Khuynh hướng đầu tư mới vào Đông Á

Theo Thông Luan - Nguyễn Minh - 10-01-2006

Trong mấy năm qua tỷ lệ tăng trưởng kinh tế Trung Quốc tiếp tục tăng cao ở mức 9%, nhưng qua năm 2006 tỷ lệ này được dự đoán sẽ giảm xuống còn 8%. Lý do là Bắc Kinh phải điều chỉnh lại những kết toán về chi tiêu năng lượng và nguyên vật liệu đang rất thiếu cho nhu cầu ngày càng tăng lên.

Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế này vẫn giữ được mức độ cao là nhờ khả năng tiết kiệm cao của dân chúng Trung Quốc (44,5% trên tổng số tiền kiếm được mỗi năm) và tỷ lệ đầu tư nước ngoài vẫn ở mức 45,3%, cao hơn năm trước, trong khi các ngành sản xuất để xuất khẩu đều thừa tiền. Hai yếu tố này đã tạo một khối lượng tiền thặng dư khổng lồ trong nước, do đó ngày 21-7-2005, khi trị giá đồng nhân dân tệ (CNY-China Yuan Renminbi) vừa tăng lên 2.1% , giới mua bán ngoại tệ quốc tế liền đổ xô vào thị trường Trung Quốc mua đồng CNY tích trữ, chờ cơ hội thuận tiện bán lại.

Thêm vào đó lãi suất ngân hàng tại các nước tiền tiến như Tây Âu và Nhật Bản từ 5 năm qua tiếp tục xuống thấp, ngược lại lãi suất ngân hàng tại các nước Đông Á đã tăng từ hai đến ba lần trong 2 năm qua làm cho làn sóng đầu tư vào các nước Đông Á dâng cao như sóng thần. Tại Trung Quốc, do lượng ngoại tệ thu về quá nhiều bởi chính sách xuất khẩu tối đa, hậu quả đầu tiên có thể thấy được là giá bất động sản đã tăng lên gấp hai, gấp ba lần so với các thị trường bất động sản khác trên thế giới cùng thời kỳ.

Nhưng thực tế đã không sáng lạn như vậy. Qua năm 2006 Trung Quốc phải tìm thêm các nguồn đầu tư khác để thúc đẩy phát triển vì sinh hoạt kinh tế trong nước chủ yếu dành cho gia công và xuất khẩu. Hiện nay vốn đầu tư nước ngoài chỉ tập trung vào các lãnh vực gia công xuất khẩu, khi nguồn gia công và khả năng xuất khẩu bị sút giảm nền kinh tế của Trung Quốc có thể sụp đổ bất cứ lúc nào, vì khả năng sản xuất thật sự cho nhu cầu tiêu dùng trong nước cần một đầu tư lâu bền hiện còn rất yếu. Các nước Đông Á khác cũng không khá gì hơn, tất cả đều sống nhờ vào gia công và xuất khẩu. Mọi người đang chờ đợi một làn sóng đầu tư khổng lồ mới đổ vào nước mình để ra khỏi trì trệ. Cơ hội này đang đến vì số tiền bội thu do giá dầu thô tăng cao trong năm 2005 buộc các quốc gia sản xuất dầu lửa tìm các thị trường đầu tư mới, ngoài Tây Âu và Hoa Kỳ.

Thị trường tiền tệ Trung Quốc là đối tượng của giới đầu tư quốc tế

Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao tại các nước Đông Á phần lớn dựa vào lượng tiền thặng dư trong cán cân mậu dịch và lượng tiền để dành cao trong vùng, nhưng do trị giá đồng tiền của vùng này còn yếu nên khả năng tái đầu tư trong nước không mang lại hiệu quả cao. Thêm vào đó, ngoài lượng tiền để dành, số tiền đầu tư khổng lồ từ các nước tiền tiến đổ vào các nước Đông Á nhưng hệ thống tổ chức kinh tế của các nước này chưa hoàn hảo để kịp hấp thụ, giới doanh nhân có khuynh hướng dùng các số tiền đó mua quốc trái của Mỹ để kiếm lời an toàn. Thật ra khi mua quốc trái của Mỹ, lượng tiền nhàn rỗi này chỉ để giữ vững nền kinh tế Mỹ vốn đã nợ nhiều không bị sụp đổ. Đó là chưa kể những công ty đa quốc gia của Mỹ mượn những số tiền thặng dư đó từ các ngân hàng để lấn át các thị trường tiền tệ tại nước Đông Á.

