GS Nguyễn Quốc Khải (Cựu viên chức Ngân hàng Thế giới)
Các nhà quan sát theo dõi diễn tiến của quá trìnnh Việt Nam tham gia
đàm phán để được thu nhận vào Tổ chức Mậu dịch Thế giới WTO đều cho
rằng d9ây là một vòng đàm phán quan trọng đặc biệt đối với Việt-Nam. Có
ba điểm đáng ghi nhận về cuộc đàm phán Việt-Mỹ lần thứ 10 trong khuôn
khổ WTO.
Thứ nhất là sau một thời gian Hoa-Kỳ từ chối gặp Việt-Nam vì không cảm
thấy có lợi ích, nay phái đoàn Hoa-Kỳ sang Hà-Nội để tiếp tục đàm phán
với Việt-Nam.
Điều này có nghĩa là Hoa-Kỳ nhận thấy Việt-Nam đạt được một vài tiến bộ
hoặc Hoa-Kỳ nhìn thấy có cơ hội để đẩy cuộc thương thuyết đi tới. Trái
với cuối năm vừa qua, không một viên chức của nhà nước Việt-Nam còn lên
tiếng đổ lỗi cho Hoa-Kỳ là thiếu thiện chí và làm cho Việt-Nam không
vào được WTO trong năm 2005.
Điểm thứ hai là vòng đàm phán mới được tổ chức rất sớm trong năm 2006.
Điều này có nghĩa là hai bên đều muốn kết thúc việc thương lưọng trong
năm 2006.
Tuy nhiên thời gian thật sự không có bao nhiêu vì nhiều việc phải thực
hiện nếu Việt-Nam muốn vào WTO trong năm nay. Trước hết Việt-Nam cần
phải thi hành những cam kết đối với Hiệp Định Thương Mại Mỹ - Việt
(Bilateral Trade Agreement - BTA) mà hai bên đã ký kết vào tháng 7/2000
và bắt đầu có hiệu lực vào cuối năm 2001.
Đại Sứ Hoa-Kỳ tại Hà-Nội, Michael W. Marine đã chỉ trích Việt-Nam về
việc không thi hành đầy đủ những cam kết về việc thi hành hiệp định
thương mai này.
Ông nói “Làm nửa vời hoặc chỉ thực hiện trên giấy tờ và không làm trên
thực tế không mang lại lợi ích gì cho Việt-Nam.” [1] Một lần nữa ô.
Marine ám chỉ rằng Việt-Nam không thi hành đúng đắn BTA nên Hoa-Kỳ sẽ
thận trọng hơn khi thương thuyết với Việt-Nam về một thỏa hiệp mới.
Sau việc thực hiện các cam kết liên quan đến BTA, phái đoàn Việt-Nam
tiếp tục đàm phán với phái đoàn Đại Diện Thương Mại Hoa-Kỳ về điều kiện
để Hoa-Kỳ ủng hộ Việt-Nam vào WTO.
Sau khi vòng đàm phán thứ 10, giả sử kết thúc một cách thuận lợi, hai
chính phủ sẽ phải chấp thuận kết quả của vòng đàm phán này. Sau chót
quốc hội của hai quốc gia phải thông qua thỏa hiệp thương mại mới.
