Trong mấy năm qua tỷ lệ tăng trưởng kinh
tế Trung Quốc tiếp tục tăng cao ở mức 9%, nhưng qua năm 2006 tỷ lệ này
được dự đoán sẽ giảm xuống còn 8%. Lý do là Bắc Kinh phải điều chỉnh
lại những kết toán về chi tiêu năng lượng và nguyên vật liệu đang rất
thiếu cho nhu cầu ngày càng tăng lên.
Tỷ
lệ tăng trưởng kinh tế này vẫn giữ được mức độ cao là nhờ khả năng tiết
kiệm cao của dân chúng Trung Quốc (44,5% trên tổng số tiền kiếm được
mỗi năm) và tỷ lệ đầu tư nước ngoài vẫn ở mức 45,3%, cao hơn năm trước,
trong khi các ngành sản xuất để xuất khẩu đều thừa tiền. Hai yếu tố này
đã tạo một khối lượng tiền thặng dư khổng lồ trong nước, do đó ngày
21-7-2005, khi trị giá đồng nhân dân tệ (CNY-China Yuan Renminbi) vừa
tăng lên 2.1% , giới mua bán ngoại tệ quốc tế liền đổ xô vào thị trường
Trung Quốc mua đồng CNY tích trữ, chờ cơ hội thuận tiện bán lại.
Thêm vào đó lãi suất ngân hàng tại các nước tiền tiến như Tây Âu
và Nhật Bản từ 5 năm qua tiếp tục xuống thấp, ngược lại lãi suất ngân
hàng tại các nước Đông Á đã tăng từ hai đến ba lần trong 2 năm qua làm
cho làn sóng đầu tư vào các nước Đông Á dâng cao như sóng thần. Tại
Trung Quốc, do lượng ngoại tệ thu về quá nhiều bởi chính sách xuất khẩu
tối đa, hậu quả đầu tiên có thể thấy được là giá bất động sản đã tăng
lên gấp hai, gấp ba lần so với các thị trường bất động sản khác trên
thế giới cùng thời kỳ.
Nhưng thực tế đã không sáng lạn như vậy. Qua năm 2006 Trung Quốc
phải tìm thêm các nguồn đầu tư khác để thúc đẩy phát triển vì sinh hoạt
kinh tế trong nước chủ yếu dành cho gia công và xuất khẩu. Hiện nay vốn
đầu tư nước ngoài chỉ tập trung vào các lãnh vực gia công xuất khẩu,
khi nguồn gia công và khả năng xuất khẩu bị sút giảm nền kinh tế của
Trung Quốc có thể sụp đổ bất cứ lúc nào, vì khả năng sản xuất thật sự
cho nhu cầu tiêu dùng trong nước cần một đầu tư lâu bền hiện còn rất
yếu. Các nước Đông Á khác cũng không khá gì hơn, tất cả đều sống nhờ
vào gia công và xuất khẩu. Mọi người đang chờ đợi một làn sóng đầu tư
khổng lồ mới đổ vào nước mình để ra khỏi trì trệ. Cơ hội này đang đến
vì số tiền bội thu do giá dầu thô tăng cao trong năm 2005 buộc các quốc
gia sản xuất dầu lửa tìm các thị trường đầu tư mới, ngoài Tây Âu và Hoa
Kỳ.
Thị trường tiền tệ Trung Quốc là đối tượng của giới đầu tư quốc tế
Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao tại các nước Đông Á phần lớn dựa vào
lượng tiền thặng dư trong cán cân mậu dịch và lượng tiền để dành cao
trong vùng, nhưng do trị giá đồng tiền của vùng này còn yếu nên khả
năng tái đầu tư trong nước không mang lại hiệu quả cao. Thêm vào đó,
ngoài lượng tiền để dành, số tiền đầu tư khổng lồ từ các nước tiền tiến
đổ vào các nước Đông Á nhưng hệ thống tổ chức kinh tế của các nước này
chưa hoàn hảo để kịp hấp thụ, giới doanh nhân có khuynh hướng dùng các
số tiền đó mua quốc trái của Mỹ để kiếm lời an toàn. Thật ra khi mua
quốc trái của Mỹ, lượng tiền nhàn rỗi này chỉ để giữ vững nền kinh tế
Mỹ vốn đã nợ nhiều không bị sụp đổ. Đó là chưa kể những công ty đa quốc
gia của Mỹ mượn những số tiền thặng dư đó từ các ngân hàng để lấn át
các thị trường tiền tệ tại nước Đông Á.
