Tết Mậu thân, Cộng
sản phương Bắc đã lật lọng, trắng trợn xé bỏ lệnh hưu chiến, phát động
cái gọi là tổng công kích, tổng nổi dậy trên toàn các thành phố, đô thị
của Việt nam Cộng hòa. Nhân dân thành phố Huế chuẩn bị đón xuân trong
bầu không khí xô bồ, tất bật, vội vàng, hối hả... rộn ràng hơn mọi năm.
...
...
Đêm giao thừa pháo nổ rền vang, xen lẫn tiếng súng đì đùng thay pháo.
Sáng mồng một tết, mưa phùn gió bấc và rét căm căm, người dân Cố Đô
bàng hoàng thảng thốt khi nhìn thấy lá cờ xanh đỏ của cái gọi là Mặt
Trận Giải Phóng Miền Nam, ủ rủ trên cột cờ Phu-Văn Lâu. Tiếng súng nổ
như bắp rang mọi nơi trong thành phố, tiếng phản lực gầm thét trên bầu
trời trắng đục màu tang chế. Lợi dụng đêm ba mươi tết với lệnh ngưng
chiến, Việt cộng đã dùng thủ đoạn hèn nhát cắn trộm, nhanh chóng chiếm
giữ các vị trí chiến lược, phá lao Thừa Phủ, thả đám tội phạm hình sự
ra sáp nhập bọn nằm vùng tha hồ đi cướp bóc, trả thù trả oán cá nhân...
gây bao tang tóc cho người dân Cố Đô vô tội.
Bộ tham mưu Sư đoàn
1 Bộ binh của tướng Ngô Quang Trưởng tử thủ ở Mang cá và bệnh viện
Nguyễn tri Phương, cố gắng bung các đơn vị cơ hữu rộng ra để bắt tay
với các đơn vị Dù từ cây số 17 và Quảng Trị vào tiêp cứu, qua ngã Cửa
Chánh Tây, An Hòa. Phi cơ, pháo binh liên tục dội bom và bắn phá những
vị trí địch, mỗi lần phản lực lướt qua, lưới đạn phòng không giăng kín
bầu trời. Trận chiến diễn ra vô cùng ác liệt trong Thành Nội, nhất là
Đại Nội, nơi đại đội Hắc báo, đơn vị thiện chiến nhất của sư đoàn 1 B.B
trú đóng. Sân bay Tây Lộc, khu Xã Tắc, Cầu Kho, cửa Đông Ba là những
nơi cuộc chiến đẫm máu nhất, hai bên dành nhau từng khu nhà, góc phố....
Đại
uý Nguyễn Văn Trung – liên toán trưởng biệt kích thám sát Lôi hổ - hấp
tấp bước vào phòng hành quân, cho gọi các Sĩ quan trưởng toán họp khẩn
cấp. Trung uý Trương, Thiếu uý Thạch Thơm, nai nịt gọn gàng bước vào
phòng, chào vị chỉ huy trực tiếp rồi ngồi quanh chiếc bàn có trải tấm
bản đồ thành phố Huế. Trời lạnh, nhưng trán đại uý Trung rươm rướm mồ
hôi, cằm bạnh ra, hai hàm răng nghiến vào nhau, làm bắp thịt hai má
rung rung, càng làm nổi bật vết sẹo kéo từ tóc mai đến gần cằm (dấu
tích của trận phản phục kích năm nào, khi xáp lá cà với địch, bị nhát
mã tấu ngọt lịm liếm qua), quét ánh mắt nổi gân máu (mất ngủ hay giận
dữ) qua hai Sĩ quan thuộc cấp và gằn giọng :
- Tổ sư nó, cứu
nhân như cứu hỏa, rứa mà chờ đến hôm nay mới có lệnh nhập cuộc, không
hiểu làm ăn cái con c.. chi mà lạ rứa. Hai đứa bây phải cố gắng giúp
tau chuyến nị, tau đang lo lắng và bối rối lắm, không biết Mạ tau, vợ
và các em tau ra răng nữa (giọng Đại uý Trung bỗng nghẹn lại), khuya
nay xuất quân, mình sẽ phối hợp với Task-force X-Ray của US Marines,
phương tiện di chuyển bọn nó lo, toán thằng Thơm, (Đ/U Trung chiếu ánh
mắt qua Thơm) mầy phối hợp với Tiểu đoàn 1/5 US Marines, đổ bộ ở bến cá
chợ Đông ba, chỗ ni (Đại uý Trung chỉ trên bản đồ) đánh thốc lên cửa
Thượng tứ bắt tay với tiểu đoàn bộ binh, Sư đoàn 1, nỗ lực nhổ chốt cố
thủ trên Thượng thành, và kéo lá cờ khốn nạn kia xuống, hơi nặng đó
nghe Thơm, mầy nhớ cẩn thận, đánh trong thành phố là nghề của chàng mà.
Còn thằng Trương, mầy đổ bộ ở bến Toà Khâm, đây nầy, cùng tiểu đoàn 2/3
US Marines, nhưng khi đặt đầu cầu xong mầy tác chiến độc lập (Đại uý
Trung đưa đầu ngòi bút chì mỡ di chuyển trên tấm bản đồ), nghĩa là bọn
Lõ (Mỹ) sẽ clear lên hướng Bắc qua nhà thương, tòa hành chánh Tỉnh,
trường Quốc học, Đồng khánh tới Ga, còn mầy cho con cái ủi qua vùng
nầy... nầy qua Ty Cảnh sát, Ty Bưu Điện, cầu Kho Rèn, càn lên phía Bắc
đồn Quân cụ, kho Y Dược, đến Cầu Phú Cam, nằm chờ bắt tay tau. Tau sẽ
xuất xuất phát từ bộ chỉ huy Thiết đoàn 7 tại Trường bia, theo đường xe
lửa tiến về Phú cam, tau nhắc lại đánh du kích trong thành phố là nghề
của bọn mình, tụi bây cố gắng đừng làm mất mặt bầu cua. Nhớ cho mang
tối đa lựu đạn và M.79, nhắc bọn nó kỷ luật, người dân bỏ nhà chạy lánh
nạn, đừng có tơ hào, tau nói rứa chắc hai đứa bây hiểu rồi, có hỏi chi
thêm không ? Không à, thôi về chuẩn bị. Good luck…
Đại uý Nguyễn
văn Trung, chính gốc người Phú Cam Huế, to, cao, da ngâm đen, xuất
thân trường Võ bị QGĐL, tính tình trầm tĩnh, trọng kỷ luật, yêu thương
thuộc cấp như em út, thế mà mấy hôm nay tỏ ra cau có, nóng nảy, đôi khi
chưởi đổng và văng tục … điều mà trước đó chưa bao giờ nghe. Mấy ngày
dài chờ đợi tham chiến, Đại uý Trung như ngồi trên lửa, số là ổng mới
cưới vợ trước Tết khoảng một tháng, mười ngày phép cưới vợ, ổng chỉ
hưởng có năm ngày là có lệnh trở về đơn vị khẩn cấp, vì nhu cầu chiến
sự, rời người vợ trẻ chưa ấm vòng tay ân ái, bà mẹ già và hai cô em gái
trong vòng lửa đạn ngút ngàn hơn tuần lễ nay, cho nên Đại uý Trung tỏ
ra lo lắng, bồn chồn, đứng ngồi không yên...
Cũng như Trương,
mấy hôm nay, sẵn sàng súng đạn, quên ăn bỏ ngủ, đứng hàng giờ trên đài
quan sát, hướng đôi mắt đỏ lửa về thành phố Huế lòng đau như dao cắt,
không biết Kim và gia đình ra sao ?? Pháo binh từ Phú bài rót về Huế
không ngớt, ai còn ai mất trong bom đạn vô tình...
