Làm ăn với rồng, làm bạn với kẻ thù của dân chủ
Theo Talawas - Ian Buruma (Hiền Minh dịch) - 09-01-2006
Một
số chủ đề nóng hổi cứ đến rồi đi: sự chấm dứt của lịch sử; đế quốc
phình lên quá độ; châu Âu ở sao Kim, Mỹ nơi sao Hoả. Và một số chủ đề
cứ quay trở lại, đôi khi sau những quãng lặng dài. Chủ đề „Trung Quốc
trỗi dậy“ đang trở lại, ở mức độ cao hơn bình thường, trên báo, trên
truyền hình, tạp chí, hội nghị. Có vẻ bỗng chốc mọi người chợt nhận ra
việc Trung Quốc một lần nữa trở thành cường quốc, và có thể cả lợi ích
lẫn rủi ro của hiện tượng này đang bị phóng đại. Điều này thường xảy ra
mỗi khi phương Tây cảm thấy bị đe doạ bởi một dân tộc không phải Tây
phương. Cũng có thể lo ngại của phương Tây không bị phóng đại, nhưng
lại đặt nhầm chỗ. Trong nhiều trăm năm, Trung Quốc đã hoặc là “con rồng
ngủ quên” hoặc đang tiến bước. Nhiều người có lẽ muốn chọn chế độ ngủ
quên hơn. Dẫu sao con rồng Trung Quốc vẫn đang được nhìn như một quái
vật đáng sợ, kích thích lòng tham, ghen tị, kinh hoàng và mê hoặc nhiều
thế hệ ở châu Âu và Mỹ.
Nhiều trong số những tường thuật ở phương Tây về tăng trưởng kinh
tế phi thường của Trung Quốc – các thành phố chọc trời mọc lên như
rừng, các ngành công nghiệp đổi chủ, thị trường mở rộng cửa – mang
giọng điệu kính sợ, thỉnh thoảng được kiềm chế bằng lo ngại môi trường
và cảnh báo lạc lõng về nhân quyền. “Tăng trưởng chín phần trăm”, một
nhà quan sát người Mỹ nói, “không chỉ là phát triển, đó là sự chuyển
hoá”. Nhưng ngụ ý băn khoăn cũng hiện rõ: liệu Trung Quốc sẽ thống trị
thế giới? Phương Tây có thể làm gì để cạnh tranh với nền văn minh cổ
xưa và lạ lùng của những ong thợ và những kẻ chuyên quyền này?
Nỗi sợ miền Viễn đông có lẽ đã có ít nhất từ thế kỷ thứ năm, khi
những chiến binh của Attila để lại dấu vết tàn phá từ Đế chế La Mã ở
phía Đông đến vùng đất mà nay là Pháp. Rồi Thành Cát Tư Hãn và bộ lạc
Mông Cổ tiến sát đến thành Vienna năm 1241. Nhưng ý niệm hiện đại về
hiểm hoạ da vàng thường được gán cho người Mỹ. Dòng người nhập cư Trung
Quốc, ở cuối thế kỷ 19, khơi dậy lo sợ về cạnh tranh kinh tế (các ong
thợ), dốt nát, và ô nhiễm chủng tộc. Để bảo vệ sự thuần khiết và sinh
kế, người da trắng phải cứu nền văn minh khỏi mối đe doạ phương Đông,
như thể hiện qua loạt tiểu thuyết về nhân vật bác sĩ Fu Manchu của Sax
Rohmer.
Thực tế, giống như nhiều thành kiến khác của Tân Thế giới, hiểm hoạ
da vàng lại có nguồn gốc từ châu Âu. Vua Wilhelm II bị nó ám ảnh. Ông
gửi các thông điệp dữ dội cho người anh em họ, Nga hoàng Nicky, thúc
giục ông này bảo vệ biên giới của văn minh trước “hiểm nguy da vàng”.
