Khó Khăn và Thử Thách Của Cuộc Chiến Iraq Hay Là Sự Giằng Co Giữa Lý Tưởng và Thực Tế

Theo VNN - Nguyễn Anh Tuấn - 25-01-2006

Những tranh cãi diễn ra khá ồn ào tại chính trường Hoa Thịnh Đốn về việc có hay không nên rút quân Hoa Kỳ ra khỏi chiến trường Iraq vào những ngày cuối năm vừa qua đã mặc nhiên xác nhận một thực tế chính trị mà những người chủ động trong cuộc, tuy không chính thức lên tiếng, đã phải chấp nhận: đó là chủ nghĩa lý tưởng, tuy có cao đẹp và hào hùng đến mấy đi chăng nữa, thường phải bị giới hạn rất nhiều khi đem áp dụng vào thực tế vì phải đối diện trước những khó khăn hiện hữu hay những hoàn cảnh không thuận tiện của xã hội.

Hơn ba năm về trước, những lý thuyết gia chủ động cuộc chiến tấn công Iraq đã mong vẽ ra một mô hình kiến trúc mới về địa dư chính trị tại vùng Trung Đông, khởi đi từ một cuộc cách mạng lật đổ chế độ bạo tàn của nhà độc tài Saddam Hussein để đem lại ánh sáng dân chủ và tự do cho toàn dân Iraq. Rồi từ địa bàn này, họ tin rằng ngọn ánh sáng đó sẽ lớn mạnh nhanh chóng và vững bền để trở thành ngọn đuốc rực lửa hy vọng soi sáng niềm tin đến đa số các chính quyền cũng như dân chúng các nước Hồi-giáo và Ả-rập trong vùng để có thể thay đổi các thể chế hà khắc độc tài theo chiều hướng tự do dân chủ, và như thế sẽ giúp chóng dẹp tan những mầm mống bạo loạn kéo dài triền miên vốn là nguyên nhân xâu xa của những xung khắc và chiến tranh cũng như tai hoạ kinh hoàng khắp nơi trên thế giới trong nhiều thập niên qua.

Tuy nhiên giờ đây thì những khuôn mặt đó đã lần lượt rút vào bóng tối như ông phụ tá thứ trưởng quốc phòng Douglas Feith hoặc ông thứ trưởng Paul Wolfowitz, chuyển sang làm Chủ tịch Ngân hàng Thế giới. Trong khi đó thì những người còn lại là TT Bush, PTT Cheney và tổng trưởng Rumsfeld - bộ ba nắm vận mang của Hoa Kỳ - đang phải lúng túng chật vật trước những khó khăn phơi bày ra sau cuộc phiêu lưu thử lửa của mình nhưng không biết cách nào để thoát ra một cách êm thắm, tựa như một người đã lỡ ngồi trên lưng cọp, đúng với lời kết luận của một phân tích gia cho một Viện nghiên cứu chính trị: "Tình hình Iraq hiện nay có thể tóm gọn rằng chúng ta (Hoa Kỳ) không thể thắng, nhưng chúng ta cũng không thua. Và chúng ta lại càng không thể thất bại được."

Hãy tạm gác sang những luận cứ và bằng chứng để biện minh cho cuộc chiến - giờ đây đã được mọi người nhìn nhận là hoàn toàn sai lạc hay đã được dựng đứng, bóp méo để lèo lái công luận theo chiều hướng của chính quyền Bush - cho dù là người ta có tin vào những chủ trương sau đó mà Hoa Kỳ đã đưa ra để giải thích về lý tưởng cao đẹp trong cuộc chiến lật đổ Saddam Hussein để đem lại ánh sáng tự do dân chủ cho người dân Iraq, thì chúng ta cũng phải nhìn nhận rằng những nhà lãnh đạo trong chính quyền Bush hiện nay đã thiếu suy nghĩ chín chắn, vì ngạo mạn hay non nớt thiếu kinh nghiệm chính trị, nên đã để cho những lời hô hào khích động đầy lý tưởng và thoả mãn tự ái đẩy đưa đất nước Hoa Kỳ và thế giới vào một tình trạng rối ren nhiều hơn so với thời điểm ba năm về trước.

Và đó cũng là dịp mà chúng ta lại được chứng kiến một cuộc chiến dằng dai giữa hai khuynh hướng lý tưởng và thực tế trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, giống như lịch sử lại được tái diễn. Mà dường như nhiều chính trị gia Mỹ vẫn chưa học được kinh nghiệm để tránh đi vào vết xe đổ trong quá khứ, cho dù là trong truyền thống sinh hoạt tại Hoa Kỳ này, việc tổng kết để duyệt xét lại thành quả của việc đã qua (review) để rút tỉa ưu khuyết điểm đều được thi hành một cách rất khoa học và nghiêm túc.