Ngôi biệt thự
mang số 9 đường Trương Định là nhà của bà mẹ kiến trúc sư Ngô Viết Thụ
- giải khôi nguyên kiến trúc La mã - từ lâu giao cho người quản gia già
trong nom, gồm nhiều phòng, cho các sinh viên ở xa về học Đại học Huế ở
trọ. Cũng không biết từ bao giờ, toán Biệt kích Lôi hổ đồn trú tại Phú
Bài cũng chiếm được một phòng, dành cho các Sĩ quan độc thân làm nơi
nghỉ ngơi sau những chuyến công tác. Cái villa cổ kính nầy nằm sát Ty
bưu điện Huế, ngăn cách bởi lớp hàng rào song sắt sơn đen, , đi về
hướng Nam là mặt sau khách sạn Morin cũ, nay là giảng đường Văn khoa,
bên tay mặt đường là trụ sở Tổng hội Sinh viên Huế, nơi phát xuất những
biến động mấy năm về trước, đi về hướng Bắc, bên tay phải là Cư xá Sinh
viên, mặt sau thư viện đại học Huế, dẫn ra cầu Nguyễn Hoàng – còn gọi
là Cầu Mới – bên trái đường là các quán cóc bán càphê, bún bò, bánh ướt
thịt heo, bột lọc, bánh nậm v..v... Trước bưu điện Huế là con đường
ngắn, rợp bóng mát của tàng cây phượng vĩ, ôm gọn cổng trường nữ Công
giáo Jeane d’Arc….. Buổi sáng, trong khi các bạn dẫn nhau ra quán cà
phê đấu hót, thì Trương hay thơ thẩn đến đứng dưới gốc phượng, bên kia
đường, đối diện cổng trường, nhìn đám nữ sinh đi học, không biết đó là
thói quen tốt hay xấu, nhưng nhũng lúc đó tâm hồn Trương dịu xuống,
thấy yêu đời và tìm lại được chút không khí của một thời cắp sách nay
không còn nữa … Suốt tuần lễ nay, đều đặn, đúng 7giờ 15 Trương có mặt
dưới gốc cây phượng và 7 giờ 20 thì chiếc xích lô của ông già đổ lại
trước cổng, và cô bé lai tây phương, mái tóc hoe hoe vàng, cắt ngắn
trong áo đầm màu hoa sặc sỡ, hay jupe xoè, bước xuống xe, khoác cặp vào
vai, nhảy chân chim mất hút trong sân trường. Trương thẫn thờ nhìn theo
rồi lẳng lặng về phòng, với những buồn vui lẫn lộn... Đời lính chiến,
xông pha trận mạc, ở rừng thì buồn mơ về thành phố, mà về phố thì thấy
cô đơn lạc lõng, như mán về thành, không trách gì những chàng lính trẻ
của Trương hay quậy phá, chúng cũng mang tâm trạng chung, cô đơn, lạc
lõng rồi đâm ra phẫn nộ, muốn đập phá thành sầu, trút bỏ nhọc nhằn gian
khổ bên bia rượu, để rồi lại ra đi, biết đâu sẽ không về nữa... Đời
Trương sớm gánh lấy nhiều bất hạnh, mồ côi sớm, chưa bao giờ được quây
quần sum họp bên bếp lửa ấm gia đình, ước mơ có người em gái nhỏ để săn
sóc chiều chuộng sau những chuyến quân hành... hình ảnh cuả cô bé lai
có mái tóc demi-garcon hoe vàng, ngồ ngộ, lí lắc, cứ ám ảnh Trương, đôi
lần Trương muốn đón đường làm quen, nhưng ngần ngại, đắn đo, sợ đột
ngột làm cô bé hiểu lầm hoặc sợ sệt, nên bỏ lỡ nhiều dịp... Rồi có lệnh
lên đường cho chuyến công tác mới, Trương đếm từng ngày trôi qua, mười
chín ngày làm thân con thú rình mồi trên biên giới Lào -Việt, hình ảnh
cô bé với những bước nhảy chân chim, chân sáo mất hút trong sân trường
làm lòng Trương ấm lại và nhớ quay quắt..
Về đến Phú bài, dù đã
nửa đêm, không kịp thay quần áo, tắm rửa, Trương đã hối thúc tên đệ tử
lấy Honda đưa Trương về Huế.Ttrời mới mờ mờ sáng, Trương đã bồn chồn
bước ra khỏi phòng, Huế vẫn còn ngái ngủ, hai tay đút túi quần, Trương
bước chầm chậm ra đường Lê Lợi, lên phía cầu Trường tiền, đường vắng
hoe, thỉnh thoảng có chiếc xích lô chở hàng chạy qua chợ Đông ba. Huế
muôn đời vẫn trầm mặc, đài các như các tiểu thư sống trong cung đình.
Huế uể oải vươn vai ngáp dài sau một giấc ngủ nhiều mộng đẹp, ướp ngát
hương sen hồ Tịnh tâm... Huế không ồn ào, náo nhiệt như Sài gòn. Đà
nẵng. Vừng hồng ló dạng sau đền đài u tịch, những con đò nằm im lìm
dưới bến Thương bạc, thả những làn khói trắng lên cao, mặt nước sông
Hương đón nhận ánh bình minh … bên kia Cầu Mới, thấp thoáng xa xa là
cầu Bạch Hổ ẩn hiện trong làn sương mỏng ban mai, xe cộ bắt đầu qua lại
tấp nập, những tà áo trắng nữ sinh lướt qua trong nắng sớm. Trương thả
bộ đến gốc phượng quen thuộc trước cổng trường, đúng 7 giờ 20 chiếc
xích lô ngừng lại và cô bé với chiếc jupe màu hoa cà bước xuống, cô bé
không nhảy chân chim vào sân như mọi khi mà bước nhanh về phía Trương,
nét mặt rạng rỡ, tiếng nói êm như chim hót :
- Gần ba tuần ni chú đi mô mà không thấy chú đến ?
Trương
đớ lưỡi, trời ơi ! cô bé biết Trương vắng mặt gần hai mươi ngày, té ra
những buổi sáng cô bé làm như vô tình chạy vào sân trường, lại có đôi
mắt phía sau gáy nhìn thấy Trương đang thẫn thờ trông theo.
Trương giật mình ú ớ :
- Chú … Chú à ?
- Thì chú chớ răng ? Không nghe người ta thường gọi là Chú lính đó răng ?
- Rứa bé không nghe người ta nói : tình anh lính chiến à ?
- Anh… ôi ! dị òm…
Rồi vụt chạy vào mất hút trong sân trường
Trên
cành phượng hai con chim sẻ đùa giỡn riả lông nhau kêu chí choé. Trương
lững thững cất bước về phòng như người mộng du. Cô bé đếm kỹ Trương xa
Huế gần ba tuần, đúng ra Trương ở trong rừng mười chin ngày, còn ba
ngày cấm trại 100% tại Phú bài (Đơn vị Trương có thông lệ là cấm trại
từ ba hôm đến tuần lễ trước khi xuất phát, mục đích ăn ngủ no nê, có
sức khoẻ cho những gian khổ sắp đến và hạn chế các chàng lính trẻ ra
quán ăn nhậu ba hoa làm lộ tin tức), Cô bé đáo để thật, hạnh phúc ập
đến bất ngờ làm Trương choáng ngợp, nằm được một lát Trương ra quán
nước cạnh Bưu điện, ngồi uống nước, hướng mặt về phiá cổng trường và mơ
mộng lung tung... Giờ bãi học, học sinh l lượt ra về, chiếc xích lô
lướt qua, cô bé vẫy tay nhè nhẹ, nét mặt có vẻ buồn ……..
