Từ những năm đầu tiên của thập niên 1990, Việt Nam đã phát động chính
sách tăng gia sản xuất mía đường mong đạt được chỉ tiêu 1 triệu tấn
đường/năm cho cả nước. Ngay sau đó, các ngành đầu tư quốc doanh và tư
nhân đã bỏ vốn và thiếp lập 44 nhà máy đường với chi phí trên 2 tỷ Mỹ
kim. Sau hơn 10 năm hoạt động, tình trạng chung của kỹ nghệ nầy chẳng
những không được phát triển như ý muốn, mà trái lại đã mang laị nhiều
khốn đốn cho người trồng mía và nhân công nhà máy, cũng như trong hiện
tại nhiều nhà máy đã ngưng hoạt động hòan tòan. Tc KH&MT hôm nay
tiếp chuyện với TS MTT về vấn đề nầy.
Hỏi:
Thưa TS, công nghệ mía đường đã được nhà cầm quyền VN cổ súy và đầu tư
mạnh, vậy tại sao có cảnh nghịch lý là tình trạng của kỹ nghệ nầy đang
bị khủng hoảng?
- Đáp: Thưa Anh. Tương tự như những công nghệ
phát triển kinh tế khác của Việt Nam, mỗi khi có một chính sách quốc
gia vừa được nêu ra, các địa phương có dịp để khai triển kế hoạch phát
triển trong địa phận trách nhiệm của mình mà không có một chính sách
chung, đồng bộ cũng như không điều nghiên về môi trường và tác động đến
vùng sinh thái của nơi được thiết lập. Do đó, kết quả tất nhiên là phải
đi đến thất bại mà thôi.
Việt Nam đã phát triển chương trình mía
đường một cách vội vã, cùng một lúc thiết lập tòan bộ hệ thống nhà máy
từ Bắc chí Nam, tạo nên một khủng hoảng thừa ngay từ đầu. Do đó hàng
loạt nhà máy phải đóng cửa và không còn khả năng để trả nợ và kỹ nghệ
nầy hiện nay đang bị phá sản hoàn tòan.
Hỏi: Xin ông nói rõ hơn đây là một cơn khủng hoảng thừa như thế nào?
-
Đáp: Từ những nhà máy đường chính đã có từ trước 1975 như nhà máy đường
Hiệp Hòa, Khánh Hội, Bà Lụa, Quảng Ngãi v.v… ngay sau khi chính sách
được phát động, hơn 40 nhà máy mới được thiết lập vội vã từ Tuyên
Quang, Thanh Hóa, Quãng Bình xuống tận Cam Ranh, Sóc Trăng. Thậm chí có
những nhà máy được địa phương xây trước khi có giấy phép như nhà máy
Sơn Dương, và những nhà máy được xây trước khi có được quy hoạch trồng
mía, nghĩa là có nhà máy mà không có nguyên liệu mía để ép. Có thể nói,
tòan bộ các nhà máy đường mới đều được khởi công trước khi được các cấp
có thẩm quyền ra quyết định đầu tư như nhà máy Ninh Hòa. Đó là tình
trạng khủng hoảng thừa cho cả nước.
Hỏi: Trước hết, chỉ trong
một thời gian ngắn mà đã thiết lập trên 40 nhà máy. Thưa ông thiết bị
để xây dựng đến từ đâu, từ trong nước hay phải nhập cảng?
- Đáp:
Thưa anh. Hầu hết những thiết bị đều được nhập cảng từ Trung Quốc, Úc
Châu, Pháp…và đều không được đấu thầu, không có kiểm soát và không bảo
đảm công suất họat động, cũng như hòan tòan thiếu sự đồng bộ trong việc
quy hoạch vùng nguyên liệu mía và xây dựng nhà máy. Trong số 44 nhà máy
chỉ có 6 nhà máy có nguồn vốn đầu tư từ nước ngòai cho nên có thiết bị
mới với công nghệ tiên tiến và công suất cao trên 6 ngàn tấn mía/ngày.
Còn lại những nhà máy xử dụng máy móc sản xuất từ TQ có công suất nhỏ
dưới 1 ngàn tấn/ngày và phẩm chất của đường rất xấu. Có rất nhiều hợp
đồng cung cấp thiết bị không được duyệt thiết kế cho nên phải thay đổi,
điều chỉnh.. . do đó chi phí xây dựng bị lãng phí rất nhiều thời gian
và nguồn vốn. Điển hình là công ty đường Tuyên Quang, Sóc Trăng, Bình
Dương đã mua thiết bị của TQ mà không có tài liệu thẩm định, do đó vẫn
chưa hoạt động được và máy móc còn đang nằm la liệt như vật liệu phế
thải. Ngoài những vấn nạn trên, còn một vấn nạn lớn nhất, đó là tệ
trạng tham nhũng. Đây cũng là một trong những nguyên nhân chính đưa kỹ
nghệ đường VN đến bờ vực thẩm.
Hỏi: Còn về quy họach trồng nguyên liệu mía thì sao, thưa TS?
-
Đáp: Theo ước tính hiện tại (11/2005), chỉ còn 37 nhà máy đường hoạt
động trên tòan quốc và số liệu do Hiệp hội Mía Đường cho thấy tổng công
suất chế biến là 75 ngàn tấn/ngày nghĩa là trên 27 triệu tấn mía/năm.