Trước sự vươn lên của vùng Đông Á, đối tượng của giới mua bán tiền
tệ quốc tế trong năm 2006 là Trung Quốc. Lý do của sự quan tâm này là
Trung Quốc đã là thành viên của Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO) từ
tháng 12-2001, như vậy là vào tháng 12-2006 các cơ quan tiền tệ quốc tế
có quyền hoạt động tự do tại Trung Quốc. Khi mở cửa thị trường quốc
nội, kể cả thị trường tiền tệ, cho giới đầu tư quốc tế vào, điểm lợi là
giúp đều hòa sự phân phối tài nguyên quốc gia một cách có hiệu quả hơn,
thay vì chỉ tập trung vào các vùng bờ biển như hiện nay. Tuy nhiên điều
này cũng nâng cao nguy cơ gây biến động lớn cho nền kinh tế Trung Quốc,
nhất là thị trường tiền tệ, vì có thể sẽ bị giới đầu cơ quốc tế khuynh
loát trong những lãnh vực kinh tế có lời nhất. Điều này đòi hỏi Trung
Quốc phải chuẩn bị những cơ năng cứu trợ tiền tệ khẩn cấp khi có đột
biến, nghĩa là phải có nguồn dự trữ ngoại tệ dồi dào.
Nhưng vấn đề hiện nay của Trung Quốc là hệ thống tiền tệ rất bất
ổn : số tiền cho vay không thu hồi được rất lớn. Nguyên do là các ngân
hàng nhà nước chỉ cho các xí nghiệp quốc doanh vay, với những số tiền
khổng lồ (từ vài trăm ngàn USD trở lên), khi các xí nghiệp này làm ăn
thua lỗ thì cán cân thu chi của các ngân hàng bị thâm thủng và càng bị
thâm thủng thì chính quyền càng lấy ngân sách nhà nước bù đắp vào. Tình
trạng này rất khó giải quyết vì từ trước đến nay chính những công ty
quốc doanh này nuôi sống đảng cộng sản, nếu giải tư hay chuyển các công
ty quốc doanh này sang công ty cổ phần thì đảng cộng sản sẽ mất hết
phương tiện. Những người lãnh đạo các công ty quốc doanh chỉ quan tâm
đến sự tồn tại của đảng cộng sản và gia đình của họ mà thôi, ít ai chú
trọng đến hiệu quả kinh tế. Khi đảng cộng sản hay gia đình những người
lãnh đạo cần chi tiêu một cái gì thì họ cứ đẻ ra các phí tổn để lấy
tiền của công ty.
Vì hệ thống quản lý tiền tệ quá yếu, nếu mở cửa vội vã Trung Quốc
sẽ khó đối phó với khủng hoảng tiền tệ một khi xảy ra. Nhưng Trung Quốc
không thể không mở cửa thị trường tiền tệ, vì đó là một trong những
điều kiện để được gia nhập WTO. Do đó cùng với việc mở cửa thị trường
tiền tệ, giới đầu cơ từ nước ngoài sẽ vào Trung Quốc mua bán tiền tệ.
Đây có thể là ngòi nổ để thị trường tiền tệ Trung Quốc bị hỗn loạn nếu
không kiểm soát được.
Thêm vào đó, tại quốc nội, lượng ngoại tệ dự trữ của dân chúng
hiện nay khoảng 150 tỷ USD, khi thấy đồng CNY cao giá người ta sẽ đua
nhau lấy đồng đô la dự trữ ra mua đồng nguyên. Điều này có thể gây ra
lạm phát nếu lượng CNY đang lưu không đáp ứng kịp thời.
Lượng tiền dư thừa không lối thoát (vì thị trường chứng khoán
Trung Quốc quá nhỏ và không được tin tưởng) được các nhà đầu tư trong
và ngoài nước đầu cơ vào bất động sản, nhất là tại các vùng bờ biển.
