Tạp ghi văn nghệ
Ngày
mùng một tháng giêng dương lịch năm 2006. Hàng chữ vẫn còn nguyên trên
trang giấy trắng. Biết viết gì đây để khai bút nhân dịp đầu năm. Năm
nay, lễ vào dịp cuối tuần nên thời giờ cũng có phần thoải mái. Có năm,
đầu năm đi làm như thường lệ, buổi sáng nhìn xa lộ dày đặc màn sương mà
lại nghĩ đến câu thơ Cao Tần, lái xe đi từ căn nhà tòng teng đỉnh dốc
để thấy đời mình cũng chênh vênh theo.
Hai
mươi sáu năm ở xứ người mà sao nhanh quá. Năm tiếp năm, tháng tiếp
tháng, ngày lại ngày, cuộc sống vèo qua, bao nhiêu thăng trầm, bao
nhiêu mưa, bao nhiêu nắng. Trong ký ức, sao nhạt nhạt những niềm nhớ.
Trong giấc ngủ, hiu hắt biết bao những giấc mộng ấu thời. Ngày nào,
hăng hái những ôm ấp, làm đẹp cho đời, làm đẹp cho mình. Sống cho ra
sống, như chuyện lập thân ngày xưa, gánh vác cuộc nhân sinh. Dù biết
rằng mình là một người may mắn trong cuộc đời, nhưng sao vẫn thấy nao
nao khi nghĩ về những cơn mơ ngày ấy. Chí lớn chưa về bàn tay không…
Hai
mươi sáu năm. Từ ngày bắt đầu học một nghề và bắt đầu vướng vào một
nghiệp. Bắt đầu từ tuổi ngoài ba mươi, vừa làm vừa học để có một nghề
mưu sinh nhưng cũng cảm khái biết bao với những năm ngần ấy chập chững
nghiệp cầm bút. Làm thơ, viết văn, mới đầu chỉ là để trang trải tâm sự
của mình nhưng sau lại trở thành một công việc kết thành từ sự say mê.
Viết và sống, sống và viết, như hai mặt âm dương của cuộc nhân sinh.
Mỗi năm, ở vào thời điểm như hôm nay, trong cái bắt đầu của cuộc tuần
hoàn mới, tránh sao khỏi được sự ngoái nhìn về một năm đã qua...
Có
người bạn, hỏi tôi, bạn nghĩ gì về văn học Việt Nam qua một năm đã qua.
Tôi hơi tức cười, vì mình là người hay đặt câu hỏi ấy với các văn nghệ
sĩ nhân những cuộc phỏng vấn đầu năm. Những chữ như: nghĩ gì, nhân xét,
đánh giá… dường như quen thuộc lắm. Thế mà, bây giờ bị hỏi ngược lại.
Cũng y hệt một câu hỏi…
Thực ra, đã có nhiều người đã suy nghĩ
và trả lời câu hỏi tuy ngắn nhưng phức tạp ấy. Nhìn vào thực trang,
thực khó mà có câu trả lời bao quát được hết các sinh hoạt văn chương,
từ trong ra ngoài nước. Người viết, ở nhiều lứa tuổi khác nhau, sinh
sống ở nhiều môi trường địa bàn khác nhau, mỗi người một nét nên cũng
khó để phân tích thành những trường phái hay khuynh hướng. Người đọc,
nhất là ở hải ngoại, thì dần dần bị hao mòn đi. Có một nhà văn cho rằng
có sự lão hóa trong cả người viết cũng như người đọc. Và như thế, tương
lai của nền văn học ấy cũng chẳng sáng sủa gì lắm.
Trước đây,
cũng đã có người phê phán rằng người viết ở hải ngoại bị đóng khung
trong những thiên kiến và chỉ viết được những tác phẩm chỉ tồn tại được
một thời. Những đề tài như tù cải tạo, như những cuộc vượt biên, hay tố
cáo những hà khắc chính trị, sẽ bị nhàm đi và từ từ không còn giá trị
nữa. Vị trí của người cầm bút sẽ dần dần mất đi tính lưu vong đối kháng
với chế độ đương thời. Ngược lại, những đế tài về con người muôn thuở
hay lịch sử rốt cuộc sẽ là đề tài lớn và vượt qua được sự đào thải của
thời gian.