Sáng
hôm sau, gà chưa thức giấc, Trương đã lê gót trên vỉa hè Lê Lợi, qua
Đồng khánh, Quốc học rồi vòng trở lại, tiếc rằng Trương không biết hút
thuốc, nếu có điếu thuốc lá cháy trên tay, người qua đường có thể tưởng
chàng là gã thi sĩ đang đi tìm vần thơ, hay gã thất tình đi nhặt lại kỷ
niệm cũ hay tệ hơn nữa là gã bài bạc cháy túi sau đêm dài sát phạt. …
Trương
tần ngần đứng dưới gốc phượng cũ, 7giơ20 chiếc xích lô quen thuộc dừng
lại, cô bé bước xuống, chân bước qua phía Trương nhưng mắt vẫn nhìn vào
sân trường, vừa đi vừa nói :
- Không nói chuyện được mô, hôm qua bị soeur hiệu trưởng phạt, bãi học đứng trước Bưu điện chờ.
Bóng
cô bé khuất sau cánh cổng. Trương nghĩ : hèn chi hôm qua cô bé có vẻ
buồn. Giờ bãi học, Trương đã có mặt trong quán nước trước Bưu điện,
chiếc xích lô dừng lại bên kia đường, cô bé bước xuống, nói nhỏ với bác
tài rồi vội vã băng qua, Trương đứng lên :
- Uống nước một lát rồi về, được không cô bé ?
- Được ! nhưng chú có tiền trả không ?
- Lính nghèo lắm, nhưng với vài ly nước thì dư sức bao.
Cả hai song song bước vào quán, cô bé nhìn Trương chăm chú và hỏi :
- Đi mô về mà đen như củ súng rứa ?
- Ưà, thì đi làm lính chớ đi mô, bé còn nhỏ đừng tìm hiểu làm chi cho mệt, khi lớn lên bé tự nhiên biết.
Cô bé nhăn mặt làm bộ hờn dỗi :
- Không còn bé nữa mô nghe, troisième rồi đó.
Trương buông đùa :
- Cô chủ ơi ! cho tui với cô người lớn ni hai ly chanh đá.
Và quay lại cô bé :
- Người lớn tên chi ? Cho anh biết được không ? (Trương xưng anh cố ý thăm dò)
- Tên xấu lắm, ở nhà gọi là Len, Len là tên ngắn của tên dài Gouffeur Madelène đó.
- Có tên Việt không ?
- Kim. Kim Madelène.
- Anh gọi Kim thôi có được không ?
- Cứ gọi rứa, vì bạn em cũng thường gọi Kim (cô bé vô tình hay cố ý xưng em ngọt xớt).
Ngồi
một lát Kim đòi về vì sợ Me đợi cơm, giữ trưa hè chói chang nắng, Kim
và Trương sóng bước về phía cầu Kho rèn, Kim cho biết nhà còn có Bà
ngoại, Me và Papa, Papa Kim là người Pháp làm việc cho nhà máy điện
Huế, cạnh nhà, không có anh chị em, Papa tối ngày ở bên nhà máy, chiều
mới về ăn cơm tối rồi ngủ... Suốt tuổi ấu thơ cho đến giờ Kim sống rất
cô đơn, ít bạn bè, đi ra đường bị kì thị, bị trêu chọc... Trương thấy
rưng rưng trong lòng, Cô bé sống trên nhung lụa sao có nỗi cô đơn như
đời niên thiếu của mình, Trương chợt hỏi :
- Kim cho anh làm anh trai của Kim được không ?
- Anh có chìu nổi Kim không ?
- Nếu Kim chịu, anh hứa sẽ chìu chuộng, săn sóc Kim như là người anh tốt nhất trên đời.
- Kim không đòi hỏi chi mô ! Miễn răng anh thương Kim là đủ rồi.
Đến cầu Kho rèn, bác xích lô đứng đợi dưới tàn cây trứng cá ven đường, Kim chỉ về tay mặt nói :
-
Qua khỏi bờ tường nhà máy đèn là villa sơn màu vàng nhạt, có cổng sắt
khép hờ là nhà Kim, mong anh đến chơi, thôi chừ anh về đi, đừng đứng
long ngóng ở đây, người ta dị nghi....
Từ đó trưa nào, Trương cũng đón Kim ở quán nước trước Bưu điện, nói chuyện, nhưng Kim không ngồi lâu :
-
Em đã nói chuyện quen anh cho Me nghe, và Me nói mời anh tới nhà chơi,
đừng ngồi quán nước hay đi dọc đường, người ta sẽ xì xào, dòm ngó.
Bao
lần Trương muốn đến nhà cô bé, nhưng cứ e ngại mãi : không biết có nên
chăng ? cái gì sẽ xảy ra ? đời lính chiến, niềm vui thì ít mà nỗi buồn
qúa nhiều...
Một bữa trưa, Trương ngồi trong quán nước đợi Kim,
học trò đã ra về hết, cổng trưòng vắng hoe, Kim không thấy đâu và bác
xích lô cũng vắng bóng, đang phân vân, thì cô bé bận quần jean, áo sơ
mi màu mỡ gà, đạp xe ngang qua, cười cười nói vọng vào :
- Thôi về đi ông lính ơi ! Kim Madelène bịnh nằm ở nhà rồi.
Trương
bán tín, bán nghi, nhưng cũng vội vàng về phòng, thay quần áo, cạo râu
ria, thằng Hải đang dọn dẹp trong phòng, ngạc nhiên hỏi :
- Tr/ uý đi đâu mà sửa soạn dung nhan kỹ zậy ?
- Kim đau, tau đi thăm, mầy chuẩn bị đèo tau đi. À mà nầy, đi thăm người bịnh thì mua gì, mày biết không ?
Hải cười cười :
- Ông đâu cần mua gì, chỉ mang theo hai trái lựu đạn là đủ rồi.
- Sư mầy Hải, đồ phàm phu tục tử, lấy tiền trên bàn chạy ra hàng trái cây trước Bưu điện mua vài kí lô cam táo mau lên.
Hải chộp tiền trên bàn, chạy bay ra cửa như sợ ăn cái đá cuả xếp.
Xe Honda ngừng lại đầu cầu Kho Rèn, Trương chỉ cái quán cóc bên đường bảo Hải :
- Mầy tới quán đó ngồi uống nước đợi tau.
Trương
dúi vào tay Hải nắm tiền lẻ, đẩy nhẹ cánh cửa sắt, con chó berger đen,
to tướng từ góc sân nhảy xổ ra, sủa vang, có tiếng la cuối vườn
:”Sangô, Sangô”, và người đàn ông tay mang găng, cầm kéo tỉa cây chạy
lại vỗ vỗ vào đầu con vật và giương đôi mắt tò mò nhìn Trương, vừa lúc
cánh cửa chính vụt mở, và Kim tươi cười hiện ra :
- Biết mà ! sắt đá chi cho lắm !
Rồi chạy ra kéo tay Trương đi vào nhà.
- Me lên trên Phú cam chưa về, vào chào Ngoại đi.
Trong
phòng nhiều ảnh tượng, Bà cụ ngồi trên ghế mây có lót nệm, tay cầm xâu
chuỗi hột, miệng móm mém run run, Kim vòng ra sau ôm lấy vai Bà cụ nói :
- Anh Trương đó ngoại.
Trương lễ phép vòng tay :
- Cháu xin chào Ngoại.
Bà cụ nhìn Trương từ đầu đến chân, vừa bỏ xâu chuỗi hột vào cái bao nhỏ:
- Ngoại nghe Len nói về cháu lâu rồi, mà răng không đến thăm Ngoại, chớ cháu thường đi lễ ở mô ?
- Dạ ngoài nhà thờ Phan xi cô gần chỗ con ở.
- Vào trong ni chơi rồi đi xem lễ trên nhà thờ Phú Cam với Ngoại và em nghe !
Vưà
lúc đó cánh cửa phòng mở ra, người đàn bà khoảng trên dưới năm mươi
bước vào, trang điểm đơn sơ nhưng có nét quý phái, Kim la lên :
- Me về ! Me về ! Me ơi, đây là anh Trương.