Trước khi bàn thêm vào chi tiết của sự xung khắc giữa lý tưởng và thực tế, chúng ta hãy thử xét đến một trường hợp giả dụ khác, chỉ thuần nhằm mục đích tranh luận cho một vấn đề chứ không có ý chỉ trích chính sách hay cá nhân nào, một loại giả dụ kiểu "What if?" (Nếu như) với những tình huống xảy ra khác nhau xem chừng rất thích thú. Giá như ngày đó chính quyền Bush đừng có hung hăng đòi tấn công Iraq cho bằng được, xuống nước trước các lời chống đối của các quốc gia như Pháp, Đức và Nga thì có thể cuối cùng cũng sẽ thông qua được một nghị quyết thứ hai của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc đòi hỏi gắt gao hơn chính quyền Saddam phải giải giới thật nhanh. Lúc đó thì Saddam hết còn hoang tưởng rằng Hoa Kỳ sẽ không dám tấn công vì có sự chống đối của các quốc gia trên và sẵn sàng tuân thủ theo các đòi hỏi của Hoa Kỳ và có thể ra đi một cách êm thắm. Trong thực tế một số lãnh tụ các quốc gia Ả Rập trong vùng đã bàn đến chuyện này nhưng cuối cùng đều bị các tay diều hâu ở Ngũ Giác Đài bác bỏ vì lúc đó chỉ mong muốn biểu dương sức mạnh quân sự của Hoa Kỳ. Với một kho vũ khí chẳng có gì là đáng ngại để có thể gọi là các loại vũ khí tàn sát tập thể, Iraq dưới quyền Saddam hay ai khác cũng không là một mối lo lớn cho nền an ninh của vùng Trung Đông này và càng không ảnh hưởng gì đến an ninh nội địa của Hoa Kỳ cũng như nhiều nơi trên thế giới. Với áp lực có thể bị tấn công, Saddam có thể sợ bị đảo chính và sẽ lựa chọn con đường ra đi êm thắm sau khi ôm được một tài sản kếch xù như phần đông các nhà độc tài khác. Hoa Kỳ có thể đạt được mục đích cuối cùng là bứng đi một nhân vật nguy hiểm, thổi được một luồng sinh khí tự do và dân chủ trong vùng mà không phải tốn kém đến hơn 300 tỷ Mỹ-kim và hơn 2200 quân nhân Mỹ phải bỏ mạng, đó là chưa kể vẫn giữ được uy tín một siêu cường lãnh đạo thế giới với sự hậu thuẫn của nhiều đồng minh quan trọng trên thế giới để lo đối đầu trước những khó khăn bất trắc khác, như đối với Ba Tư (Iran) và Bắc Hàn, vốn là những trường hợp nguy hiểm thực sự về khả năng vũ khí hạch tâm của các nước này. Và tinh thần bài Mỹ có lẽ không lên cao như ngày nay trên hầu hết các quốc gia trên thế giới, đó là chưa kể trong cộng đồng người Ả Rập và Hồi-giáo, cuộc chiến giành lấy cảm tình, tranh thủ nhân tâm của Hoa Kỳ đã hoàn toàn thất bại nặng nề và có lẽ phải mất hàng chục năm nữa mới mong xoá được những tai hại đã xảy ra trong vòng ba năm qua, chứ không dễ dàng như những bài báo ca ngợi thành quả do quân đội Mỹ bỏ tiền mua chuộc các tay viết mướn nhà nghèo ở Iraq viết và ký tên cũng như cái gọi là nỗ lực về thông tin ngoại giao bằng cách gửi bà thứ trưởng ngoại giao Karen Hughes đi chu du để quảng bá lý tưởng tự do dân chủ đến khắp nơi nhưng đều hoàn toàn bị thất bại. Nói theo như lời nhận xét của ông Larry Wilkerson, cựu đổng lý văn phòng của ngoại trưởng Colin Powell, khi được hỏi để đánh giá về những nỗ lực này: "-, quý vị biết đó, cũng khó mà đi quảng cáo được nếu như hàng mình chỉ có toàn là loại phân rác rưởi thôi."

Dĩ nhiên những người bênh vực chính sách và chủ trương của TT Bush thì cho rằng cái chuyện "giá như" cũng không công bằng vì làm sao người ta biết được rằng chính quyền Saddam lúc đó đã không còn các loại vũ khí nguy hiểm nữa, và trong trách nhiệm giữ gìn an ninh cho Hoa Kỳ, ông Bush bắt buộc phải lấy quyết định, cho dù sau đó mới biết rằng quyết định này có thể đã sai sót hay không hoàn hảo lắm. Đúng vậy, làm sao biết được chữ ngờ, và mấy ai đoán trước được một cách chính xác những khả năng và toan tính của đối phương. Thế nhưng, điều đó không có nghĩa là chúng ta phải dẹp qua tất cả những lời can gián khi nêu ra những tình huống xấu xa hay sai trái có thể xảy ra nếu như quá hấp tấp trong quyết định, một điều mà TT Bush và bộ tham mưu của ông đã không chịu nghe theo mà còn tìm cách đánh phủ đầu những tiếng nói cản ngăn hay chống đối bằng cách chụp mũ cho những tiếng nói này cái nón hèn nhát, uỷ mị hay không có tinh thần ái quốc.

Sự giằng co giữa Lý tưởng và Thực tế

Có thể nói là trong gần cả trăm năm qua, chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ lúc nào cũng xoay vần giữa hai động lực đối chọi: hoặc là theo lý tưởng cao đẹp tìm cách biến thế giới này giống như Hoa Kỳ sung túc và tự do, hoặc là theo tinh thần thực tiễn hơn, cứ chấp nhận thực trạng với đầy rẫy những bất công đang hiện hữu mà đừng cố công tìm cách thay đổi. Những người theo trường phái thực tiễn, tức là khuyên chính quyền Mỹ đừng nên thích "xía" vào chuyện của thiên hạ, thường thích dẫn dụ lời của cựu TT John Quincy Adams trong bài diễn văn đọc vào năm 1821 khi cho rằng Hoa Kỳ luôn đứng cạnh với những người mưu tìm tự do và độc lập, "nhưng quốc gia này sẽ không đi ra nước ngoài truy lùng các loại ác thú để tìm cách tận diệt." Ngược lại, cựu TT Woodrow Wilson, người được coi như là một trong lãnh tụ tiên phong của khuynh hướng lý tưởng, trong một bài diễn văn đọc vào năm 1917 để tuyên chiến với Đức trong Đệ Nhất Thế Chiến, đã phát biểu: "Thế giới này phải bảo đảm sự an toàn cho nền dân chủ. Chúng ta (Hoa Kỳ) là những nhà tranh đấu cho nhân quyền. Chúng ta chỉ có thể hài lòng khi nào những quyền đó được vững bền theo đúng với niềm tin và quyền tự do của các quốc gia mong muốn và bảo đảm."