Nhà văn Solhzenitsyn đã viết bài diễn văn nhận giải
Nobel văn chương và nêu rõ tính chất của những người viết văn lưu vong
đứng về phía đối kháng với chế độ độc tài. Tác phẩm của ông như ”One
Day in the Life of Ivan Denisovich” hay “The Gulag Archipelago” mặc dù
viết về ngục tù, mặc dù rõ ràng tính chất phản kháng nhưng vẫn có giá
trị về sau này, cả khi chế độ Cộng Sản đã sụp đổ.
Như vậy,
không phải là những đề tài phản kháng chế độ là những đề tài chỉ có giá
trị nhất thời. Ngược lại, nếu ở những cây bút có nghệ thuật diễn tả
cao, sẽ là một yếu tố để làm tác phẩm vượt qua được sự đào thải của
thời gian.
Những sự tiên đoán thường ít chính xác. Các nhà văn
nhà thơ có uy tín như Võ Phiến, Nguyên Sa... khi viết về tương lai của
văn học Việt Nam ở hải ngoại thường có sự dè dặt. Bởi, trong thực tế,
có rất nhiều sự kiện bất ngờ. Tới hôm nay, nền văn học ấy vẫn là một
thực thể mà những người trong nước dù khác chính kiến cũng không phủ
nhận được. Có rất nhiều khó khăn, từ người viết đến độc giả, từ môi
trường sống cũng như yếu tố để phát triển... tất cả tưởng như là những
điều chẳng thể vượt qua. Nhưng, rồi sinh hoạt vẫn có sinh khí, có tác
phẩm đến tay người đọc, có những tạp chí văn chương dù sống không mạnh
mẽ lắm nhưng cũng là những diễn đàn có tính chuyên nghiệp cao và thể
hiện được những ưu tư cũng như khát vọng của người cầm bút.
Một tác gỉa trẻ, nhà văn Cổ Ngư, hiện sinh sống tại Pháp nói về suy nghĩ của mình trong sinh hoạt văn học hiện thời:
“
… Một trong những mối ưu tư lớn của người viết hải ngoại là làm sao
sách của họ in ra đến được tay người đọc vì người Việt ở rải rác khăp
nơi và không phảỉ ở nơi nào có người Việt cũng có thể tìm được một nhà
sách hay một quầy tạp hóa nhận bán sách báo Việt. Chuyện gửi sách báo
qua đường bưu điện (hay mua sách qua internet) cũng gặp khó khăn do chi
phí gửi khá cao. Do hoàn cảnh đặc biệt, sách báo Việt ở hải ngoại hoàn
toàn không qua bất cứ một sự kiểm duyệt nào ngoài sự đánh giá cũa người
đọc. Điều này khác so với sách viết bằng tiếng bản xứ, xuất bản tại nơi
có người Việt sinh sống (thí dụ sách viết bằng tiếng Pháp xin giấy phép
xuất bản tại Pháp) hoặc sách in tại Việt Nam…”
Thực ra, ở Hoa
Kỳ, in sách Anh ngữ không cần xin phép xuất bản, theo tôi hiểu. Tuy có
nhiều nhà văn cho rằng họ vẫn chưa có tự do sáng tác ở hải ngoại, vì có
nhiều áp lực tạo sức ép khi sáng tác. Nhưng cũng có người, tỉ dụ như Cổ
Ngư thì cho rằng anh rất thoải mái khi sáng tác tại hải ngoại:
“..