Trương lí nhí chào trong miệng, Me Kim đon đả :
-
Trương đây à con, Me rất mừng Trương đã đến nhà, mấy hôm rày Me cứ
ngóng đợi con, sợ con lại lên đường hành quân không gặp, từ nay con cứ
tự nhiên đến đây, đừng ngại chi cả, cứ coi đây như nhà con, đến chơi
với em, thăm Ngoại và Me, nhà rất vắng người, chỉ có chị bếp, anh làm
vườn, Ngoại thì tối ngày ở trong phòng, Papa Len tối ngày bên nhà máy,
Me thì đi luôn, Me coi rứa nhưng bận rộn lắm... Đừng ngại chi hết cứ
đến đây nghe con...
Me Kim nói một hơi dài, Me, con ngọt xớt
xớt, tự nhiên như đã là Me Con từ kiếp nào, lòng Trương rộn rã niềm
vui, hạnh phúc như trên trời rơi xuống bao kín lấy Trương làm Trương
choáng ngợp. Me Kim bảo chị bếp ra chợ Bến ngự mua thêm thức ăn làm cơm
đãi Trương, nhưng Trương ngại gặp Papa Kim nên xin hẹn lại hôm sau, đợi
Me Kim về phòng, còn lại hai đứa, Trương hỏi :
- Kim à, cô bạn nào vừa đạo diễn vở kịch vui gạt anh rứa ?
-
À, Diệu L. bạn em, anh Hà nó cũng lính, một hoa mai, hay chở nó đi học
bằng Honda, còn ông anh nữa là nhạc sĩ Trịnh công Sơn, chắc anh nghe
tên, nhà nó trong khu nhà Chung gần cầu Phú Cam, em chỉ có nó và con
Nguyện trên Phú cam là bạn thân, mà anh hỏi nó mần (làm) chi rứa ?
- Để mai anh nhờ Biện lý đưa cổ ra toà chớ mần chi.
Kim ngây thơ :
- Răng rứa anh ?
- Vì loan tin thất thiệt chớ răng.
Kim vỡ lẽ, níu tay Trương :
- Không phải hắn bày đặt mô, em nhờ đó.
Trương lái sang chuyện khác :
- Nầy Kim, trong nhà có xe Honda dame sao không dùng đi học mà đi xích lô, con nít qúa.
-
Xời ơi ! Em xin nhiều lần mà Me vẫn bắt đi học bằng xích lô, vì Me muốn
giúp Bác Tư có mối chở hằng ngày, giúp tiền cho Bác, Bác không nhận,
nhà Bác ngay đầu cầu, chỉ có hai vợ chồng già, anh con trai Bác đi lính
Hắc báo đã tử trân năm ngoái.
Trương bỗng dưng buồn, làm lính
chiến ai đâu biết được ngày mai ... Kim cũng cho biết thêm : Me Kim khi
còn trẻ (Ngoại kể) năm hai mươi, hăm mốt làm kế toán trong bệnh viên
trung ương Huế, đã kết hôn với một người y-tá, trong dịp người y-tá nầy
về Truồi chạp mả, bị VC bắt và chặt đầu vì tội làm tay sai cho Tây, gần
mươì năm sau, Me Kim vào làm thư kí cho nhà đèn Huế mới lấy Papa Kim
bây giờ, Papa Kim đã có vợ con bên Pháp, hằng năm Papa Kim nghỉ vacance
một tháng về thăm vợ con, đôi lần Papa muốn đem Kim theo, nhưng Kim
không muốn rời xa Me và bà Ngoại hay sợ dại Papa bắt ở luôn bên Pháp...
Từ
đó, sau những chuyến công tác, hay những lần đổi đi xa có dịp về lại
Huế, Trương về sống trong ngôi nhà đầy ắp tình thương nầy, Bà Ngoại,
Me, ai ai cùng dành cho Trương những tình cảm vô cùng dịu ngọt và ấm
áp, và Trương săn sóc, chìu chuộng Kim như người em gái thân yêu của
mình, những ngày Kim nghỉ học, những trưa hè in dấu chân trên cát biển
Thuận an, vẫy vùng bơi lội, Đại nội, Kim long và những con đường rợp
bóng mát hai bờ sông Hương, nghe đôi chim trò chuyện, chè Cồn, bánh bèo
Tây Thượng... Ghi bao kỉ niệm. Thế mà hôm nay Huế bừng cháy. Huế nằm
trong tầm bom đạn hủy diệt, Huế mịt mờ khói lửa. Huế đang mở ra cánh
cửa địa ngục trần gian. Ôi cô em gái bé bỏng, bà Ngoại ngoan đạo hiền
từ, và người Mẹ đầy lòng bao dung độ lượng và nhân ái kia biết sống
chết ra sao ? Mái gia đình êm ấm kia còn đó hay tiêu tan rồi? Lòng
Trương như bị ai xát muối...
Chiếc giang đỉnh vưà hạ nắp xuống,
Trương la lớn :” go …go..”, tất cả ùa ra nhảy lên bờ, khom người chạy
như bay vào bờ tường trường Trung học Kiểu mẫu, dưới làn mưa đạn rít
qua đầu, bên kia Thành nội, máy bay gầm rú trút bom, lưới đạn phòng
không đan lửa kín bầu trời, thượng liên và AK.47 từ khu đại học Văn
khoa thi nhau nhắm vào chiếc tàu đổ bộ, chen lẫn những tiếng nổ B.40.
Hai chiếc gunshif quần trên bầu trời phóng rocket và bắn đại liên xuống
khu vực đài phát thanh, bưu điện, Trương cho kiểm điểm quân số, không
một tổn thất nào.
Sân trường đông kín đồng bào lánh nạn, trời
vưà tang tảng sáng, rất lạnh, kẻ nằm, người ngồi co ro trong chăn chiếu
ngổn ngang, Trương vẫy Thượng sĩ Phê lại ban lệnh hành quân chi tiết
(từ khi thượng sĩ Mai đăng Doanh hy sinh, thượng sĩ Phê về thay thế,
Phê người Nam, hay tiếu lâm và có tật luôn miệng chưởi thề, nhưng can
đảm, tốt bụng). Trải tấm bản đồ xuống thềm ximăng, chiếu đèn pin vào,
cây bút chì mỡ di chuyển qua lại, Trương nói :
- Chúng ta sẽ ủi
vùng nầy, chúng nó đang ở trong các công sự kiên cố đã trên tuần lễ
nay, nhưng bứng chúng ra là nghề của bọn mình, lấy con đường Lý thường
Kiệt làm chuẩn, toán Thượng sĩ clear bên phải, tôi bên trái, song song
và yểm trợ cho nhau, bên phải của Thượng sĩ có bọn lõ Marines, thường
xuyên liên lạc kẻo nhầm, chia toán ra từng tổ tam tam, tiếp cận, thanh
toán gần, dùng tối đa lựu đạn và M.79. Đồng bào vùng nầy phần lớn chạy
ra đây hoặc dạt về Dòng Chúa Cứu thế lánh nạn, nhưng cũng thận trọng có
người còn ở lại nhà, Tết nhứt, chắc chắn có nhiều rượu, coi chừng bọn
nhỏ uống ẩu, ăn có nơi, chơi có lúc. Thượng sĩ nhớ kiểm soát gắt gao,
xong việc thì tha hồ. Lặng giây lát Trương nhìn Phê thăm dò và hỏi tiếp
: Ông còn gì hỏi thêm không ?
- Rõ như ban ngày rồi Trung uý.!
- Ok! Good luck !