Trong quá khứ, có đôi lần tinh thần muốn đứng biệt lập, không dây dưa vào nội tình của thế giới cũng tăng cao tại Hoa Kỳ, tựa như phong trào Hoa Kỳ Trước Tiên (America First) vào thời điểm trước khi xảy ra Đệ Nhị Thế Chiến cho dù là đã có những tiếng nói báo động về hiểm hoạ của nhà độc tài Adolf Hitler cho sự an nguy của nhiều nước trên thế giới. Chỉ khi sau khi bị Hải quân Nhật Bản tấn công bất ngờ tại Trân Châu Cảng (Pearl Harbor) thì Hoa Kỳ mới bắt buộc phải tham chiến để tự vệ, để rồi sau đó dấn thân sâu đậm hơn nữa, trở thành đầu tàu của khối đồng minh tấn công Đức Quốc để đem lại chiến thắng sau cùng trong Đệ Nhị Thế Chiến. Ngày nay, tinh thần dửng dưng trước những biến động khắp nơi cũng còn trong tâm thức của nhiều người Mỹ, lẫn lộn cả ở trong hai chính đảng Cộng Hoà và Dân Chủ, khi cho rằng Hoa Kỳ không nên có vai trò quân sự nào khác ngoài việc giữ gìn an ninh ngay trên lãnh thổ của mình.

Nhìn vào lịch sửủ cận đại của Hoa Kỳ, người ta sẽ thấy rằng chính sách ngoại giao của Mỹ đều nằm trong chu kỳ biến đổi từ lý tưởng sang thực tế rồi ngược lại, để rồi tiếp tục thay đổi không ngừng, tương tự như tình hình nội địa biến chuyển theo chu kỳ bảo thủ sang cấp tiến rồi đảo ngược lại. Những chính trị gia mang đầy lý tưởng khi mới lên cầm quyền thường để lại nhiều khó khăn hơn cho Hoa Kỳ để rồi những người lên kế vị sau đó, với tinh thần thực tế hơn, phải lo khổ sở giải quyết những khó khăn tồn đọng. Sau đó không lâu, khi những cơn khủng hoảng và khó khăn đã qua đi, người dân Mỹ có thể thấy nhàm chán với cuộc sống sung túc no ấm nhưng bình dị, họ có thể dễ bị dụ dỗ bởi các lời hứa hẹn đầy hoa mỹ về những lý tưởng cao cả mà người dân Mỹ vẫn ấp ủ để cho các chính trị gia đầy cao vọng đẩy đưa đất nước vào những mục tiêu rắc rối hơn nữa trên toàn cầu.

Vào đầu thập niên 50, Hoa Kỳ bị dính vào cuộc chiến dằng dai tại chiến trường Cao Ly, cách xa Hoa Kỳ đến nửa vòng trái đất, do bởi tham vọng lý tưởng của chính quyền Truman muốn đẩy lui sức tiến của chủ nghĩa cộng sản lên vùng đất Triều Tiên, cho dù nền an ninh nội địa nước Mỹ đã không bị ảnh hưởng thực sự khi Trung Cộng xua quân sang giúp Bắc Hàn tấn công Nam Hàn. Dwight Eisenhower, vị tướng lãnh tổng tư lệnh liên quân đồng minh thắng Đức trong Đệ Nhị Thế Chiến, lên cầm quyền vào đầu năm 1953, tuy là một người quen với lửa đạn trong hàng chục năm binh nghiệp, nhưng cũng không muốn thấy Hoa Kỳ phải tiếp tục chịu đựng những thiệt hại và tổn thất về nhân mạng và tài vật nên đã chủ trương sớm chấm dứt cuộc chiến bằng một thoả thuận đình chiến, giữ tình trạng Nam-Bắc phân ly. Trong suốt 8 năm cầm quyền dưới chính sách thực dụng đó, người dân Mỹ bắt đầu quen với cuộc sống bình thường nhưng có thể nhàm chán vì không nhìn ra những lý tưởng cao đẹp mới. Do đó mà PTT Richard Nixon không thể nào lý luận hay hơn trước những lý tưởng cao đẹp đề ra từ đối thủ John F. Kennedy. Liên danh Kennedy và Johnson, khi ra ứng cử vào năm 1960, đưa ra chiêu bài rằng Hoa Kỳ sẽ trả bất cứ giá nào cũng như sẵn sàng gánh bất cứ trách nhiệm nào để thực hiện những hoài bão mới hầu đẩy mạnh Hoa Kỳ lên hàng đầu trên thế giới. Do đó mới có cuộc chạy đua ngoài không gian với kế hoạch bay lên mặt trăng và cuộc chiến đụng độ với khối cộng sản để giữ vũng thành trì tự do trên khắp nơi trên thế giớùi.

Tám năm sau đó, khi cuộc chiến tại Việt Nam bước vào giai đoạn khốc liệt, dân Mỹ bắt đầu nản chí và tinh thần phản chiến càng ngày càng dâng cao, tân TT Nixon phải lo giải quyết khó khăn này bằng cách rút quân ra khỏi chiến trường dưới cái chiêu bài gọi là Việt Nam Hoá chiến tranh, cũng như phải tìm cách giải quyết những xung đột với hai kẻ thù nguyên tử là Liên Sô và Trung Cộng, một mặt tiếp tục cạnh tranh với Liên Sô, nhưng mặt khác bắt đầu tiến tới chuyện hợp tác, hay đúng hơn là nhập cuộc giao tiếp (engagement) với Trung Cộng.