Thế còn tôi? Tôi viết văn, làm thơ cho ai? Hình như ngay tự đầu tình
yêu và niềm say mê của tôi dành cho chuyện viết văn làm thơ, đặt nhạc,
vẽ tranh chụp ảnh đóng kịch... đều ngang bằng nhau, cái gì cũng thích,
nên cái gì cũng làng nhàng chẳng đâu vào đâu! Tất cả những gì tôi làm
đều có một đối tượng đầu tiên cái tôi đáng yêu cái tôi đáng ghét! Tôi
có hứng, tôi thích chí, tôi làm. Làm xong, ưng ý tôi giữ lại, không hài
lòng, tôi vứt bỏ. Không ai ép, không ai buộc, không ai đe dọa, không ai
bán mua đổi chác. Cái vòng tròn đầu tiên, mắt bão, lỗ rốn, người thưởng
thức đầu tiên, chính là người tạo tác. Người ta viết nhật ký để ai đọc,
nếu không phải để mình tự nhận ra chính mình? Sáng tác, đối với tôi
cũng là một cách để nhận ra chính mình. Đôi khi ngẫm lại một đoạn văn,
một bài thơ, một bức phác họa đã lâu không động đến tôi chợt nhớ lại
những cảm nhận đã thấm, những suy nghĩ đã từng những rung động đã có về
bản thân về người đối diện về đám đông lao xao chung quanh về cuộc sống
ở một nơi chốn nhất định trong một thời điểm nhất định. Bằng sáng tác
tôi tự soi gương và biết mình hiện hữu biết mình từng có và mất những
gì mơ ước và chối bỏ những gì Bằng sáng tác tôi muốn bày tỏ muốn san sẻ
“một phần của tôi” đến người chung quanh đồng thời hấp thụ trở lại, tập
sống suy nghĩ, hành động như như một hoặc nhiều người khác. Vì vậy khi
đối tượng đầu tiên, bản thân người sáng tác có thực sự yêu mến và rung
động với tác phẩm thì may ra tấm chân tình đó mới lan tỏa được ra những
người xung quanh tác phẩm mới tìm được mối tương giao với người thưởng
ngoạn. Thế nhưng chỉ có rung cảm nghệ thuật và tấm chân tình không thôi
hình như chưa đủ, hình như chỉ là sự tự phát với khuôn dáng trong gương
nhìn mãi cũng nhàm, dù ai ai cũng mang trong người ít nhiều hình bóng
của Narcisse. Người sáng tác khó nhất là biết tự mình vượt qua chính
mình. Và chỉ có cách duy nhất để có thể thực hiện điều ấy là phải học
hỏi không ngừng những kỹ thuật, phát kiến mới và không ngại đem áp dụng
thử nghiệm vào tác phẩm của mình. Nếu những kỹ thuật, phát kiến mới ấy
lại do chính bản thân sáng tạo thì còn gì tuyệt vời hơn nữa ! Ngạn ngữ
Trung Hoa cách đây nghìn năm đã có câu ”sự học như con thuyền ngược
nước, không tiến ắt thoái“, nay, nếu còn không học hỏi sự thể sẽ trôi
dạt về đâu? Mấy năm trở lại đây, các bài viết của vài nhà nghiên cứu
phê bình văn học đăng trên một số tạp chí văn học đã thực sự khuấy động
sự yên tĩnh của những người viết Việt già nua “Già nua“ ở đây không có
quan hệ với số tuổi đời, mà ở cách suy nghĩ và lối sáng tác…”
Có
rất nhiều chia sẻ của cá nhân tôi với lời phát biểu của Cổ Ngư. Quả
thật, khi đã cầm bút, cái mà mình muốn trước tiên là phải vượt qua được
chính mình. Phải hơn trước, phải hay hơn trước và nhất là khác với cái
của chính mình lúc trước. Thú thực tôi đã xé rất nnhiều bài thơ khi mà
âm vận và chữ nghĩa vẫn mang mang một chút gì giống những bài thơ trước
của mình. Xé vụn những trang thơ ấy quả là một điều không vui nhưng
biết làm sao.