Bóng
Thượng sĩ Phê và những người lính khuất sau bức tường phía đông, Trương
khoát tay Lễ, Hải, Tư, Ybra, Hạ sĩ Vàng mang máy lúp xúp chạy theo,
trời sáng hẳn, bầu trời trắng đục màu sữa, mưa phùn dai dẳng, lạnh
buốt, không gian vắng lặng đến rợn người, từng tổ tam tam âm thầm len
lỏi bò qua những mảnh vườn hoang vắng, những ngôi nhà nằm im lìm trong
mưa. Bỗng phiá cánh quân Thượng sĩ Phê tiếng súng M.16 và AK.47 nổ liên
hồi, trước mặt Trương tổ xung kích cũng báo động, có bóng người lấp ló
trong khuôn viên Ty Cảnh sát. Trương ra dấu cho Hạ sĩ Mẹo đem cây đại
liên M.60 trí ở gò đất, và lệnh cho hai tổ tam tam của Mai và Hữu bọc
hai cạnh sườn, cùng lúc AK.47 trong Ty Cảnh sát bắn ra xối xả, vài tia
lửa toé lên, cùng những tiếng nổ đinh tai nhức óc ở góc tường. Tư đã
thụt vào hai trái M.79, tiếng súng bỗng nhiên im bặt, tiếng Mai hô
“xung phong“, Trương nhoài người chạy về phía trước cũng hô “xung
phong, xung phong“, ba xác VC nằm bầy nhầy ở góc tường, không biết vì
lựu đạn hay M.79, bên cánh ba khẩu AK 47, lục soát bên trong thấy trên
nên xi- măng vung vãi nhiều bánh chưng, bánh tét, dưa món, đặc biệt là
mấy vỏ chai rượu hiệu Ông già chống gậy, Trương bỗng bật cười, có lẽ
con cháu Bác chuẩn bị đi thăm Đệ thất hạm đội (bến đò Thương bạc, nổi
tiếng chị em ta..), thì ra bọn chúng vừa tháo chạy, chỉ để lại tổ đoạn
hậu, trước khi Trương đến. Tiếng Thượng sĩ Phê báo cáo trong máy:
- Đã clear xong đồn Quân cảnh, hạ ba tên, thu ba AK.47, bên ta B1 Du bị rách áo nhẹ.
Trương
ra lệnh cho băng bó và tản thương về phia sau, nhưng Thượng sĩ Phê cho
biết : “Du muốn ở lại ủi tiếp.” Trương nói lầm bầm :” Đồ lì lợm“. Trao
ống nghe cho Hạ sĩ Vàng, khoát tay cho di chuyển tiếp. Trương lom khom
chạy về tổ của Lô, ngang qua khách sạn Thuận hoá, băng qua đường Duy
tân, bên kia là cổng trường Jeane d’ Arc nằm im lìm dưới mưa phùn, thê
lương, ảm đạm, còn đâu những chú chim se sẻ đuổi nhau, còn đâu những
tiếng cười đùa vô tư trong sân trường, Trương thấy lòng bùi ngùi, xót
xa... Qua hai lần chạm địch ngăn ngủi vừa rồi, cho Trương nhận xét địch
đang rút lui về hướng tây, Phú Cam hay Từ Đàm, chỉ để lại bộ phận nhỏ
đoạn hậu, nên Trương ra lệnh ủi nhanh, quá trưa thì đến Ngã Năm Quốc
tế, nơi đây có tiệm bánh Petit-chaud nóng hổi vừa thổi vừa ăn, rất được
giới Sinh viên và học sinh tận tình chiếu cố, những buổi chiều Kim
thường bắt Trương chở Honda ra đây mua về cho Ngoại, thế mà nay bị sập
một góc tường. Đối diện là Phòng Thông tin Văn hoá Hoa kỳ, đã bị bọn
Sinh viên thiên Cộng đốt phá mấy năm về trước vẫn chưa được sửa chữa,
thì nay bọn chúng lại mò về lập toà án nhân dân giết hại đồng bào, kể
cả bạn hoc cũ của chúng, những tên Sinh viên ăn cơm quốc gia theo đuôi
Cộng sản như : Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc
Xuân, Nguyễn khoa Điềm, Nguyễn Đính (tên nầy khi còn sinh viên có tiếng
làm thơ hay và lấy bút hiệu sặc mùi thiên tả : Trần vàng Sao)...
Bỗng
Lễ vỗ vào vai Trương và chỉ về phía cổng tư dinh của tướng Trưởng “Ông
coi kià“, một con chó vàng ốm nhom đang ngoạm vật gì như cánh tay
người, băng qua đường, Trương thấy lợm giọng và buồn nôn.
Hướng
bờ sông Hương súng lại nổ vang từng hồi, khoảng mười phút thì ngưng,
tiếng Thượng sĩ Phê rè rè trong máy : ”Bọn lõ (US Marines) vưà chiếm
lại toà tỉnh, bọn Vẹm tháo lui ngã sau, bị tổ thằng Phúc hạ sáu con,
thu sáu AK.47 và một bao nylon chứa đầy tiền“. “Ok. Tốt lắm cẩn thận“.
Trương cho di chuyển qua khỏi đài truyền hình, tiến sát hồ rau muống,
bỗng tia lửa xẹt sáng và một loạt AK vang lên, cùng tiếng la thất thanh
của Lô : “Chết em rồi ! Thiếu uý ơi !”. Quả M.79 làm bật gốc chuối, và
tổ khinh binh nhào lên thần tốc, xác tên Việt cộng đổ xuống bên bãi cứt
còn nóng, thì ra tên này đang phóng uế, bất ngờ thấy Lô bò tới, hốt
hoảng lia một tràng AK để chém vè, không ngờ xạ thủ M.79 nhanh hơn đã
giải phóng cho nó. Hạ sĩ Lô mặt mày tái xanh, nằm sấp, đưa tay rờ vào
đít quần ướt đẫm. Trương bước tới gần, mùi của rượu xông lên nồng nặc,
thì ra tên Vẹm trong lúc hoảng hốt đã ria một loạt AK trúng ngay
bi-đông của Lô làm cho rượu chảy ra tung toé, mà Lô tưởng là máu.
Trương vừa tức cười vưà làm bộ giận dữ :
- Lô ! tau đã ra lệnh, ai cho mày lấy rượu của dân ?
Lô nhăn nhó :
-
Em đâu có lấy của dân, hồi sáng bò qua khách sạn Thuận Hoá, em thấy
dưới rãnh nước có chai Whisky còn nguyên xi, bỏ thì tiếc qúa, em bèn đổ
nước ra cho rượu vào để dành.
- Đừng kể lể dài dòng, tau sẽ cấm trại mi một tháng không cho về Huế.
- Tội nghiệp em mà ông thầy, em mới quen cổ, vắng mặt lâu ngày nó quên em thì sao ?
- Mầy cũng sa lầy ở Huế à ?
Hải xía vô :
- Nó bắt chước ông thầy chớ ai vô.
Trương trừng mắt nhìn Hải :
- Ai hỏi mi !
La
rầy cho phải phép vậy thôi, trong thâm tâm Trương rất thương những
thằng em, nếu giả dụ tràng AK vưà rồi chệch vào tí xíu nữa thì liệu giờ
nầy Lô còn không để mà xài xể. Đời lính sống chết như trở bàn tay...
Chiêù
xuống rất nhanh, mới đó đã nhá nhem tối. Lệnh của Quang Trung (Đ/u
Trung) :” Tối nay làm ăn đêm, phải clear xong khu vực trường cán sự
Y-tế, Đồn quân cụ, ngày mai phối hợp cùng Quang Trung ủi sạch vùng Phú
cam, để bàn giao khu vực lại cho đơn vị bạn. Trương ra lệnh các tổ ăn
cơm chiều, và chuẩn bị cày trong đêm :
- Tất cả tay áo bên mặt xăn lên cao qúa cùi chỏ, tay áo bên trái buông dài, tận dụng dao găm và lựu đạn.
trời
tối đen, mưa lâm râm, lạnh, từng tổ âm thầm bò đi... Qua khỏi đường
Trưng trắc - con đường cây dài bóng mát của những cặp tình nhân -g iờ
đây bao trùm vẻ huyền bí và thê lương như đường dẫn đến cỏi chết. Bỗng
Lô bò lui nói nhỏ vào tai Trương :
- Căn nhà có hàng che tàu bao quanh trước mặt có phát ra tiếng động nhẹ, giống như ai va chạm thau chậu... Tr/u cho em bò vào …
- Hai đứa tổ mi bò theo, tau cho thằng M.79 yểm trơ...