Trước sự vươn lên của vùng Đông Á, đối tượng của giới mua bán tiền tệ quốc tế trong năm 2006 là Trung Quốc. Lý do của sự quan tâm này là Trung Quốc đã là thành viên của Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO) từ tháng 12-2001, như vậy là vào tháng 12-2006 các cơ quan tiền tệ quốc tế có quyền hoạt động tự do tại Trung Quốc. Khi mở cửa thị trường quốc nội, kể cả thị trường tiền tệ, cho giới đầu tư quốc tế vào, điểm lợi là giúp đều hòa sự phân phối tài nguyên quốc gia một cách có hiệu quả hơn, thay vì chỉ tập trung vào các vùng bờ biển như hiện nay. Tuy nhiên điều này cũng nâng cao nguy cơ gây biến động lớn cho nền kinh tế Trung Quốc, nhất là thị trường tiền tệ, vì có thể sẽ bị giới đầu cơ quốc tế khuynh loát trong những lãnh vực kinh tế có lời nhất. Điều này đòi hỏi Trung Quốc phải chuẩn bị những cơ năng cứu trợ tiền tệ khẩn cấp khi có đột biến, nghĩa là phải có nguồn dự trữ ngoại tệ dồi dào.

Nhưng vấn đề hiện nay của Trung Quốc là hệ thống tiền tệ rất bất ổn : số tiền cho vay không thu hồi được rất lớn. Nguyên do là các ngân hàng nhà nước chỉ cho các xí nghiệp quốc doanh vay, với những số tiền khổng lồ (từ vài trăm ngàn USD trở lên), khi các xí nghiệp này làm ăn thua lỗ thì cán cân thu chi của các ngân hàng bị thâm thủng và càng bị thâm thủng thì chính quyền càng lấy ngân sách nhà nước bù đắp vào. Tình trạng này rất khó giải quyết vì từ trước đến nay chính những công ty quốc doanh này nuôi sống đảng cộng sản, nếu giải tư hay chuyển các công ty quốc doanh này sang công ty cổ phần thì đảng cộng sản sẽ mất hết phương tiện. Những người lãnh đạo các công ty quốc doanh chỉ quan tâm đến sự tồn tại của đảng cộng sản và gia đình của họ mà thôi, ít ai chú trọng đến hiệu quả kinh tế. Khi đảng cộng sản hay gia đình những người lãnh đạo cần chi tiêu một cái gì thì họ cứ đẻ ra các phí tổn để lấy tiền của công ty.

Vì hệ thống quản lý tiền tệ quá yếu, nếu mở cửa vội vã Trung Quốc sẽ khó đối phó với khủng hoảng tiền tệ một khi xảy ra. Nhưng Trung Quốc không thể không mở cửa thị trường tiền tệ, vì đó là một trong những điều kiện để được gia nhập WTO. Do đó cùng với việc mở cửa thị trường tiền tệ, giới đầu cơ từ nước ngoài sẽ vào Trung Quốc mua bán tiền tệ. Đây có thể là ngòi nổ để thị trường tiền tệ Trung Quốc bị hỗn loạn nếu không kiểm soát được.

Thêm vào đó, tại quốc nội, lượng ngoại tệ dự trữ của dân chúng hiện nay khoảng 150 tỷ USD, khi thấy đồng CNY cao giá người ta sẽ đua nhau lấy đồng đô la dự trữ ra mua đồng nguyên. Điều này có thể gây ra lạm phát nếu lượng CNY đang lưu không đáp ứng kịp thời.