Để rồi sau đó, tinh thần thực dụng này lại bị một chính trị gia khuynh tả đầy lý tưởng khác là Jimmy Carter chỉ trích là không theo đuổi với những nguyên tắc và giá trị cao cả của Hoa Kỳ. Tuy nhiên những lý tưởng cao cả dưới thời TT Carter cũng không giúp đem lại yên ổn cho Hoa Kỳ với cuộc cách mạng Hồi-giáo tại Ba Tư vào năm 1979. Sau thời gian cầm quyền của Carter, chính sách đối ngoại của Mỹ cũng còn nằm trong ảnh hưởng của tinh thần lý tưởng, tuy vẫn nhắm vào đối thủ cũ là khối cộng sản, với những lời lẽ đanh thép của một tài tử cao bồi chuyển sang chính trị gia khuynh hữu là Ronald Reagan, lớn tiếng kết tội Liên Sô là "đế quốc ma quỷ" (evil empire). Bộ tham mưu của ông Reagan, ngay từ cuộc bầu cử sơ bộ vào năm 1976 để tranh tài với TT Gerald Ford, đã không hài lòng với chính sách hoà hoãn (détente) của ngoại trưởng Kissinger đối với Liên Sô. Không phải chỉ có phe ông Reagan không ưa ông Kissinger, mà trước đó, một số các nghị sĩ bên đảng Dân Chủ, điển hình là Henry Jackson, một trong những người được coi là cha đẻ của trường phái tân-bảo-thủ (đa số những chính trị gia này, như trường hợp của ông Wolfowitz, đều là những người theo đảng Dân Chủ lúc trước). Những người này muốn chống lại chủ trương hoà hoãn với Liên Sô do ông Kissinger thực hiện, cho rằng cần phải trừng phạt nước này vì chính sách giới hạn xuất cảnh cho những người theo Do Thái giáo cũng như đã đàn áp các nhân vật bất đồng chính kiến như nhà bác học Andrei Sakharo. Ông Jackson đã lớn tiếng chỉ trích chính quyền Mỹ lúc đó khi bỏ lơ không muốn tiếp đón nhà văn Nga lưu vong nổi tiếng lúc bấy giờ là Aleksandr Soljenitsyn vì chính quyền Ford-Kissinger không muốn gây khó chịu cho chính quyền Sô-viết. Ngược lại, nhiều nhân vật bất đồng chính kiến ở trong khối cộng sản thì lại hoan hô những lời kết án đế quốc Liên Sô của TT Reagan, trong số đó có nhà văn Natan Sharansky, sau này trở thành một chính trị gia Do Thái và cũng là nhân vật gây ảnh hưởng lên quan điểm đầy lý tưởng của TT Bush sau này. Người ta nói nhiều đến sự thành công của ông Reagan trong việc dẹp tan được chủ thuyết cộng sản trên toàn cầu, nhưng thật ra đây chỉ là vấn đề may mắn cho ông Reagan nhiều hơn, vì đã biết thích ứng kịp thời trong chính sách hợp tác với lãnh tụ Mikhail Gorbachev của khối Liên Sô để dẫn đến tình trạng dẹp tan cuộc chiến tranh lạnh một cách êm thắm.

Chính sách thực dụng lại được áp dụng dưới nhiệm kỳ TT Bush bố, với thời kỳ yên ổn nhất qua việc sụp đổ của khối cộng sản, thống nhất hai nước Tây và Đông Đức. Thế nhưng họ lại bị chỉ trích bởi một chính trị gia khuynh tả khác cũng đầy lý tưởng là Bill Clinton là những kẻ "hợp tác với những tên đồ tể tại Bắc Kinh" khi không lên án chính quyền Trung Cộng trong việc đàn áp cuộc nổi loạn tại Thiên An Môn.

Thế nhưng, sau đó không lâu chính quyền Clinton lại năng động hơn hết trong việc hợp tác với Trung Cộng trong lãnh vực kinh tế để đẩy mạnh nền kinh tế của cả hai nước, giúp cho Trung Cộng sớm được gia nhập vào Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới WTO. Người trong cuộc biết rõ về sự trở mặt giữa lý tưởng và thực tế trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ với Trung Cộng là ông Brent Scowcroft, Cố vấn An ninh Quốc gia dưới thời TT Bush bố và cũng là một người bạn thân lâu đời của gia đình này. Ông Scowcroft cũng là tiếng nói đại diện cho các chính trị gia theo trường phái thực tế lên tiếng chống đối mạnh mẽ nhất chính sách tấn công Iraq của chính quyền Bush ngay từ lúc chưa bắt đầu và cũng khiến cho bộ tham mưu của Bạch Cung khó chịu nhất nhưng không thể chụp mũ ông là thành phần hèn nhát hay chủ bại như các chính trị gia Dân Chủ vì ông là một cựu viên chức cao cấp của phe Cộng Hoà cùng thời với các ông Cheney và Rumsfeld cũng như là đàn anh đã có công dẫn dắt những người như bà Condoleezza Rice và ông Stephen Hadley, đương kim Cố vấn An ninh Quốc gia, vào chính trường từ lúc ban đầu cho đến lúc đỉnh cao danh vọng như ngày nay.