Để cảnh báo Việt-Nam ông Thứ Trưởng Ngoại Giao Hoa-Kỳ Christopher Hill
trong chuyến viếng thăm nhiều nước Á châu bao gồm Việt-Nam vào đầu năm
nay đã tuyên bố tại Hà-Nội rằng “Đạt được thỏa hiệp song phương với
Hoa-Kỳ và gia nhập WTO trong vòng 11 tháng là một cao vọng.” [2]
Ô. Ernest Bower, cựu Chủ Tịch Điều Hành Hội Đồng Thương Mại Hoa-Kỳ tỏ
ra cẩn trọng hơn: Ông nói: “Tôi còn e ngại rằng Việt Nam không hoàn tất
đàm phán với Hoa Kỳ nội trong tháng Giêng [2006] này, thì sẽ không có
đủ thì giờ để thông qua những thủ tục cần thiết khác ở chính trường Hoa
Kỳ, chẳng hạn như Quốc Hội Liên Bang còn phải đưa vào nghị trình để
thảo luận trước khi bỏ phiếu chấp thuận cho Việt Nam hưởng quy chế quan
hệ mậu dịch bình thường.” [3]
Nếu Quốc Hội Hoa-Kỳ không bỏ phiếu về PNTR trước mùa hè năm nay, việc gia nhập WTO có thể lại bị đình trệ thêm một năm nữa.
Điểm thứ ba là cho đến nay hai bên đã đi được 80% chặng đường. [4] Vòng
đàm phán thứ 10 mang tính chất khó khăn đặc biệt vì vào giai đoạn chót
của cuộc thương thuyết luôn luôn có những vấn đề phức tạp phải giải
quyết. Những điểm ít gai góc hơn đều đã được hai bên chấp thuận trong
những vòng đàm phán đầu.
Đòi hỏi của Hoa-Kỳ
Trước hết chúng ta nên làm sáng tỏ một vấn đề là Hoa-Kỳ và 148 nước hội
viên khác đều ủng hộ Việt-Nam vào WTO. Ủng hộ không có nghĩa là vô điều
kiện. Đa số chỉ đòi hỏi điều kiện đa phương. Chỉ có 28 nước (29 nước
nếu kể cả Saudi Arabia mới trở thành hội viện mới nhất vào tháng
12/2005) muồn thương thuyết về điều kiện song phương để Việt-Nam gia
nhập WTO mà thôi.
Theo luật của WTO, trong khi tiến trình hội nhập WTO đang tiếp diễn,
những điều kiện thương thuyết đều phải giữ kín. Do đó chúng ta không
biết những chi tiết của những cuộc thương thuyết này.
Trong 9 vòng đàm phán vừa qua Hoa-Kỳ và Việt-Nam đã thâu hẹp những cách biệt, nhưng chưa đạt sự đồng thuận tuyệt đối.
Một cách tổng quát, Hoa-Kỳ đòi hỏi Việt-Nam ở giai đoạn này gồm có cải
tổ luật pháp cho phù hợp với tiêu chuẩn WTO, tăng cường bảo vệ quyền sở
hữu trí tuệ, hạn chế can thiệp của nhà nước Việt-Nam trong nền kinh tế,
bỏ bớt trợ cấp công nghiệp, giảm thuế nhập cảng đánh vào nông phẩm, mở
cửa thị trường rộng hơn cho các hàng hoá của Hoa-Kỳ và kỹ nghệ dịch vụ
gồm các quyền thương mại kể cả quyền phân phối trực tiếp, dịch vụ ngân
hàng, bảo hiểm, viễn thông, và chuyên chở.
Vấn đề khó khăn nhất là việc mở cửa thị trường tài chánh. Các ngân hàng
thương mại quốc doanh rất sơ khai về quản trị cũng như về dịch vụ khách
hàng, lại hoạt động không hữu hiệu, cho vay theo chỉ thị của chính phủ.
Khách hàng ưu tiên của các ngân hàng thương mại của nhà nước là xi
nghiệp quốc doanh lỗ lã, nên mang một số nợ xấu khá lớn, mức rủi ro khá
lớn vì tỉ lệ tín dụng rất cao so với tiêu chuẩn quốc tế.
Sau nhiều năm cải tổ, các ngân hàng này vẫn không đủ sức vươn lên và
chưa chứng tỏ có khả năng cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài với
kỹ thuật điện tử tân tiến và với số vốn dồi dào.