-
Bốn bóng đen biến mất sau bờ dậu, lát sau tiếng lựu đạn nổ chát chúa.
Trương chạy uà vào, theo sau là Lễ, Hải, YBra ... Lô mặt mày đầy tro
bụi, cười cười :
- Xong rồi ! Ông thầy.
Trong gốc hành
lang hẹp chậu cây kiểng đổ vỡ tung toé, hai xác VC năm`thẳng cẳng, tên
thứ ba nằm núp sau tấm nệm cuối góc, nên chỉ bị thương nhẹ ở chân, được
kéo ra. Nhìn nét mặt thất thần của tên tù binh còn non choẹt, Trương
hất hàm hỏi :
- Chạy hết rồi, sao mầy không chạy theo mà còn ở lại đây lảnh sẹo ?!
- Dạ, mấy thủ trưởng nói Biệt kích rằn ri Ngụy vào, nên rút lui cả rồi, tổ em được lệnh gà gáy mới được rút.
- Mầy mấy tuổi ?
Nó run cầm cập :
- Dạ mươì sáu.
- Hừ !! mươì sáu mà cũng đòi sinh Bắc tử Nam à ?
- Dạ em đang chăn trâu thì có lệnh vào Nam tiếp thu, xin các ông thương đừng bắn em !
- Ở ngoài Bắc mầy đã có bồ chưa ??
Thằng bé tù binh ngơ ngác không hiểu, Hải vội chen vào :
- Ổng thầy hỏi mầy đã khai cu chưa ?
Cả đám phá lên cười, Lễ nói:
- Thằng này coi bộ chắc là còn trinh.
- Tết về mầy có nhớ nhà không ?
- Dạ em nhớ Bu và em gái em lắm
Trương thấy tội nghiệp thằng bé tù binh,
- Đứa nào có thuốc lá cho nó hút, cho nó ăn uống, sáng mai giao cho toán tiếp nhận tù binh, đừng làm nó sợ tội nghiệp.
Trời
mờ mờ sáng, mưa bụi lất phất, rất lạnh, tiếng máy nổ ì ầm vang vọng
lại, Trương ngạc nhiên, tự hỏi :” hà máy điện còn hoạt động ư ?“. Từng
tổ tam tam tiến về bờ sông An cựu, cầu Kho rèn mờ mờ trong mưa bay,
vắng lặng, một chiếc xe Honda cháy đen nằm lăn giữa đường bên kia dốc
cầu, nhiều cành cây ngã đổ trên đường Hàm nghị. Cánh cửa sắt nhà Kim
khép hờ, mọi vật hầu như say ngủ hay nằm chết khiếp trong sợ hãi, các
tổ tiếp tục ủi dọc bờ sông, hai tổ vào sân nhà máy điện. Trương vẫy Lễ
và chỉ vào trong sân nhà Kim, ba bóng người lách vào, Hải cũng vội vào
theo, lát sau Hải trở ra nói:
- Yên lặng hoàn toàn, con Săng gô cũng không thấy, có cần phá cửa không Tr/uý ?
Trương
lắc đầu, lách mình vào trong, ba người lính tổ Lô ngồi hờm súng ở ba
góc sân. Hải, Lễ vòng ra sau nhà bếp. Ybra chiả súng vào cửa chính.
Trương đến cánh cửa gương, đưa tay áo gạt lớp bụi mờ, nhìn vào trong
nhà, trên bàn thờ hai cây đèn trứng vịt toả ánh sáng leo lét, đồ đạc
trong nhà vẫn y nguyên, Trương đến cửa chính xoay nắm đấm, cửa khóa.
Hải từ phía sau nhà bếp chạy lại :
- Trong nhà bếp có đồ ăn còn mới, có người trong nhà.
Trương chia mỗi người trấn một cửa, rồi bảo Hải gọi lớn vừa lay lay ổ khóa :
- Mở cửa, mở cửa ! kiểm soát.
Trong nhà có tiếng dép lê trên sàn, đến bên cửa kính và tiếng chị bếp la lên :
- Chúa ơi ! Bà ơi ! Cậu Trương, cậu Trương.
Cửa
mở, Trương bước vào cùng lúc Me Kim và Kim chạy ra ôm chầm lấy Trương,
không sao diễn tả hết nỗi xúc động trong lần gặp gỡ nầy. Me Kim và Kim
hốc hác, phờ phạc, nước mắt chảy dài, cứ xoa nắn mặt và vuốt tóc Trương
mãi. Trương hỏi :
- Sao Me không đem cả nhà xuống dòng Chúa Cứu thế lánh nạn với người ta.
Me
Kim cho biết :” Papa Kim bảo ở nhà, Papa Kim vẫn an toàn bên nhà máy,
điều đó đã gây cho Trương nhiều thắc mắc : Tại sao một người tây Phương
như Papa Kim vẫn bình yên ở đây trong khi những vị người Đức như vợ
chồng bác sĩ Horst Gunther Krainick, Bác sì Raymund Discher và Bs
Alterkoster làm việc tại Bệnh viện trung ương Huế và giảng dạy Trường
Đại hoc y-khoa Huế thì bị Việt cộng bắt đi mất tích.
(Sau nầy
tìm thấy xác chôn trong khuôn viên chuà Tường vân). Bên trong chắc có
ẩn khúc gì đây, hôm trước Trương thoáng nghe Me Kim nói, hình như Papa
Kim không thích những người mang đồ lính... Trương toan bước vào phòng
trong thăm bà ngoại, bỗng từ hướng nhà thờ Phú cam nhiều loạt súng nổ.
Vàng chạy lại trao ống liên hợp cho Trương :
- Quang Trung gọi Trung uý !
Trương hấp tấp :
- Quang Trung, Quang Trung đây Thủy lôi nghe.
Trong máy không không phải tiếng Đại uý Trung mà tiếng la hốt hoảng của trung sĩ Hiến :
- Thủy lôi. Thủy lôi lên gấp Quang Trung đi rồi.
Trương hốt hoảng, mong tai mình nghe lầm, hét to :
- Sao ! Sao, lập lại mau, tại sao ? tại sao ? Trời ơi ! tao lên ngay đây !
Trương quay qua Me và Kim :
-
Con phải lên Phú cam gấp, con cho thằng Hải và một tổ ở lại đây với Me
và em, đừng lo, quanh đây đã có lính mình, xong chuyện anh quay lại,
đừng khóc nghe cô bé !
Trương vội vã chạy ra sân, Lễ, Ybra, Vàng
mang máy bám theo. Qua khỏi cầu Kho rèn, chạy dọc theo đường xe lửa lên
hướng nhà thờ, trong các bụi bờ lính của Đại uý Trung nằm bố trí chờ
lệnh, họ đâu biết người chỉ huy không còn nữa. Trước sân nhà thờ chất
đầy những đống tableau ciment, chắc dự trù xây dựng gì đâỵ, Trung sĩ
Hiến cùng người lính mang máy truyền tin quỳ sau dãy tableau, vẫy tay
về phiá Trương khi thấy chàng xuất hiện cuối hang đá Đức Mẹ.
Trương quỳ xuống bên Hiến :
- Răng ? Sao ! nói mau.
Hiến chỉ tay qua bên kia đường Đoàn Hữu Trưng :
- Ổng nằm kia kià Tr/ uý.
Mờ
mò trong làm mưa bụi, cuối chiếc sân rộng nhà Đại uý Trung, tấm drap
trắng phủ lên trên một hình hài nằm bất động. Trương gầm lên như con
thú bị thương, tay bấu chặt vai áo Hiến giựt giựt mạnh :
- Nói mau ! tại sao ! tại sao ? Nên nỗi nầy, mau..mau.