Ông Scowcroft bị chỉ trích bởi phe lý tưởng và phải chịu mang tiếng nhiều nhất về chính sách của Hoa Kỳ không nâng đỡ các nhân vật bất đồng quan điểm chính trị ở các nước độc tài. Điển hình nhất là vào năm 1999, khi cả thế giới xúc động trước hình ảnh một thanh niên đứng giữa đường dang tay cản ngăn bước tiến của đoàn xe tăng của quân đội Trung Cộng đang sửa soạn tiến về quảng trường Thiên An Môn để dẹp tan vụ xuống đường biểu tình của các sinh viên. Dĩ nhiên sau đó không lâu thì vụ chống đối này đã bị dẹp tan một cách thô bạo theo lệnh của lãnh tụ Deng Xiaoping (Đặng Tiểu Bình). Ông Scowcroft được TT Bush Bố gửi sang Bắc Kinh để chuyển lại lời lo ngại của Hoa Kỳ và phương Tây trước hành động đàn áp dã man các phong trào chống đối, tuy nhiên lãnh tụ họ Đặng đã trả lời thẳng thừng rằng đó là chuyện nội bộ, chính quyền Trung Cộng muốn làm điều gì thì tuỳ ý họ. Ông Scowcroft cũng đồng ý với quan điểm đó, tuy nhiên ông muốn nói rằng hậu quả của việc làm đó lên mối tương quan với các nước khác trên thế giới mới chính là mối quan tâm mà Hoa Kỳ phải lo lắng và muốn báo cho Trung Cộng biết. Chính vì thế mà sau đó Hoa Kỳ đã quyết định phong toả việc bán vũ khí của phương Tây cho Trung Cộng, và chính sách cứng rắn này còn tiếp tục hiệu lực cho đến ngày nay.

Tuy nhiên một hình ảnh của chuyến đi Trung Quốc đã khiến cho ông Scowcroft và chính quyền Bush Bố bị nhiều người công kích và chỉ trích đến nỗi không phương chống đỡ. Trong bữa yến tiệc chính thức khoản đãi phái đoàn Hoa Kỳ, ở phần cuối bao giờ cũng có nghi thức hai bên chủ và khách cùng nhau nâng ly chúc tụng. Đến khi các chuyên viên thu hình sắp bước vào phòng, ông Scowcroft biết mình đang đứng trước hai chọn lựa khó khăn: hoặc là ông quay lưng với chủ nhà và bỏ đi ra ngoài, một hành động bĩ mặt gia chủ thậm tệ theo truyền thống Á Đông, tức là coi như đã phá hỏng hoàn toàn mục đích của chuyến đi, hoặc là ông trở thành một kẻ lố bịch, đứng cụng ly chúc mừng với những tay lãnh tụ đã ra lệnh tàn sát dã man sinh viên vô tội ở Thiên An Môn và bị thế giới nguyền rủa. Và ông đã chọn giải pháp thứ hai, khi nghĩ đến mục đích của chuyến đi cũng như quyền lợi tối thượng của Hoa Kỳ hơn là hình ảnh hay uy tín của cá nhân mình. Trong kỳ vận động bầu cử năm 1992, ứng cử viên Bill Clinton dùng chuyện này để đả kích thậm tệ chính sách ngoại giao của ông Bush Bố đối với Trung Cộng, cho rằng chính quyền Bush sẵn sàng bắt tay ăn mừng với "các tên đồ tể của Bắc Kinh". Tuy nhiên, chỉ hai năm sau đó, sau khi biết rằng nếu Hoa Kỳ không ủng hộ Trung Cộng gia nhập vào WTO, thì Liên Hiệp Châu Âu cũng sẵn sàng mở cửa để làm ăn với quốc gia đông dân khổng lồ này, chính quyền Clinton đã thay đổi chính sách, dẹp hẳn đề tài nhân quyền và chỉ nói đến chuyện giao thương mậu dịch như là trọng điểm trong mối quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Theo ông Scowcroft thì đó chính là sự chiến thắng của chủ nghĩa thực tế.

TT Bush về cuộc chiến Iraq

TT Bush, trong thời gian tranh cử, thường chỉ trích chính sách hay can thiệp vào nước ngoài của Hoa Kỳ, và cho rằng mình sẽ áp dụng một chính sách thực tiễn hơn, chú trọng đến nội địa nước Mỹ. Thế nhưng, biến cố 9-11 xảy ra và đã đẩy ông trở thành một trong những chính trị gia mang nhiều lý tưởng và cao vọng nhất để rồi đưa đẩy Hoa Kỳ vào nhiều chương trình và xung đột gây tốn kém và khó khăn nhất cho quốc gia.

Tuy nhiên, kế hoạch đơn phương tấn công Iraq, bất chấp sự chống đối của đa số các nước trên thế giới cũng như sự không đồng thuận của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, cho dù là với lý do cần thiết là để bảo vệ an ninh của Hoa Kỳ, chính là điều sai trái trầm trọng nhất của chính quyền Bush mà Hoa Kỳ sẽ phải gánh chịu hậu quả mất uy tín trầm trọng của mình trong lâu dài. Bởi vì hiển nhiên điều này đã đi ngược lại với tinh thần tự quyết và tự chủ của mỗi quốc gia cũng như nguyên tắc bang giao quốc tế theo tiền lệ đã có từ trước đến giờ. Tưởng cũng nên nhắc lại, sau hậu quả tương tàn của các cuộc chiến vì lý tưởng tôn giáo kéo dài trong cả thế kỷ, Hiệp ước Wesphalia được ký kết vào năm 1648 để thiết lập nền tảng bang giao quốc tế với nguyên tắc không can thiệp vào nội bộ của mỗi quốc gia. Các quốc gia chỉ tham chiến hay tấn công trả đũa lại nếu như cần phải tự vệ hay bị xâm phạm đến quyền lợi riêng của mình chứ không phải vì nguy cơ có thể bị tấn công trong tương lai, như chính quyền Bush đã cố ý vẽ lên mối hiểm hoạ sẽ bị Iraq tấn công nếu như không ra tay trước. Và tiền lệ này đã được tôn trọng từ đó đến nay qua nhiều cuộc chiến to nhỏ trong lịch sử. Đó cũng là lý do giải thích tại sao trong cuộc Chiến Tranh Lạnh suốt hơn 40 năm sau Đệ Nhị Thế Chiến, cả hai cường quốc Hoa Kỳ và Liên Sô đều không dám tự ý tấn công đối phương mặc dù tiềm năng hay hiểm hoạ bị huỷ diệt bởi vũ khí nguyên tử của đối phương lúc nào cũng lăm le bùng nổ.