Tuy nhiên, mở cửa thị trường dịch vụ lại chính là một giải pháp giúp
Việt-Nam thu hút đầu tư nước ngoài, tạo việc làm, hạ giá phí sản xuất
và buộc các công ty dịch vụ nội địa phải chấn chỉnh để gia tăng khả
năng cạnh tranh, nâng cao trình độc quản lý, tiếp thị, xây dựng thương
hiệu và tin tưởng của khách hàng.
Khó khăn thứ hai là việc cải tổ luật pháp cho hợp với tiêu chuẩn WTO và
việc thi hành những luật pháp này chứ không chỉ viết trên giấy tờ. Đây
là một công tác to lớn, đòi hỏi nhiều năm và cam kết nghiêm trọng.
Vào đầu năm 2005, ông Nguyễn Xuân Thắng, Giám Đốc Viện Nghiên Cứu Kinh
Tế và Chính Trị Quốc Tế của Việt-Nam, cho biết thủ tục làm luật hiện
nay rất rườm rà và những giới chức có thẩm quyền cần trên 5 năm mới có
thể soạn và phê chuẩn các luật mới cho phù hợp với điều kiện để vào
WTO. [5]
Những đòi hỏi của Hoa-Kỳ không phải chỉ đặc biệt đối với Việt-Nam mà đã
áp dụng cho các nước khác như Armenia, Algeria, v.v. Riêng về vấn đề
viễn thông và ngân hàng, Hoa-Kỳ cũng đã có những đòi hỏi tương tự đối
với Trung Quốc và Campuchia.
Ngoài ra Trung Quốc cũng phải loại bỏ hẳn thuế nhập cảng đối với rất
nhiều hàng công nghiệp và nông nghiệp ngay sau khi gia nhập WTO.
Việt-Nam có lẽ không phải chịu những điều kiện khắt khe như thế. [6]
Quy chế Thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR)
Giai đoạn đàm phán chót ở thời điểm này đặc biệt phức tạp đối với
Việt-Nam vì vấn đề PNTR mà chúng ta đã nói qua ở trên, nay chúng ta bàn
thêm về quy chế này.
Vì là một nước cộng sản và chưa có một nền kinh tế thị trường cho nên
Quốc Hội Hoa-Kỳ phải cứu xét chấp thuận cho Việt-Nam đặc biệt hưởng quy
chế thương mại bình thường vĩnh viễn (permanent normal trade relation –
PNTR) thay vì tạm thời và phải được triển hạn mỗi năm như hiện nay theo
Tu Chính Án Jackson – Vanik của Luật Thương Mại 1974 của Hoa-Kỳ.
Năm 2006 lại là năm bầu cử của Hoa-Kỳ. Quốc Hội Hoa-Kỳ và đặc biệt là
Hạ Viện rất bận về việc tranh cử. Do đó Việt-Nam cần phải thu xếp để
đạt được quy chế PNTR trước cuối tháng 6 vì sau đó các dân biểu và nghị
sĩ rất khó có thì giớ để tranh cãi về một hiệp định thương mại mới với
Việt-Nam.
Về mặt lý thuyết thì quy chế hội viên WTO không liên hệ gì đến quy chế
PNTR của Hoa-Kỳ. Nhưng trên thực tế PNTR là một điều kiện tiên quyết để
Việt-Nam vào WTO. Quốc Hội Hoa-Kỳ phải chấp thuận cho Việt-Nam hưởng
quy chế PNTR thì hai nước mới có thể ký kết thỏa hiệp thương mai song
phương và do đó mới vào được WTO.
PNTR sẽ là một vấn đề gai góc cho Việt-Nam. Nếu 1973 là năm của Nước
Việt-Nam Dân Chủ Cộng Hòa trong thời chiến thì 2006 sẽ là năm của Hiệp
Chúng Quốc Hoa-Kỳ trong thời bình.