Hiến nói trong nước mắt :
-
Từ lăng Thành thái tiến về đây không gặp sự kháng cự nào của địch, qua
khỏi khuôn viên nhà thờ, Đại uý cho chiếm rãnh nước dọc theo đường Đoàn
Hữu Trưng, không một động tĩnh gì, bỗng nhiên ổng la lên “Chạy theo
tao“ và lao vào sân nhà Ổng...b ỗng một tràng AK nổ dòn, tôi nằm xuống
chỉ nghe Đại uý kêu lên : Maria, Jê... và ngã vật xuống, tôi bò lui
xuống rảnh nước, trong nhà Bà cụ chạy ra ôm khóc, nhưng hình như bị ai
bên trong nhà gọi bắt vào, nhưng rồi bà cụ lại chạy ra đắp vội thi hài
Đại uý lại. Trương nghiến răng, tức giận, mà không biết trút cơn giận
vào ai, nước mắt chảy dài trên má : Có thể như thế được sao ? một cấp
chỉ huy giàu kinh nghiệm trận mạc như Đại uý Trung sao lại mắc phải sai
lầm sơ đẳng như vậy được hở trời !! Phải chăng sự lo lắng và thương nhớ
đã làm Đ/u Trung quên đi những hiểm nguy, những bẫy sập chờ đón mình.
Trương hỏi như hét vào tai T/S Hiến :
- Bên cánh trái là đứa nào ? gọi cho tôi gặp Thượng sĩ Lai gấp.
- Hai. Hai đây Thủy lôi gọi.
- Hai nghe !
-
Anh cho con cái bỏ Balô tại chỗ, nghe tiếng súng dưới nầy nổ tức tốc
cho xung phong chiếm Lăng Cụ Khả (cụ Ngô đình Khả), và nhào vào chiếm
lầu Durra, khi pháo binh ngưng tác xạ, (Lầu Durra là bản doanh của lực
lượng thám sát tỉnh Thừa Thiên (Provincial reconnaissance unit) bị VC
tràn ngập nửa đêm 30 tết).
Trương thay tần số gọi Thượng sĩ Phê :
- Một ! Một, đây Thủy lôi.
- Một nghe.
-
Ép sát đường tàu, bỏ Balô tại chỗ, nghe trên nầy khai hoả, cho con cái
xung phong vào chiếm Toà Khâm mạng, không cho tên nào chạy thoát.
- Nhận rõ !
Mồ hôi rịn trên trán, dù trời rất lạnh, Trương bảo Vàng gọi Trung tâm phối hợp hoả lực, Vàng trao ống nghe cho Trương.
-
Thần chùy, Thần chuỳ đây Thủy lôi, cho hai tràng chạm nổ trên toạ độ XY
34….., phải ngay bây giờ, vâng, hai tràng. Có gì tôi xin sau. Over.
- Hiến, bảo các tổ bỏ balô lại chuẩn bị nhào vô vuốt mắt cho ông thầy.
Pháo
binh bắt đầu tác xạ, đường đạn bay xé gió qua đầu và nổ ầm ầm phiá lầu
Durra. Trương phóng người qua đống tableau, vừa bắn vưà chạy lên phía
trược vưà hô Xung phong, xung phong, vượt qua khỏi sân nhà Đ/u Trung,
không gặp sự kháng cự nào. Th/s Phê báo cáo : Đã chiếm xong toà Khâm
mạng, hạ tại chỗ ba tên từ hướng cánh quân của Trương chạy qua. Trương
nghĩ : có lẽ đây là cái chốt phục kích Đ/u Trung. Cho mở rộng vòng đai
an ninh, Trương quay trở lại sân trước, Trương cúi xuống lật tấm drap
trắng, khuôn mặt Đ/u Trung còn nguyên vẹn, tái xanh vì mất hết máu, vết
sẹo dài nổi rõ, mắt hơi hé mở, lồng ngực vỡ toang. Ba bông mai đen trên
ngực áo lổ chổ lỗ đạn. Trương đưa tay vuốt mắt Đ/u Trung, mắt cay xè :
“Xin
Đ/u ngủ giấc bình an, (Trương nghẹn ngào) Anh đã trở về và nằm xuống
trên vuông sân quen thuộc, vuông sân ngày xưa anh đã trải dài tuổi thơ,
vui đùa đánh bi đánh đáo với bạn bè, vuông sân anh anh từng thơ thẩn
đứng đợi Me về trong những buổi hoàng hôn, ngày anh đi xa về Mẹ và các
em ra đón anh trên vuông sân nầy, và hôm nay anh trở về và nằm lại cũng
mảnh sân xưa. Cọp chết ba năm còn quay đầu về núi, hùm thiêng khi thất
thế cũng xuôi tay. Xin anh yên nghỉ, từ nay anh không còn từng đêm thao
thức giữa rừng sâu bom rơi đạn lạc, không còn nỗi nhớ chất ngất trong
tim anh... Xin vĩnh biệt anh, người thầy, cấp chỉ huy kính mến.
Trương
đứng nghiêm đưa tay ngang mày chào, nước mắt chảy dài xuống khuôn mặt
gầy tóp đầy bụi bặm. Từ trong nhà Bác Y, chị Hiếu – em kế Đ/u Trung –
Nguyện - em gái út và chị Trung nhào ra ôm thi hài khóc thảm thiết.
Ngày trước Trương đã đôi lần theo Đ/u Trung về trong ngôi nhà nầy, có
lúc Đ/u Trung nói đùa “Trương ! hay mầy làm em rể tau đi cho gọn sổ
sách“. Trương chỉ cười trừ.
Trương ra lệnh cho Lễ mang theo một
tổ đi vào các nhà trong xóm tìm quan tài, tẩm liệm cho Đ/u Trung, theo
yêu cầu của bà cụ, Đ/u Trung được mai táng ngay tại góc sân nhà...
người dân Phú Cam, phần nhiều là thanh niên lẩn trốn trên các mái nhà,
máng xối, hay ngõ ngách nào đó, nay lần lượt chạy ra vui mừng ôm lấy
những người lính, thăm hỏi, cảm ơn rối rít và phụ tay lo mai táng Đ/u
Trung. Rất nhiều mẩu chuyện kinh hoàng, thoát chết trong gang tấc được
kể ra : Khuya ba mươi rạng mồng một Tết, VC tấn công vào họ đạo Phú Cam
qua hai hướng : Hướng thứ nhất qua lăng Thành thái, nhưng ngay tại ngã
ba An Lăng có đợn vị Thám sát Nùng (người Nùng) trấn đóng nên bị đánh
tan tác không xâm nhập vào Phú cam được, sáng để lại ba xác và hai tên
bị thương, bị bắt đưa về trụ sở xã Thủy Phước. Hướng thứ hai, từ khu
nghiã trang, chúng tấn công vào lầu Durra, nơi đây lực lượng thám sát
tỉnh trú đóng, chúng quá đông nên lực lượng thám sát phải rút xuống nhà
thờ. Sáng mồng một Tết, những thanh niên trong giáo xứ họp cùng những
người lính về phép tết tổ chức thành đội ngũ võ trang, anh dũng kháng
cự mảnh liệt, không cho VC vào sâu trong họ đạo nhất là khu nhà thờ,
gây cho chúng nhiều tổn thất, nhưng rồi đạn dược cạn dần, không có máy
truyền tin để liên lạc, không có nguồn tiêp tế, cuối cùng phải chôn
súng ống và tìm cách lẩn trốn, hoặc đánh du kích, những người bận bịu
vợ con hay không quen chiến đấu thì theo gia đình ẩn núp trong nhà thờ,
đến đêm 13 Tết VC vào được trong nhà thờ và luà đi tất cả, kể cả những
cụ già 60, 70. (Sau nầy tìm thấy xác, tay bị trói giựt ké bằng giây kẽm
gai xác lấp kín khe Đá mài – tây thành phố Huế -) Trên ba trăm người
dân vô tội Phú cam bị thảm sát. người ta nói cứ mươì gia đình thì có
bảy gia đình ở Phú cam góp xương trong nấm mộ tập thể tại khe Đá mài.
có gia đình mất hai ba người con, có gia đình bị giết cả cha lẫn con...