Những lá thư này thường được chính tay vị vua minh hoạ bằng hình vẽ các
nhà sư hiện ra từ mây giông để huỷ diệt thế giới phương Tây. Những cơn
giận của vị vua Đức thường được kích động bởi việc giết các nhà truyền
giáo đạo Thiên Chúa ở Trung Quốc. Khi Nghĩa hoà đoàn tấn công các nhà
truyền giáo năm 1900, ông đã gửi quân Đức tới Trung Quốc trong một phần
nỗ lực chung của phương Tây (và Nhật) để dập tắt cuộc nổi loạn. Tiễn
chân quân đội tại Wilhelmshaven, ông khích động đoàn quân bằng những từ
đậm màu tôn giáo.
“Hãy chứng tỏ mình là tín đồ Thiên Chúa giáo, can trường đứng giữa
bọn tà giáo”, ông thét lên, “Cho thế giới thấy gương kiên cường và kỷ
luật. Kẻ nào rơi vào tay các ngươi, hãy để chúng chết dưới lưỡi kiếm.
Như các chiến binh Hung của vua Etzel một ngàn năm trước tạo cho mình
danh tiếng còn đến tận hôm nay, các ngươi phải làm rạng danh Đức quốc
để đến ngàn năm sau tại Trung Hoa, không tên người Hoa nào, dù mắt ti
hí hay không, lại dám nhìn thẳng vào mặt người Đức”.
Dĩ nhiên khó mà gọi người Hung là tín đồ Thiên Chúa giáo, nhưng
chẳng sao. Thực tế, yếu tố đạo Thiên Chúa vẫn còn theo ta. Đặc biệt
người Mỹ có một lịch sử truyền giáo hăm hở tại Trung Quốc. Cái đế chế
rộng lớn của những kẻ tà giáo luôn thu hút những nhà buôn tôn giáo khao
khát đưa hàng trăm triệu tâm hồn đến với Thượng đế. Trong chuyến thăm
Trung Quốc mới đây của George Bush, ông không nói mấy về nhân quyền,
nhưng mấy lời ít ỏi ông nói ra chủ yếu nhắc tới quyền của các tín đồ
đạo Thiên Chúa. “Cầu cho Thượng đế phù hộ người Công giáo ở Trung
Quốc”, ông viết tại một nhà thờ ở Bắc Kinh. Lời này hoàn toàn tương
thích với một truyền thống trong quan hệ Đông–Tây.
Nhưng sức hút của Trung Quốc đối với phương Tây không phải lúc nào
cũng mang tính thù địch, kích thích bởi tôn giáo, hay thậm chí lo ngại.
Trong đa số giai đoạn lịch sử châu Âu, Trung Quốc đủ xa để trở thành
một vật trừu tượng, một dạng vương quốc trong tưởng tượng, một vùng
không tưởng là lạ, nơi mọi thứ có vẻ trật chìa hoặc lộn tùng phèo. Điều
này tồn tại cho mãi đến thế kỷ 18, thời đại của phong cách nghệ thuật
và văn học mang phong vị hương xa Trung Hoa, ngay cả khi trước đó đã có
những ghi chép chính xác về Trung Quốc để người ta có thể có một bức
tranh thực tế hơn.
Nhưng sự xa lạ có cái lợi của nó. Nó cho phép ta mơ về một hình mẫu
lý tưởng có thể đối lập với những bất mãn và khiếm khuyết trong thế
giới ta sống. Một nhà lãng mạn chân chính sẽ khăng khăng đòi những thứ
khác biệt và nhìn mọi dấu vết ảnh hưởng Tây phương như một vết nhơ. Một
trong những cây bút mơ mộng nhiều về Trung Quốc, người mà thật tình
biết rất rõ đất nước này, là nhà văn Pháp Victor Segalen (1878-1919).