Hoa-Kỳ là một thị trường lớn nhất của Việt-Nam. Hiện nay trị giá hàng
Việt-Nam xuất cảng sang Hoa-Kỳ gấp năm lần trị giá hàng của Hoa-Kỳ xuất
cảng sang Việt-Nam. Muốn phát triển Việt-Nam phải cần thị trường Hoa-Kỳ
và cần vào WTO. Ngược lại, Hoa-Kỳ không thật sự cần Việt-Nam về phương
diện thương mại.
Dù ở thế mạnh, Hoa-Kỳ sẽ không bắt chẹt Việt-Nam, vì làm như thế với
một nước nhỏ không mang lại một lợi to lớn cho Hoa-Kỳ. Nói như thế
không có nghĩa rằng Hoa-Kỳ là một nước thực tiễn sẽ cho Viêt-Nam hưởng
quy chế PNTR hoàn toàn miễn phí.
Giá Việt-Nam phải trả là những điều kiện gắn liền vào thỏa hiệp song
phương đã bàn ở trên và một số điều kiện ngoài lãnh vực thương mại.
Nói rõ hơn là vấn đề cải thiện về tình trạng vi phạm nhân quyền và tự
do tôn giáo, và đàn áp những người bất đồng chính kiến ôn hòa ở
Việt-Nam. Nếu Văn Phòng Đại Diện Thương Mại Hoa-Kỳ là một cơ quan
chuyên môn, phi chính trị thì Quốc Hội Hoa-Kỳ với 485 dân biểu và 100
nghị sĩ là một cơ quan thuần tuý chính trị chuyên môn.
Dân Biểu Chris Smith (Cộng Hòa, New Jersey), chủ tịch Tiểu Bang về Nhân
Quyền Quốc Tế của Hạ Viện trong lần viếng thăm Việt-Nam vào tháng 12,
2005 đã tuyên bố ngay tại thủ đô Hà-Nội rằng phải liên kết vấn đề
Việt-Nam gia nhập WTO với vấn đề nhân quyền.
Rất ít những nhà lập pháp chống việc cho Việt-Nam hưởng quy chế PNTR,
nhưng không ít các nhà lập pháp Hoa-Kỳ ủng hộ lập trường của ông Chris
Smith, như Nghị Sĩ Sam Brownback, Nghị Sĩ George Allen, Dân Biểu Frank
Wolf, Dân Biểu Loretta Sanchez, Dân Biểu Ed Royce, Dân Biểu Dana
Rohrabacher, Dân Biểu Zoe Lofgren, Dân Biểu Tom Davis, Dân Biểu Chris
Van Hollen, v.v.
Do đó, để đạt được quy chế PNTR, Việt-Nam cần phải thực thi một số
những cải thiện về mặt nhân quyền và cải tổ chính trị mà Hoa-Kỳ khuyến
khích và trông đợi.
Trong cuộc phỏng vấn thực hiện bởi báo điện tử VNExpress vào đầu năm
2005, bà Virginia Foote, Chủ Tịch của Hội Đồng Thương Mại Mỹ - Việt
(U.S., - Vietnam Trade Council - USVTC) nói rằng để có thể kết thúc
thương thuyết với Việt-Nam, Quốc Hội Hoa-Kỳ phải bỏ phiếu vào mùa thu
này [2005] về vấn đề xem có nên miễn áp dụng Tu Chính Án Jackson –
Vanik và cho Việt-Nam hưởng quy chế PNTR.
Cuộc bỏ phiếu này không những cứu xét lãnh vực quan hệ thương mại giữa
Việt-Nam và Hoa-Kỳ mà còn cả những vấn đề khác như quân nhân mất tích,
nhân quyền, tự do tôn giáo, v.v. [7]
Chúng ta nên lưu ý rằng USVTC là một tổ chức tư nhân thường vận động
hành lang cho việc bình thường hóa ngoại giao và thương mại giữa hai
nước và được xem như một tổ chức thân Hà-Nội.