Có bà mẹ tên Trọng mất hai đứa con trai đang học Y khoa Huế,
khóc la như người lên cơn điên dại, cứ oán trách Trương : ”Sao hôm nay
các anh mới đến ! các anh đến sớm hơn vài hôm thì mô có nên nổi nầy !
trời ơi là trời ! Đất ơi là đất !“.
Phú cam phủ màu tang chế,
tiếng khóc than văng vẳng trong xóm đạo hoà lẫn tiếng kinh cầu. Đám
thanh niên đến xin Trương được tái vỏ trang và tình nguyện cùng lính
của Trương đi lục soát và giữ gìn an ninh trong xóm đạo. Trương chấp
thuận ngay và rất cảm kích trước những hăng say và can đảm của tuổi trẻ
Phú cam.
Đứng trên ban công lầu Durra, phóng tầm mắt bao quát
khu Thành nội, lá cờ của bọn sát nhân đã được kéo xuống và lá cờ Tổ
quốc đang hùng dũng tung bay, nhưng khói lửa vẫn bao trùm mờ mịt, những
phi tuần Phantom, Skyraider thi nhau trút bom xuống Thượng thành, cửa
Đông ba, những cột khói bốc cao, phòng không địch vẫn còn rất ác liệt,
bọn giặc đang bị vây hãm bốn phía. Binh thư Tôn tử có lơì khuyên : Đừng
dồn địch đến chân tường, nhưng ở đây mặt trân Thành nội Huế, VC không
có lối thoát, một là ra hàng, hai là bị tiêu diệt, thế thôi. Toàn thể
Quân đội VNCH đang siết chặt tay súng đồng lòng rửa hận cho đồng bào
Huế vô tội ...
Khu vực chùa Từ đàm, đã được Tiểu đoàn 21 Biệt
động quân lừng danh của thiếu tá Võ Vàng dọn sạch, sáng nay Trương
chuẩn bị ghé qua Từ đàm gặp người anh kết nghĩa, thì trước sân có tiếng
Hải gọi vào :
- Ông thầy đâu rồi, ra đón khách.
Nhìn ra,
Trương thấy Hải đang đi vào với chú lính thấp, nhỏ trong bộ đồ rằn ri
thẳng nếp, sạch sẽ, chiếc mũ rừng che kín khuôn mặt, bất ngờ chú lính
chạy lại ôm chầm lấy Trương, Trương sững sốt trừng mắt nhìn Hải. Hải
đứng gải đầu, lí nhí :
- Cổ năn nỉ quá, em cầm lòng không đậu.
Kim nắm tay Trương lay lay :
- Nhớ anh và lo quá, em năn nỉ mãi, anh Hải mới dẫn đi, đừng la ảnh.
- Thôi được, thăm một chút rồi về, mai anh xuống, ở đây có thể bị pháo kích, Ngoại và Me ra răng ?
-
Ngoại cứ ở miết trong phòng, đọc kinh tối ngày, còn Me đang đan áo len
cho anh, còn Papa gởi cho anh chai rượu Quinquina, uống cho bổ thận.
Trương phì cười :
- Anh làm chi mà cần bổ thận cơ chớ.
- Em mô biết Papa nói rứa mà.
- Thôi được, luôn tiện anh đưa em đến thăm Nguyện một lát rồi về.
Nấm
mộ Đ/u Trung được đắp gọn gàng, nhưng chỉ cao hơn mặt đất chút đỉnh,
cây Thánh giá gỗ cắm trên đầu mộ, hai bó hoa tươi dươí chân. Kim làm
dấu Thánh giá, lâm râm đọc kinh, Nguyện từ trong nhà chạy ra, hai người
bạn ôm chầm lấy nhau, đôi bờ vai rung động, nghẹn ngào... Trương lảng
ra xa, trong lòng bồi hồi xúc động, một lát sau Trương hối thúc Hải đưa
Kim về nhà.
- Thôi Kim về đi, sáng mai anh về …
... Nhưng
…cái sáng mai đó không bao giờ đến, vì nửa đêm hôm đó, Trương được lệnh
bàn giao vùng trách nhiệm cho đơn vị bạn, kéo quân xuống cầu An cựu,
đợi xe GMC chở xuống sân bay Phú bài, chờ máy bay bốc đi. Đi về đâu ?
Nào ai biết được sẽ đi về đâu, sẽ được thả xuống một điạ danh xa lạ nào
đó, khi quê hương còn đầy dẫy bóng quân thù, khi bom đạn còn xé nát quê
hương ...
Trời mờ mờ sáng, buổi sáng tháng giêng ở Cố Đô, mưa phùn lất phất bay, lạnh ...
Lính
tráng đứng ngồi rải rác gần chiếc cầu gẫy (Cầu An Cựu bị VC giựt sập
đêm 30 tết, đang được Sea-bea (công binh kiến tạo Mỹ) bắc cầu nổi).
Trương đứng bên hiệu thính viên, mở máy chờ lệnh, bỗng chiếc xe Honda
rọi đèn chạy trờ tới, Kim trong bộ đồ rằn ri như hôm qua, Trương giật
mình thảng thốt la lên :
- Trời Kim ! chưa sáng, em đi mô mà nguy hiểm rứa ?
- Em sợ trễ, không gặp anh.
Rồi
hai người im lặng, không ai nói với ai lơì nào nữa, mỗi người theo đuổi
những lo lắng, buồn phiền riêng tư, bỗng trong đám lính tráng nổi lên
giọng hát khan khàn vịt đực phá tan sự yên lặng : “Lên xe tiển anh đi,
răng bây chừ buồn rứa... ”
Trương không nhịn được cười, quay qua Kim :
- Em mang chi cho anh trong xách đó.
-
Đây là áo len Me đan, Me dặn anh nhớ mang vào trong áo lính cho ấm, còn
đây là khăn quàng em đan, ban đêm anh nhớ quấn cổ cho khỏi ho …
Kim lục trong túi áo lấy ra gói giấy nhỏ :
- Còn đây là tượng, Ngoại nói anh đeo chung với tấm thẻ bài, Chúa gìn giữ anh..
Trương cảm động rưng rưng :
- Ai cũng lo lắng cho anh, anh hạnh phúc quá, biết lấy chi đền đáp cho em đây !
- Không cần đền đáp mô, chỉ cần đừng có mèo là được.
- Làm răng mà anh có mèo được ? Không nghe người ta nói : Sợ như mèo chộ (thấy) cọp đó răng ?
- Mèo bây chừ ghê lắm anh ơi, thấy cọp là chuẩn bị chạy, nhưng mà chạy tới ôm cọp.
Trương cười to :
- Em bé cuả anh lém qúa !
Vừa lúc đó ánh đèn pha của đoàn GMC chạy tới, vòng quay đầu về hướng Phú Bài, tiếng Thượng sĩ Phê vang lên :
- Tất cả các tổ lần lượt thứ tự lên xe.
Có tiếng khịt mũi, tiếng rấm rức khóc nho nhỏ, Trương nắm lấy bàn tay gía lạnh cuả Kim :
-
Đừng làm mềm lòng anh trong phút chia tay, em phải làm quen với những
chia ly, những trắc trở trong đời lính cuả anh, em phải tập chịu đựng
những thua thiệt, những bất hạnh có thể xảy đến bất cứ lúc nào … em
phải tập làm cây sậy trước bão tố... em gái yêu của anh... thôi em về
đi... xong anh sẽ về ... (Xong... khi nào xong... và người lính hẹn
về... mấy ai được về.)
Đoàn xe chuyển bánh, Trương hôn phớt lên
mái tóc Kim rôì vội vàng nhảy lên ca-bin, xe lao nhanh trong mưa phùn
giá lạnh, bầu trời phía đông bắc vẫn rực lửa đạn bom. Khu Thành nội
trận chiến vẫn còn diễn ra quyết liệt, tàn khốc …
Quê hương vẫn ngút ngàn khói lửa ....
TêđêTê