớ bỏ dấu phẩy trước khi bắt đầu địa chỉ mới.
Địa chỉ email: *
Lời nhắn:
Quí vị có thể copy hết cái bài ở trên và bỏ vào trong hộp Lời nhắn
 
* Thông tin bắt buộc        
Note: Chi tiết bạn điền vào trang này sẽ không được dùng để gửi thư không mời, hoặc bán cho nơi khác.