Tôi cũng lại chia sẻ với Cổ Ngư về cái điều phải
học. Có những điều, tự mình khám phá ra thật khó khăn và tốn thời giờ
nhưng khi đã học ở sách vở hoặc trường lớp thì dễ dàng hơn nhiều. Tôi
nghĩ có lẽ suốt đời mình phải học vì thực ra càng học, càng đọc thấy vỡ
ra nhiều điều thú vị. Biển kiến thức mênh mông biết bao và quả thật tôi
rất bất bình khi có một nhà văn tuyên bố rằng đã thành người cầm bút có
”danh” rồi thì chằng cần phải học nữa. Nếu có người nói vẫn còn học thì
đó chỉ là một lối làm dáng kiểu cách như lối nói của nhà thơ Bùi Giáng.
Có mấy ai, với cái gọi là “thiên bẩm“ của mình mà không cần học hỏi để
thành một nhà văn đúng nghĩa...
Nhà văn Trần Hữu Thục đã viết về một trường hợp sáng tác với tất cả những trăn trở:
“..
Ai từng trải qua kinh nghiệm sáng tác mới thâm cảm hết nỗi đau đáu của
những thai nghén nghệ thuật. Lặn ngụp trong thực tế, tiếp cận với sự
vật, nhìn ngắm, suy ngẫm, tiếp nạp, tích lũy trong tâm, và rất nhiều
khi phải ghi chép lại. Rồi giữa đống hỗn độn những chi tiết sần sùi,
thô nhám mờ mịt đó, anh ngồi một mình (ai cũng sáng tác một mình) anh
vận dụng trí thức, trí tưởng tượng, ký ức để tái hiện hiện thực biến
chúng thành câu, thành chữ. Viết rồi xóa, sắp ngược sắp xuôi, đọc đi
đọc lại. Lắm khi viết bao nhiêu trang, tưởng xong, bất đồ xé bỏ đi để
bắt đầu viết lại. Cũng lắm khi, ngồi hàng giờ, chẳng viết được chữ nào
xuống giấy. Đôi khi cả tháng, hễ ngồi xuống bàn viết là cắn bút, đầu óc
đâu có thiếu chi tiết nào thế mà cứ tưởng như rỗng không chẳng moi ra
được điều gì để ghi lại. Có lẽ đây là cái đáng sợ nhất của một nhà văn,
nhà thơ. Phải chăng đó là nỗi bơ vơ mà Nguyễn Hưng Quốc muốn nói. Không
những bơ vơ mà còn xót xa, bứt rứt, khổ sở…”
Khi viết, có mấy ai
còn thắc mắc. Viết cái gì, viết cho ai, và viết để làm gì? Tôi nghĩ,
chắc đó là nỗi niềm chung của những người cầm bút. Nhưng chắc không
phải là thái độ của một thí sinh đang hết sức mình trước trang giấy
trắng của cuộc khảo thí. Những tác giả ở hải ngoại có nhiều người coi
việc cầm bút là một công việc buông xả để vượt qua được những gay cấn
của cuộc sống. Nghệ thuật vô tình thành một đóa hoa trang điểm cho
những ngày tháng náo động nhưng vô vị của kiếp lưu lạc ở xứ người. Cũng
có người coi công việc sáng tác là một cố gắng tìm lại chính diện mạo
của đời sống mình. Trong tiến trình suy tư, họ hy vọng kiếm ra được
những góc cạnh, những u uẩn của cuộc sống từ thực tế ngồn ngộn đầy biến
cố, đầy phức tạp. Cũng có người, chọn lựa vị trí của một người tị nạn,
mang trường hợp của mình và những người cùng cảnh ngộ và những nỗi niềm
đã có từ khi còn sống ở trong nước, một cuộc sống mà họ coi là “sống
lưu vong trong chính đất nước của mình: Họ chọn một thái độ, quyết liệt
bầy tỏ một lập trường. Lập trường của phản kháng đối đầu với chế độ
hiện hữu …"
Trên thực tế, văn học ở hải ngoại đã tồn tại như thế
nào? Số lượng sách in và phát hành cũng ở mức lạc quan. Người viết,
cũng có nhiều người đã ra đi rời bỏ cuộc sống hoặc ngưng cầm bút nhưng
cũng có những cuộc khởi hành bắt đầu của những người viết mới. Nhất là,
ở những người trẻ bắt đầu cho một nền văn học di dân. Họ viết bằng Anh
ngữ nhưng vẫn giữ được những tâm tình của trái tim Việt nam..