Thay lời kết luận: Thiệt và Lợi
Nhiều người có cảm tưởng rằng Hoa-Kỳ là một đối tác khó khăn nhất so
với những Liên Hiệp Âu Châu, Nhật Bản, Trung Quốc. v.v. Nhưng sự thật
không có ai là “ông thiện” hay “ông ác” cả, vì sau cùng những điều kiện
được Việt-Nam chấp nhận sẽ áp dụng chung cho tất cả 149 nước hội viên.
Là một cường quốc kinh tế, Hoa-Kỳ nhận lãnh gánh nặng lớn lao nhất
trong tiến trình đàm phán với Việt-Nam. WTO là một cái chợ quốc tế duy
nhất hiện nay để các nước buôn bán với nhau trong một thế giới không
thật sự có bình đẳng và thương mại tự do tuyệt đối.
Trước sau Việt-Nam cũng sẽ gia nhập WTO. Khi điều này xẩy ra, nó sẽ
đánh dấu một bước tiến của chương trình cải tổ gọi là Đổi Mới khởi đầu
vào năm 1986 và đang chuyển đổi Việt-Nam từ một nền kinh tế chỉ huy
sang một nền kinh tế thị trường.
Việc gia nhập WTO sẽ tạo một cơ hội để thúc đẩy Việt-Nam cải tổ kinh tế
ở một vài lãnh vực quan trọng mà nhà nước còn rất e ngại như khu vực
quốc doanh và khu vực ngân hàng để thật sự phát triển khu vực tư nhân,
một động cơ chính để thúc đẩy nền kinh tế Việt-Nam vươn lên.
Nhà nước chấp nhận chủ nghĩa tư bản, nhưng chỉ cho phép tư nhân nội địa
có những hoạt động thương mại nhỏ trong khi đó duy trì những cơ cấu
kinh tế quan trọng trong khu vực quốc doanh kém hiệu năng.
Chính sách này làm cho Việt-Nam lệ thuôc vào tư bản nước ngoài và ngăn
cản việc chuyển giao kỹ thuật. Với sự cạnh tranh mãnh liệt hơn do việc
mở rộng thị trường sau khi gia nhập WTO, Việt-Nam cần phải duyệt lại
chính sách này ngay từ bây giờ. Nếu không cao vọng của Việt-Nam trở
thành một con rồng của Á châu sẽ chỉ là một giấc mơ.
Gia nhập WTO có thể làm thiệt hại cho một vài khu vực yếu kém với hiệu
năng thấp, nhưng nói chung sẽ mang lại nhiều lợi ích cho Việt-Nam. Vòng
đàm phán Việt-Mỹ lần thứ 10 kéo dài 3 ngày vừa kết thúc vào hôm nay tại
Hà-Nội. Nó mang một ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Kết quả của nó sẽ có
ảnh hưởng lâu dài đến quan hệ giữa hai nước Việt-Mỹ và sự phát triển
kinh tế của Việt-Nam.
Chú thích:
[1] AFP, “Gaps Remain in Vietnam’s WTO Entry Talks: U.S. Envoy.” September 22, 2005.
[2] AFP, “Vietnam’s Accession to WTO Possible This Year: U.S. Official,” January 13, 2006.
[3] RFA, “Quan Hệ Washington – Hà Nội Và Triển Vọng Gia Nhập WTO Của
Việt Nam?” phỏng vấn do phóng viên Nguyễn khanh thực hiện, Washington,
DC 14.01.2006.
[4] Tuổi Trẻ, “Gia Nhập WTO: Bốn Tháng và Rất Nhiều Việc Làm,” November 17, 2005
[5] Vietnam News Brief, “Vietnam Needs Foreign Expertise for Law Reforms to Meet WTO’s Rules,” February 17, 2005.
[6] Tuổi Trẻ, “Gia Nhập WTO: Bốn Tháng và Rất Nhiều Việc Làm,” November 17, 2005
[7] VNExpress, “Vietnam has to conclude Negotiation with U.S. In July,” Cam Ha, February 24, 2005.