Ông nhấn mạnh đến sự khác, đến bí ẩn, đến một thế giới không thể xâm
nhập. Ông không thể chịu được quá trình đồng nhất từ từ của thế giới
hiện đại, thúc đẩy bởi thương mại và du lịch, và bởi mọi thứ mà con
người từng mô tả là “tiến bộ” và nay gọi là “toàn cầu hoá”. Trung Quốc
là vùng biên hương xa cuối cùng, nhưng ngay cả nó, đến thập niên 1910,
cũng đã bị hoen ố trong mắt của Segalen. Trong lá thư gửi bạn, người
chuẩn bị đến Trung Quốc lần đầu, ông viết: “Tin tôi đi: đừng thèm đến
bờ biển. Quên luôn Thượng Hải và những cảng vùng hạ lưu đi. Khu vực
ngoài rìa Trung Hoa đã ‚tiến bộ’ như miếng vỏ trái cây bị thâm lại.
Phần nạc bên trong thì vẫn còn ngon”.
*Giấc mơ về cái thật của Trung Quốc, đối với Segalen, chủ yếu mang
tính mỹ học: câu khắc xưa trên tượng đá, cung cách hoa mỹ trong cung
cấm, những quy ước cách điệu hoá của hý kịch Bắc Kinh. Tuy nhiên, Trung
Quốc, hay đúng hơn ý tưởng về Trung Quốc, đặc biệt trong thế kỷ 18,
không phải lúc nào cũng mang tính nghệ sĩ như thế. Với Voltaire và các
triết gia bạn bè trong phong trào Khai sáng, Trung Quốc tượng trưng cho
mô hình duy lý. Họ nhìn Trung Quốc như một xã hội uyên thâm hơn hẳn,
được cai trị bởi những hiền sĩ được chọn lựa chỉ qua khả năng. Khác với
một nước như Pháp, nơi vẫn oằn mình dưới chế độ quân chủ chuyên chế,
vây quanh là các giáo sĩ theo chính sách ngu dân. Voltaire thấy “tôn
giáo của những sĩ phu Trung Hoa thật đáng kính. Không mê tín, không
huyền thoại ngớ ngẩn, không có bất kì những giáo điều lăng mạ lý trí và
tạo hoá”.
Việc Trung Quốc có một chế độ quân chủ không kém khắc nghiệt hơn
triều đình Louis XIV trở thành chuyện nhỏ. Và Voltaire không phải không
biết sự mê tín của các giáo sĩ Trung Hoa. Nhưng ý tưởng về một xã hội
vĩ đại do các học giả cai trị chắc chắn thu hút trí thức. Và khía cạnh
chuyên chế của chính trị cung đình không thành vết nhơ mà lại bổ sung
cho sự huyền bí của Trung Quốc. Trí thức thường dễ xiêu lòng trước kẻ
chuyên chế, bởi vì họ có thể hiểu được những ý tưởng và thực hiện
chúng, không màng đến những thoả hiệp rắc rối của những thể chế tự do
hơn. Những nhà độc tài thường “làm được việc“.
Đây là một trong những lý do khiến Chủ tịch Mao nhận được những lời
tốt đẹp từ các trí thức phương Tây như Jean-Paul Sartre, Raymond
Williams và André Malraux. Như một hoàng đế thực thụ, Mao - người
thường được trình bày như biểu tượng của vị vua hiền triết phương Đông,
người làm thơ với lối thư hoạ riêng biệt – có thể chuyển hoá một xã hội
lạc hậu. Và với trí tuệ và sự tinh tế của nền văn minh cổ xưa, ông thậm
chí có thể giúp chuyển hoá thế giới. Có những tiếng vọng kiểu Voltaire
trong lối sùng bái kiểu này dành cho Mao: Trung Quốc là mô hình của lý
trí, được dẫn dắt bởi những nhà tư
tưởng nỗ lực loại trừ mê tín dị đoan và những tàn tích của quá khứ phong kiến đen tối.