Tác giả Nguyễn văn Lục trong một bài viết nhận định về một số những khuôn mặt tác giả ở hải ngoại đã viết:
“Điều
đó cảnh báo một tương lai không sáng sủa gì cho văn học di dân. Đã thế
sự nghiệp văn chương thì nhiều người còn mỏng. Và vẫn là một htứ văn
chương nghiệp dư. Cứ nhìn những nhà văn viết bằng tiếng ngoại quốc
không khỏi làm chúng ta suy nghĩ. Những Linda Le, Monique Truong, le
thi diem thuy, Pedro Nguyen, Valerie Tong Cuong... phải chăng muốn trở
thành chuyên nghiệp thì chỉ có con đường chọn viết văn bằng ngoại ngữ..”
Thực
ra, không phải tất cả những nhà văn viết bằng tiếng bản xứ đều chuyên
nghiệp và không có tính nghiệp dư. Có nhiều người cầm bút như một công
việc tay trái. Tay phải cho nghề, tay trái cho nghiệp. Mai Elliot làm
việc trong lãnh vực ngân hàng, Lan Cao, Duong như Nguyện là luật sư,
Mông Lan, Barbara Tran, Trinh thi Minh Ha, Hoa Nguyen, Aimee Nguyen dạy
học... Nhưng nhiều khi họ cũng phải chọn lựa như trường hợp Monique
Truong giữa nghề và nghiệp.
Khác với những nhà văn viết bằng
Việt ngữ, những nhà văn viết bằng tiếng bản xứ đã có những môi trường
sáng tác khác. Người đọc và người viết đã khác tâm tư, đã lã nếp sống,
đã khác biệt văn hóa. Viết không còn là một sự chia sẻ tâm tư nữa mà là
trình bày, tạo dựng một thế giới khác để cho người lạ bước vào. Thế
giới của hội nhập ấy, để người đọc hiểu biết được dù bàng bạc nếp sống
và nếp nghĩ của những người mới đến định cư, làm lại cuộc đời ở những
thời điểm khắc nghiệt đòi hỏi cố gắng vượt bậc để có thể tồn tại. Thay
vào sự chia sẻ, là kích thích hiếu kỳ. Thế giới ấy còn nhiều khám phá.
Con người ấy còn nhiều khó hiểu. Những biến cố của cà một đời người, từ
nét chân thực, có nét phác thảo của văn hóa Đông Phương, sẽ là đề tài
của nhiều trang sách nhiều hứng thú…
Có sự khó nghĩ trong việc
xác định căn cước của những nhà văn gốc Việt viết bằng ngôn ngữ bản xứ.
Đôi khi, họ ở trong dòng văn chương di dân. Đôi khi họ lại được kể
trong dòng văn học lưu vong. Nhưng dù với loại căn cước nào, thì cũng
là những người cầm bút viết bằng tâm tình và trái tim Việt Nam.
Còn
hiện tương lão hóa, theo nhiều nhận định cũng là một hiện tượng tốt.
Lão hóa, cũng có khi là trẻ hóa như bài kệ của thiền sư Mãn Giác. Xuân
sinh, hạ trưởng, thu liễm, đông tàng, chu kỳ ấy là tự nhiên của trời
đất. Hôm nay, ngày đầu năm 2006, trong ngày xuân, nghĩ về văn học Việt
Nam hải ngoại, tự nhiên nhớ đến những câu thơ xuân dịch thơ thiền sư
Mãn Giác :
Xuân ruổi trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa cười
Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu già đến rồi
Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước nở cành mai.
Và như thế, có phải là ý nghĩ lạc quan nhất …
Nguyễn Mạnh Trinh