Thật ra thì nhiều nước trên thế giới cũng có cùng nỗi e ngại với Hoa Kỳ về mối hiểm hoạ từ chính quyền của Saddam Hussein. Tuy nhiên, cho dù có muốn tấn công Iraq để thay đổi chế độ độc tài ở Iraq - và đây chính là sự khác biệt giữa hai khuynh hướng lý tưởng và thực tế - nhiều người đã khuyên can trước đó rằng chính quyền Bush không nên hấp tấp vội vàng, cần phải tiến từng bước vững chắc trong liên minh toàn cầu cũng như đã cảnh cáo về những hậu quả khốc liệt khôn lường nếu như Hoa Kỳ quyết định đơn phương tấn công Iraq lúc đó.

Trong số những người lên tiếng chống chính sách chủ chiến của TT Bush không phải chỉ có những chính trị gia phe Dân Chủ như nhiều người lầm tưởng theo cái quan niệm sai lầm cố hữu rằng đảng Cộng Hoà là diều hâu, sẵn sàng và mạnh dạn dám dùng vũ lực để bảo vệ an ninh trong khi đảng Dân Chủ là bồ câu, thường chỉ thích mong muốn hoà bình không đụng chạm với ai. Đó là những chính trị gia đảng Cộng Hoà thuộc thành phần theo khuynh hướng thực tế, như các ông Lawrence Eagleburger, cựu ngoại trưởng thời TT Bush Bố và ông Scowcroft. Trong một bài xã luận đăng trên tờ nhật báo khuynh hữu là Wall Street Journal, ông Scowcroft đã vạch ra những khó khăn cho một kế hoạch tiến chiếm Iraq, gây bất ổn cho toàn vùng, cũng như kéo dài sự dấn thân và tốn kém của quân đội Hoa Kỳ trong vùng đất này trong một thời gian lâu dài. Chính bài xã luận này đã đoạn tuyệt mọi giao hảo giữa ông và Toà Bạch -c vì chính đàn em cũ của ông là bà Rice cũng đã tỏ ra giận dữ và trách móc ông thay vì chịu khó lắng nghe những ý kiến và phân tích xác đáng và hữu ích của một cựu cố vấn an ninh quốc gia.

Giờ đây khi bước vào nhiệm kỳ hai, chính quyền Bush bắt buộc phải nhìn nhận những khó khăn xảy ra ở chiến trường Iraq đang gần như kéo Hoa Kỳ vào một cuộc sa lầy không lối thoát, một viễn tượng khá bi quan không khác gì những lời cảnh cáo lúc trước của ông Scowcroft.

Ông Scowcroft cho rằng lỗi lầm lớn nhất của chính quyền Bush là chỉ nghe lời của một nhóm cố vấn quá nhỏ nên không biết hết những ý kiến khác nhau và cũng quá tin vào những lời cố vấn sai lạc. Đó là lời cố vấn của một học giả về Trung Đông của trường Đại học Princeton là ông Bernard Lewis, đã cố vấn cho PTT Cheney rằng sau vụ 9/11 Hoa Kỳ cần phải dương oai diệu võ, cần phải "đập thẳng vào mặt đối thủ bằng một khúc gậy to, và như thế thì cái bọn Ả Rập này nó mới nể sợ."

Ông Scowcroft cũng chỉ trích một tiếng nói lý tưởng khác đã ảnh hưởng lên chính sách đơn phương tấn công Iraq, đó là ông Wolfowitz, thứ trưởng quốc phòng, bằng những lời lẽ nặng nề: "Anh ta đúng là đang nói về một điều hoang tưởng (utopia). Anh ta cho rằng mình sẽ thay đổi vùng Trung Đông, sẽ chấm dứt chiến tranh và biến vùng này thành một xã hội dân chủ." Điều ông Scowcroft cho rằng ông Wolfowitz là một kẻ đầy lý tưởng là đã bác bỏ hết những lời thắc mắc khuyên can của người khác về những tình huống tệ hại có thể xảy ra với câu trả lời gọn lỏn "điều đó sẽ không xảy ra", trong khi những tiếng nói thực tế thì sẽ phát biểu rằng "điều đó có thể xảy ra và chúng ta không thể lơ là hay khinh xuấi".

Chỉ hơn nửa năm sau khi bước vào nhiệm kỳ hai của Tổng Thống George W. Bush, người ta thấy rõ ràng là chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đã rẽ sang một bước ngoặt thực tế hơn cho dù trước đó không lâu nhiều người đã bàn tán hay phân tích đến những lời hứa hẹn đầy lý tưởng cao vọng trong bài diễn văn nhậm chức của ông Bush. Việc làm của chính quyền Bush trong thời gian qua cho thấy là Hoa Kỳ đang theo đuổi những quyền lợi thực tế cho mình thay vì những lý tưởng cao đẹp trên lý thuyết như tự do dân chủ khắp nơi trên toàn cầu, và phương pháp áp dụng để thi hành chính sách là đường lối hoà hợp thay vì đối đầu hay gây hấn để giảm bớt những khó khăn.