Lượng tiền dư thừa không lối thoát (vì thị trường chứng khoán Trung Quốc quá nhỏ và không được tin tưởng) được các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu cơ vào bất động sản, nhất là tại các vùng bờ biển. Tình trạng này làm giá bất động sản tại Trung Quốc tăng cao một cách bất thường. Hầu như các tòa nhà cao ốc chưa xây xong là đã có người đặt mua trước, bất kể được xây dựng đúng qui trình hay không. Tình trạng này rất đáng ngại vì ngày nào quả bong bóng xà phòng này xẹp, tất cả đều suy sụp theo như đã xảy ra tại Thái Lan năm 1997 và Đại Hàn năm 1998. Một khi nền kinh tế của Trung Quốc bị suy sụp sẽ kéo theo sự suy sụp của những quốc gia khác, nhất là của những quốc gia có số đầu tư tại Trung Quốc cao như Đài Loan, Hoa Kỳ và châu Âu ; nhưng sẽ bị thiệt thòi nhiều nhất là thành phần lao động và nông dân Trung Quốc và các quốc gia cung cấp nguyên vật liệu (quặng mỏ, dầu thô) cho Trung Quốc.

Giới sản xuất dầu thô tại Trung Đông đầu tư vào Đông Á

Để tránh lệ thuộc vào sự vận hành của nền kinh tế Trung Quốc, giới đầu tư quốc tế đang chuyển tầm nhìn sang các quốc gia Đông Á. Đây là những thị trường ổn định, có khả năng mang lại lợi nhuận cao nếu đầu tư đúng lúc. Tại đây giới đầu tư phương Tây đã có mặt từ lâu rồi nhưng gần đây, do giá dầu thô tăng gấp ba lần trong vòng vài tháng, chủ nhân những số tiền thặng dư do bán dầu thô từ các nước Trung Đông tập trung chú ý vào Đông Á.

Dẫn đầu giới tư bản mới này là ngân hàng Al Rijadh của Saudi Arabia. Tuy được thành lập cách đây vài năm, ngân hàng này trở thành cơ quan đầu tư chuyên nghiệp trên thế giới. Khi vốn của ngân hàng này vừa được đưa lên thị trường chứng khoán tháng 3-2005, đã có hơn một nửa dân số Saudi Arabia (khoảng 8,3 triệu người) đặt mua cổ phần, số tiền thu được hơn 2 tỷ USD. Trong tháng 7-2005, ngân hàng này được các nhà sản xuất dầu thô Ả Rập tại Dubai góp thêm 1,6 tỷ USD.

Chính quyền và giới doanh nhân Ả Rập khác trong vùng Vịnh Ả Rập cũng ở trong tình trạng tương tự, nghĩa là chưa biết dùng lượng tiền bội thu do giá dầu thô tăng vào việc gì. Từ những tháng cuối năm 2005, họ được hướng dẫn đầu tư vào các quốc gia Đông Á. Một thuận lợi lớn là tại đây có hai quốc gia có dân số đông nhất trong thế giới Hồi giáo là Indonesia và Mã Lai. Nhưng khác với lầm tưởng của nhiều người, giới đầu tư Ả Rập không quan tâm đến tôn giáo hay chủng tộc, nơi nào có lợi là họ tìm vào.

Đối với giới đầu tư Ả Rập, Đông Á là thị trường đầu tư lớn nhất thế giới với hơn 2 tỷ người, trong đó dân số Trung Quốc là một thị trường đầu tư lý tưởng với một dân số gần 1,5 tỷ người. Trung Quốc không có nhiều mỏ dầu và quặng mỏ cần thiết để giữ vững tốc độ phát triển kinh tế cao. Họ còn biết Trung Quốc có tham vọng muốn lãnh đạo các quốc gia Đông Á nên đầu tư vào Trung Quốc là một an toàn. Thêm vào đó mức độ tiêu thụ năng lượng đứng hàng thứ nhì sau Hoa Kỳ, sự lệ thuộc vào nguồn dầu thô là một bảo đảm cho nguồn vốn đầu tư.

Cũng nên biết từ năm 2004 trở lại đây, mỗi năm Trung Quốc nhập trên 120 triệu tấn dầu thô cộng với lượng dầu sản xuất trong nước. Trung Quốc cũng là nước có nhiều xe hơi nhất thế giới nhưng vì kém kỹ thuật lượng xe hơi đang lưu hành tại Trung Quốc tiêu dùng rất nhiều nhiên liệu, do đó càng lệ thuộc vào nguồn dầu thô nhập khẩu. Chính vì thế các nước sản xuất dầu thô, nhất là Saudi Arabia, thấy Trung Quốc đúng là một thị trường đầu tư lý tưởng vì từ sản phẩm dầu thô, Trung Quốc rất cần vốn để chế biến các phó phẩm của xăng dầu như tơ sợi hóa học, bao bì thực phẩm, sản phẩm PVC, nhất là nhựa đường để xây dựng xa lộ và đường giao thông trong nước ngày càng nhiều.