Tình trạng này làm giá bất động sản tại Trung Quốc tăng cao một cách
bất thường. Hầu như các tòa nhà cao ốc chưa xây xong là đã có người đặt
mua trước, bất kể được xây dựng đúng qui trình hay không. Tình trạng
này rất đáng ngại vì ngày nào quả bong bóng xà phòng này xẹp, tất cả
đều suy sụp theo như đã xảy ra tại Thái Lan năm 1997 và Đại Hàn năm
1998. Một khi nền kinh tế của Trung Quốc bị suy sụp sẽ kéo theo sự suy
sụp của những quốc gia khác, nhất là của những quốc gia có số đầu tư
tại Trung Quốc cao như Đài Loan, Hoa Kỳ và châu Âu ; nhưng sẽ bị thiệt
thòi nhiều nhất là thành phần lao động và nông dân Trung Quốc và các
quốc gia cung cấp nguyên vật liệu (quặng mỏ, dầu thô) cho Trung Quốc.
Giới sản xuất dầu thô tại Trung Đông đầu tư vào Đông Á
Để tránh lệ thuộc vào sự vận hành của nền kinh tế Trung Quốc, giới
đầu tư quốc tế đang chuyển tầm nhìn sang các quốc gia Đông Á. Đây là
những thị trường ổn định, có khả năng mang lại lợi nhuận cao nếu đầu tư
đúng lúc. Tại đây giới đầu tư phương Tây đã có mặt từ lâu rồi nhưng gần
đây, do giá dầu thô tăng gấp ba lần trong vòng vài tháng, chủ nhân
những số tiền thặng dư do bán dầu thô từ các nước Trung Đông tập trung
chú ý vào Đông Á.
Dẫn đầu giới tư bản mới này là ngân hàng Al Rijadh của Saudi Arabia.
Tuy được thành lập cách đây vài năm, ngân hàng này trở thành cơ quan
đầu tư chuyên nghiệp trên thế giới. Khi vốn của ngân hàng này vừa được
đưa lên thị trường chứng khoán tháng 3-2005, đã có hơn một nửa dân số
Saudi Arabia (khoảng 8,3 triệu người) đặt mua cổ phần, số tiền thu được
hơn 2 tỷ USD. Trong tháng 7-2005, ngân hàng này được các nhà sản xuất
dầu thô Ả Rập tại Dubai góp thêm 1,6 tỷ USD.
Chính quyền và giới doanh nhân Ả Rập khác trong vùng Vịnh Ả Rập
cũng ở trong tình trạng tương tự, nghĩa là chưa biết dùng lượng tiền
bội thu do giá dầu thô tăng vào việc gì. Từ những tháng cuối năm 2005,
họ được hướng dẫn đầu tư vào các quốc gia Đông Á. Một thuận lợi lớn là
tại đây có hai quốc gia có dân số đông nhất trong thế giới Hồi giáo là
Indonesia và Mã Lai. Nhưng khác với lầm tưởng của nhiều người, giới đầu
tư Ả Rập không quan tâm đến tôn giáo hay chủng tộc, nơi nào có lợi là
họ tìm vào.
Đối với giới đầu tư Ả Rập, Đông Á là thị trường đầu tư lớn nhất
thế giới với hơn 2 tỷ người, trong đó dân số Trung Quốc là một thị
trường đầu tư lý tưởng với một dân số gần 1,5 tỷ người. Trung Quốc
không có nhiều mỏ dầu và quặng mỏ cần thiết để giữ vững tốc độ phát
triển kinh tế cao. Họ còn biết Trung Quốc có tham vọng muốn lãnh đạo
các quốc gia Đông Á nên đầu tư vào Trung Quốc là một an toàn. Thêm vào
đó mức độ tiêu thụ năng lượng đứng hàng thứ nhì sau Hoa Kỳ, sự lệ thuộc
vào nguồn dầu thô là một bảo đảm cho nguồn vốn đầu tư.
Cũng nên biết từ năm 2004 trở lại đây, mỗi năm Trung Quốc nhập
trên 120 triệu tấn dầu thô cộng với lượng dầu sản xuất trong nước.