Điều gì giải thích sự thay đổi rẽ ngoặt trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ? Những người cực hữu ủng hộ chính quyền thì vẫn bác bỏ điều này, một số cho rằng không có xảy ra chuyện đó và một số khác thì biện luận rằng đó chỉ là những sửa đổi nhỏ về chiến thuật để thích ứng với những đổi thay mới trên thế giới vốn đã phải cải thiện hơn trước áp lực cứng rắn của chính quyền Bush trong thời gian qua. Giới truyền thông am tường thời sự và những phân tích gia chỉ trích chính quyền Bush thì cho rằng cuộc xoay chiều đã xảy ra vì nhiều yếu tố khác nhau về chính trị lẫn nhân sự, như tình hình bi quan tại Iraq dẫn đến kết quả thăm dò dân ý tụt dốc của TT Bush hoặc vai trò của ngoại trưởng Condoleezza Rice với cái nhìn thực tiễn hơn trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ.

Đối với nhà báo Gideon Rose, chủ biên tạp chí Foreign Affairs, thì kết luận thật ra đơn giản hơn nhiều: đó là cái gọi là "chủ thuyết Bush" thật ra đã đổ vỡ, và chính quyền Mỹ đã phải bắt đầu chấp nhận chủ nghĩa thực dụng để khỏi phải chuốc thêm nhiều khó khăn hay thất bại.

Hơn 3 năm rưởi sau ngày tuyên bố đích danh kẻ thù của mình trong cái gọi là "trục ma quỷ" (axis of evil), chiến dịch tấn công của TT Bush đã gặp phải nhiều trở lực chứng tỏ những khó khăn trầm trọng cho tham vọng to lớn của chính quyền Hoa Kỳ trên cả ba kẻ thù.

Trước hết, đối với Bắc Hàn, một trong những đối thủ hung hãn đáng gờm nhất, mặc dù đã xuống nước khá nhiều và đã cầu cứu sự tiếp tay của Trung Cộng, Hoa Kỳ vẫn không đạt được một sự thoả thuận nào từ phía chính quyền Bình Nhưỡng (Pyongyang) để từ bỏ tham vọng theo đuổi chương trình phát triển vũ khí hạch tâm. Sau gần hai năm trời theo đuổi các cuộc thảo luận giữa sáu nước (Hoa Kỳ, Bắc Hàn, Nam Hàn, Trung Cộng, Nhật Bản và Nga Sô) để giải quyết vấn đề, các cuộc bàn thảo kéo dài vẫn chưa đạt một kết quả khả quan nào. Trong khi đó, mặc dù đã đưa ra những lời tuyên bố mạnh mẽ và cứng rắn trước đây, ai cũng biết là Hoa Kỳ vẫn chưa tìm ra một giải pháp tốt đẹp nào, về chính trị lẫn quân sự, để ngăn chặn nỗ lực của Bắc Hàn trong tham vọng theo đuổi vũ khí hạch tâm. Dĩ nhiên về mặt quân sự, Hoa Kỳ vẫn có dư khả năng để tấn công hay tiêu diệt Bắc Hàn, nhưng với một cái giá quá đắt là hàng chục ngàn quân nhân Mỹ trú đóng tại Nam Hàn cũng sẽ bị tiêu diệt luôn, chưa kể đến sự tiêu vong hay tàn phá ghê gớm của cả hai đồng minh của Mỹ là Nam Hàn và Nhật Bản. Về mặt chính trị, các đối thủ quan trọng của Mỹ là Trung Cộng và Nga Sô, tuy vẫn lo ngại về mối hiểm nguy thủ đắc được vũ khí nguyên tử của Bắc Hàn, vẫn không muốn giúp đỡ Hoa Kỳ, hay đúng hơn là mong muốn Hoa Kỳ tiếp tục lúng túng trong địa bàn này để khỏi còn có ý tưởng hay tham vọng biểu lộ sức mạnh quân sự độc tôn của mình như trong vòng vài năm qua. Đó là chưa kể Nam Hàn, cho dù có thể bị trực tiếp thiệt hại trong bất cứ cuộc xung đột nào, vẫn không luôn luôn chấp nhận chính sách của Hoa Kỳ mà lại tìm những đường hướng hợp tác hay đối thoại với Bắc Hàn khác với đường lối của Mỹ.

Kế đến, với kẻ thù thứ hai là Ba Tư (Iran), cho dù đã hoà hoãn hơn và để cho khối Âu Châu, đặc biệt là ba nước Pháp, Đức và Nga, chủ động trong cuộc điều đình với chính quyền tại Teheran về vấn đề ngưng phát triển chương trình chế tạo uranium, Hoa Kỳ, và Âu Châu, vẫn không đạt được kết quả khả quan nào sau khi chính quyền mới của Iran tuyên bố tiếp tục đẩy mạnh lại chương trình phát triển này sau một thời gian ngắn tạm đình chỉ trong lúc điều đình. Cho dù là Iran đã ngang nghiên thách thức tổ chức Nguyên Tử Lực Quốc tế IAEA và các nước khác không thể cản ngăn ý định của nước này muốn phát triển lại chương trình phát triển hạch tâm khiến cho Hoa Kỳ và Âu Châu đều đồng thanh muốn đưa vụ này ra trước Hội Đồng Bảo An LHQ để tính đến chuyện trừng phạt, mọi người đều nhìn thấy rõ ràng là hiện nay không có một giải pháp nào khả quan và hiệu quả nào để có thể kềm hãm đà tham vọng của Iran mà không gây thiệt hại nặng nề cho Hoa Kỳ, Âu Châu và có lẽ cả nền kinh tế toàn cầu.