Đối với các thị trường Đông Á khác, sự quan tâm của giới đầu tư Ả Rập cũng rất nhạy bén, đặc biệt là trong ngành chế biến nguyên liệu dầu thô. Từ 1991, công ty dầu mỏ quốc doanh của Saudi Arabia, "Saudi Aracom" đã làm chủ 35% cổ phần tổ hợp tinh chế dầu Sonyon Group (Tam Long) của Đại Hàn. Đến 1999, sau cuộc khủng hoảng tài chánh châu Á, Saudi Aracom mua đứt tổ hợp Sonyon để biến thành công ty "S-Oil" chuyên phân phối và bán lẻ xăng dầu qua một hệ thống cây xăng tại Đại Hàn, Trung Quốc và Việt Nam. Năm 1994, công ty Saudi Aracom mua 40% cổ phần công ty Petrom Corporation của Philippines, góp 15% vốn vào công ty lọc và bán dầu lớn của Nhật là Showa Shell Oil... Ngoài bộ môn năng lượng, công ty Al Zamir của Saudi Arabia đã đầu tư vào ngành sản xuất vật liệu xây dựng tại Việt Nam để xuất khẩu sang các quốc gia Đông Nam Á khác. Tại một vài nơi giới đầu tư Ả Rập còn gián tiếp đầu tư qua hình thức góp vốn thành lập những công ty hợp doanh xuất khẩu.

Sau cuộc khủng hoảng kinh tế tài chánh tại châu Á năm 1997, giới đầu tư Ả Rập có hơi co rụt lại nhưng qua năm 2000 họ tích cực đầu tư trở lại tại Đông Á vì tốc độ tăng trưởng GDP bình quân tại đây khoảng 7% trong 5 năm qua. Hai quốc gia có lượng tiền dầu thô đầu tư vào nhiều nhất hiện nay là Trung Quốc và Nhật Bản.

Từ 1990 Trung Quốc thành lập hai thị trường chứng khoán, một ở Thượng Hải và một ở Thẩm Quyến, từ 1992 các nhà đầu tư nước ngoài có thể mua cổ phần của các công ty Trung Quốc. Thêm vào đó, Hong Kong được giao trả lại cho Trung Quốc năm 1999, thị trường chứng khoán của cựu nhượng địa này đã làm khởi sắc sinh hoạt mua bán chứng khoán tại Trung Quốc. Giới đầu tư Ả Rập kỳ vọng rất nhiều vào những đầu tư của họ vào Trung Quốc, họ tin rằng những số tiền đó sẽ mang lại nhiều lợi tức cho họ vào các dịp Olympic 2008 Bắc Kinh và Expo 2010 Thượng Hải.

Khi đầu tư vào Đông Á, chính phủ và doanh nhân các nước sản xuất dầu trong vùng Vịnh đang ra khỏi sự lệ thuộc vào các quốc gia Âu Mỹ từ những đồng đô la-dầu hỏa mang lại. Ưu tư của giới đầu tư Ả Rập hiện nay là tìm được những ngân hàng Đông Á khả tín để chuyển những món tiền lớn do xuất khẩu dầu thô mang lại, với hy vọng được tiền lời cao và không bị kiểm soát.

Một điều lạ là giới đầu tư dầu lửa Ả Rập không tích cực đổ tiền vào những quốc gia Ả Rập Hồi giáo khác mà chỉ đổ vào những quốc gia nào có thể giúp họ giàu thêm.

Nguyễn Minh
(Tokyo)


In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè:

     http://tudovis.com/kktd/binh_luan_2/bl_khuyen_huong_dau_tu_moi_vao_d.html

Người gửi:

Địa chỉ email: *


Người nhận:

Có thể gửi cho nhiều địa chỉ, nhớ bỏ dấu phẩy trước khi bắt đầu địa chỉ mới.
Địa chỉ email: *
Lời nhắn:
Quí vị có thể copy hết cái bài ở trên và bỏ vào trong hộp Lời nhắn
 
* Thông tin bắt buộc        
Note: Chi tiết bạn điền vào trang này sẽ không được dùng để gửi thư không mời, hoặc bán cho nơi khác.