Năm 1996, diện tích trồng mía ở VN chỉ khoảng 200 ngàn mẫu với sản
lượng 600 ngàn tấn/năm. Đến mùa năm 2003 - 2004, nông dân trồng mía
tăng lên 300 ngàn mẫu và cho sản lượng 1,1 triệu tấn/năm. Nhưng qua đến
mùa 2004 - 2005, chỉ còn khoảng 920 ngàn tấn/năm mà thôi. Vì vậy, nếu
so sánh với yêu cầu nguyên liệu mía cho các nhà máy là 27 triệu
tấn/năm, nguyên liệu mía có được chỉ cung ứng 3,4% cho nhu cầu của các
nhà máy mà thội. Thí dụ như nhà máy đường Quảng Bình có công suất ép
mía là 7,1% cho mùa 1998 - 1999; qua mùa 1999 - 2000 tăng lên được
18,6%; 2000 - 2001, còn 12,4%; và 2001 - 2002 chỉ còn lai 6%. Hiện tại
nhà máy đang bị đóng cửa vô hạn định.
Hỏi: Ngoài việc xây dựng
gấp rút, thiếu quy họach, ngòai việc nguyên liệu mía không đủ cung ứng
cho công suất ép mía của các nhà máy, còn yếu tố nào khác để gây ra
khủng hoảng cho công nghệ nầy trong hiện tại không thưa ông?
-
Đáp: Ngoài hai yếu tố vừa kể trên cần phải nói đến phẩm chất và giá trị
thị trường của đường Việt Nam, và nhất là cung cách quản lý trong đó
tham nhũng là một nguyên nhân hàng đầu cho cuộc khủng hỏang ngày hôm
nay.
Hỏi: Xin ông nói rõ hơn về phẩm chất và giá trị thị trường của đường Việt Nam?
-
Đáp: Vì các nhà máy đường đa phần là do thiết bị của TQ, với công nghệ
lạc hậu, cho nên ngay từ khi kỹ nghệ đường bộc phát, phẩm chất đường
Việt Nam rất xấu so với đường nhập cảng từ Thaí Lan hay TQ. Chỉ có 6
nhà máy có 100% vốn đầu tư ngoại quốc mới có thể cạnh tranh được đường
ngoại nhập mà thôi vì có máy móc tiên tiến.Về giá thành, đường nội địa
có phẩm chất xấu, nhưng giá bán vẫn cao hơn đường ngoại nhập từ 20 đến
40 Mỹ kim/tấn. Do đó, có tình trạng các kho dự trử đường của nhà máy bị
ối đọng vì đường không thể bán ra thị trường được. Công nhân viên chức,
trong hòan cảnh nầy chỉ lảnh lương hàng tháng bằng số lượng đường tương
đương với mức lương. Điều nầy cũng giống như tình trạng của các công ty
quốc doanh khai thác than đá ở miền Bắc.
Hỏi: Còn công cuộc quản lý thì sao?
-
Đáp: Thưa anh. Chính sách quốc gia đã ra đời một cách vội vã và thiếu
điều nghiên, cộng thêm cung cách quản lý không chuyên nghiệp và tệ
trạng tham nhũng đã khiến cho "Chương trình 1 triệu tấn đường" chỉ còn
là một bánh vẻ sau hơn 10 năm thực hiện. Vì thiếu chuyên môn cho nên
thiết bị nhập cảng đã bị ăn xén từ kỹ thuật đến xây dựng. Đại để là mua
thiết bị cũ, không có năng suất cao mà vẫn được nhập với tiêu chuẩn của
thiết bị mới. Còn việc lấp đặt nhà máy đường rất tùy tiện qua móc
ngoặc. Ngay cả ở những địa phương hòan tòan không có khả năng trồng
nguyên liệu mía cũng có nhà máy đường. Kết quả là, có những nhà máy sau
khi khánh thành đã âm thầm đóng cửa. Hiện tại, báo chí trong nước cho
biết có 34 nhà máy còn nợ của nhà nước trên 7 ngàn tỷ đồng tương đương
với 500 triệu Mỹ kim.
Hỏi: Vậy theo ông, công nghệ mía đường VN phải làm gì để tháo gỡ bế tắc và khủng hoảng của ngành nầy hay không?
- Đáp: Trước hết, chúng tôi nghĩ:
-
Việt Nam cần phải có quy hoạch trồng mía rất rõ ràng, rồi mới có thể
sắp xếp lại hệ thống nhà máy ép mía trên tòan quốc. Đừng để cảnh con
trâu trước cái cày như hàng chục năm qua tái diễn. Nghĩa là phải dự trù
lượng mía có đủ khả năng cung cấp trọn mùa tại một địa phương rồi mới
lấp đặt nhà máy có công suất tương đương với mức thu họach mía.
-
Dứt khoát loại trừ những nhà máy có thiết bị cũ với quy trình sản xuất
lạc hậu mà phải thay thế bằng những nhà máy có công nghệ tiên tiến;
-
Vì đây là một công nghệ quốc gia, cho nên phải có một chính sách quản
lý nghiêm ngặt, kiểm soát gắt gao từ giá mía thu mua cho đến giá đường
thành phẩm, ngõ hầu tạo điều kiện cho nông dân trồng mía có lợi tức ổn
định, không bị ép giá mà đổi nghề. Điều sau nầy sẽ tạo ra khủng hoảng
nguyên liệu mía cho mùa mía tiếp theo;
- Và sau cùng, kiểm soát
các vùng biên giới để chận đứng hay tối thiểu hạn chế được lượng đường
nhập lậu từ phương Bắc và Cambodia, ngõ hầu bảo vệ được mức tiêu thụ
của đường nội địa.
Thiết nghĩ, làm được 4 điều trên, VN có thể
điều chỉnh đượng tình trạng khủng hỏang đường hiện tại và việc phân
phối đường trong tòan quốc sẽ ổn định vì đã có quy hoạch rõ ràng. Như
thế có thể tránh được những xáo trộn xã hội do khủng hoảng thiếu hoặc
thừa cho công nghệ mía đường gây ra.
Kính chào Quý thính giả của Đài ACTD