Trung Quốc cũng là nước có nhiều xe hơi nhất thế giới nhưng vì kém kỹ
thuật lượng xe hơi đang lưu hành tại Trung Quốc tiêu dùng rất nhiều
nhiên liệu, do đó càng lệ thuộc vào nguồn dầu thô nhập khẩu. Chính vì
thế các nước sản xuất dầu thô, nhất là Saudi Arabia, thấy Trung Quốc
đúng là một thị trường đầu tư lý tưởng vì từ sản phẩm dầu thô, Trung
Quốc rất cần vốn để chế biến các phó phẩm của xăng dầu như tơ sợi hóa
học, bao bì thực phẩm, sản phẩm PVC, nhất là nhựa đường để xây dựng xa
lộ và đường giao thông trong nước ngày càng nhiều.
Đối với các thị trường Đông Á khác, sự quan tâm của giới đầu tư Ả
Rập cũng rất nhạy bén, đặc biệt là trong ngành chế biến nguyên liệu dầu
thô. Từ 1991, công ty dầu mỏ quốc doanh của Saudi Arabia, "Saudi
Aracom" đã làm chủ 35% cổ phần tổ hợp tinh chế dầu Sonyon Group (Tam
Long) của Đại Hàn. Đến 1999, sau cuộc khủng hoảng tài chánh châu Á,
Saudi Aracom mua đứt tổ hợp Sonyon để biến thành công ty "S-Oil" chuyên
phân phối và bán lẻ xăng dầu qua một hệ thống cây xăng tại Đại Hàn,
Trung Quốc và Việt Nam. Năm 1994, công ty Saudi Aracom mua 40% cổ phần
công ty Petrom Corporation của Philippines, góp 15% vốn vào công ty lọc
và bán dầu lớn của Nhật là Showa Shell Oil... Ngoài bộ môn năng lượng,
công ty Al Zamir của Saudi Arabia đã đầu tư vào ngành sản xuất vật liệu
xây dựng tại Việt Nam để xuất khẩu sang các quốc gia Đông Nam Á khác.
Tại một vài nơi giới đầu tư Ả Rập còn gián tiếp đầu tư qua hình thức
góp vốn thành lập những công ty hợp doanh xuất khẩu.
Sau cuộc khủng hoảng kinh tế tài chánh tại châu Á năm 1997, giới
đầu tư Ả Rập có hơi co rụt lại nhưng qua năm 2000 họ tích cực đầu tư
trở lại tại Đông Á vì tốc độ tăng trưởng GDP bình quân tại đây khoảng
7% trong 5 năm qua. Hai quốc gia có lượng tiền dầu thô đầu tư vào nhiều
nhất hiện nay là Trung Quốc và Nhật Bản.
Từ 1990 Trung Quốc thành lập hai thị trường chứng khoán, một ở
Thượng Hải và một ở Thẩm Quyến, từ 1992 các nhà đầu tư nước ngoài có
thể mua cổ phần của các công ty Trung Quốc. Thêm vào đó, Hong Kong được
giao trả lại cho Trung Quốc năm 1999, thị trường chứng khoán của cựu
nhượng địa này đã làm khởi sắc sinh hoạt mua bán chứng khoán tại Trung
Quốc. Giới đầu tư Ả Rập kỳ vọng rất nhiều vào những đầu tư của họ vào
Trung Quốc, họ tin rằng những số tiền đó sẽ mang lại nhiều lợi tức cho
họ vào các dịp Olympic 2008 Bắc Kinh và Expo 2010 Thượng Hải.
Khi đầu tư vào Đông Á, chính phủ và doanh nhân các nước sản xuất
dầu trong vùng Vịnh đang ra khỏi sự lệ thuộc vào các quốc gia Âu Mỹ từ
những đồng đô la-dầu hỏa mang lại. Ưu tư của giới đầu tư Ả Rập hiện nay
là tìm được những ngân hàng Đông Á khả tín để chuyển những món tiền lớn
do xuất khẩu dầu thô mang lại, với hy vọng được tiền lời cao và không
bị kiểm soát.
Một điều lạ là giới đầu tư dầu lửa Ả Rập không tích cực đổ tiền
vào những quốc gia Ả Rập Hồi giáo khác mà chỉ đổ vào những quốc gia nào
có thể giúp họ giàu thêm.
Nguyễn Minh
(Tokyo)