Sau cùng, ở chiến trường Iraq, nơi mà chính quyền Bush đã hùng dũng biểu dương sức mạnh của mình và xem thường sự chống đối của đa số các nước khác trên thế giới cách đây hơn hai năm, các lãnh tụ trong bộ tham mưu ở Bạch Cung và Ngũ Giác Đài đã tung ra những quả bóng thăm dò về kế hoạch rút quân, ít ra là từ từ nhưng có lẽ sẽ xảy ra trong năm 2006, rời khỏi chiến trường Iraq vì nhiều áp lực quân sự và chính trị ở nội địa Hoa Kỳ, sau khi lời tuyên bố thẳng thừng của một dân biểu diều hâu là ông Jack Murtha là quân lực Mỹ đã không thể đạt thêm thành công nào ở Iraq nữa và càng có mặt lâu ở nơi này thì càng trở thành mục tiêu của đối phương cũng như dễ trở thành nguyên nhân của biết bao rắc rối khác.

Điều gì sẽ xảy ra trong thời gian sắp tới? Tuy TT Bush đã đọc nhiều bài diễn văn nhấn mạnh một cách lớn tiếng rằng Hoa Kỳ sẽ không tính đến chuyện thoái lui khi nào ông còn làm tổng tư lệnh quân đội, và sẽ còn tiếp tục đọc thêm nhiều bài diễn văn khác để nhấn mạnh đến những thành quả gọi là khả quan ở Iraq, nhiều giới am tường thời sự cho rằng, những áp lực chính trị sẽ bắt buộc chính quyền Bush phải tính đến chuyện bắt đầu rút quân ra khỏi Iraq, ít ra là trướùc khi cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ vào năm 2006, và chỉ cần hy vọng Iraq trở thành một quốc gia tương đối bình lặng hơn, tuy rằng vẫn chưa có thể là một thể chế dân chủ theo như lý tưởng mong muốn lúc ban đầu.

Để kết thúc bài này, xin kể lại một kinh nghiệm mà ông Brent Scowcroft đã chia sẻ với nhà báo Jeffrey Goldberg của tuần báo The New Yorker trong một bài phỏng vấn đăng trong số 31-10-2005 khi phân tích sự khác biệt và giằng co giữa hai khuynh hướng lý tưởng và thực tế của các chính trị gia cầm quyền. Nhiều người thắc mắc không hiểu vì sao bà Condoleezza Rice, một trong những người đã được ông Scowcroft dìu dắt vào chính trường từ thuở ban đầu nhưng sau đó đã quay lưng lại với người thầy cũ của mình với những lời lẽ cứng rắn đầy lý tưởng như luận điệu của người chủ mới là TT George W. Bush. Có lẽ vì có niềm tin tôn giáo cuồng nhiệt, lúc nào cũng nhìn đời qua lăng kính thiện và ác, tương tự như trường hợp của TT Bush, được coi là một thứ ngoan đạo đến gần như cuồng tín tiêu biểu của những con người cải đạo (born again Christian). Trong một cuộc đàm luận giữa bà Rice và nhiều viên chức cao cấp cũ của thời TT Bush Bố vào tháng 9-2002 tại một nhà hàng ở khu Georgetown thuộc thủ đô Hoa Thịnh Đốn, khi cuộc trao đổi về vấn đề Iraq trở nên sôi nổi thì bỗng nhiên bà Rice tỏ ra nóng nảy và phát biểu: "Thế giới này là một vùng đất rối loạn, và bắt buộc phải có một người nào đó đứng ra lo dọn dẹp." Tất cả thực khách trong bàn, gồm toàn những cựu chức sắc lão thành và cao cấp, đều ngạc nhiên trước lời phát biểu đầy tính cách dạy đời kiểu truyền giáo này.

Trong một bữa ăn chót giữa hai người vào cuối năm 2003, ông Scowcroft cho biết là họ cũng đã bàn về đề tài Iraq. Khi bà Rice nói rằng "chúng ta (Hoa Kỳ) sẽ dân chủ hoá Iraq" thì ông Scowcroft đã đáp trả rằng "chúng ta không thể nào dân chủ hoá Iraq được". Bà Rice liền phản pháo rằng "đúng là ông vẫn còn chôn chân với thời quá khứ" và liệt kê ra những khuyết điểm như là đã che chở hay bỏ lơ những chế độ độc tài ở Trung Đông trong vòng 50 năm qua.

Và ông đã trả lời một cách nhẹ nhàng, tuy không giấu được một nụ cười thoải mái kín đáo: "Thế nhưng chúng tôi đã có được 50 năm bình yên, đó chẳng phải là điều tốt hay sao?"

Nguyễn Anh Tuấn
Houston, Texas


In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè:

     http://tudovis.com/kktd/binh_luan_2/bl_kho_khan_va_thu_thach_cua_cuo.htm

Người gửi:

Địa chỉ email: *


Người nhận:

Có thể gửi cho nhiều địa chỉ, nhớ bỏ dấu phẩy trước khi bắt đầu địa chỉ mới.
Địa chỉ email: *
Lời nhắn:
Quí vị có thể copy hết cái bài ở trên và bỏ vào trong hộp Lời nhắn
 
* Thông tin bắt buộc        
Note: Chi tiết bạn điền vào trang này sẽ không được dùng để gửi thư không mời, hoặc bán cho nơi khác.