*Không mấy ai trong số những người sùng bái quan tâm nhiều đến đời
sống thật ở Trung Quốc. Đối với họ, cũng giống như đối với các triết
gia hai thế kỷ trước, Trung Quốc là một vật trừu tượng đem ra để chống
đối tình hình ở chính đất nước họ. Thực tình, anh không cần phải ham
chuộng chủ nghĩa Mao, thậm chí chẳng cần theo cánh tả, anh cũng có thể
kính cẩn nghiêng mình trước sự huyền nhiệm của quyền lực Trung Hoa.
Henry Kissinger bị ấn tượng trước Mao, và đặc biệt trước người thủ túc
Chu Ân Lai, đến mức vị ngoại trưởng này khúm núm như một phiên thuộc
trước triều đình. Và quan niệm rằng chế độ chuyên chế Trung Hoa tuy có
thể hơi cứng rắn nhưng ít nhất làm được việc vẫn còn hay hiện diện
trong các bài viết của phương Tây về Trung Quốc. Nhiều nhà tư bản cánh
hữu sẽ bảo anh rằng sự chuyển hoá tư bản của Trung Quốc chỉ có thể xảy
ra dưới chế độ hà khắc của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Rupert Murdoch tin
vào luận điểm này, giống như một số người một thời là tín đồ của chủ
nghĩa Mao. Có thể điều này đúng, nhưng liệu nó cho ta biết gì về bản
chất của nền kinh tế chính trị Trung Quốc, một sự kết hợp nham hiểm của
tư bản bè phái và độc tài chính trị?
Chính ở đây, lòng tham nhảy vào. Trong tất cả các thị trường tiềm
năng trên thế giới, Trung Quốc từ lâu được các lái buôn phương Tây xem
là phần thưởng lớn nhất. Kích cỡ dân số là một nguyên do. Và người
Trung Quốc có tiếng là những doanh nhân bẩm sinh. Trong quá khứ, danh
tiếng này không hẳn dựa trên kinh nghiệm làm ăn ở Trung Quốc mà đúng
hơn là dựa trên những gặp gỡ với lái buôn Trung Quốc ở các cảng thị
Đông Nam Á. Và dẫu vậy, vì lý do này khác, Trung Quốc có một lịch sử
không để cho người buôn nước ngoài được hái những trái cây ngon nhất
của họ. Trong thế kỷ 19, súng của Hạm đội Hoàng gia đã phải nổ để buộc
Trung Quốc mở cửa cho giao thương, mà khi đó chủ yếu để buôn thuốc
phiện.
Rào cản thương mại chính ở Trung Quốc đã luôn là vai trò truyền
thống của chính phủ. Các viên chức Trung Quốc, quyết tâm duy trì đặc
quyền của họ, cố gắng giữ giai cấp thương nhân trong sự kiểm soát chặt
chẽ của bộ máy. Trong thời quân chủ, việc buôn bán với Trung Quốc đòi
hỏi việc khấn đầu trước triều đình, và dâng lên nhiều quà tặng. Khi
huân tước Macartney dẫn đầu đoàn buôn đến gặp hoàng đế Trung Quốc năm
1793, đi kèm ông là 600 thùng quà, do 3000 cu ly khuân vác. Nhưng việc
ông không chịu quỳ hai chân trước hoàng đế Trung Quốc khiến yêu cầu mở
cảng cho thương nhân Anh bị từ chối. “Đế chế chúng tôi”, vị huân tước
Anh được nghe bảo, “rừng vàng biển bạc, cái gì cũng có”.
Dĩ nhiên thời thế đã đổi thay, nhưng không hoàn toàn. Cách một số
nhà tư bản phương Tây lấy lòng các quan chức cộng sản Trung Quốc bằng
lời ca tụng và quà tặng, lại thường chịu đựng những hắt hủi và khinh
mạn mà họ sẽ chẳng bao giờ dung thứ trên đất nước mình, mang tiếng vọng
của sứ mạng kém may mắn của Macartney. Và giống như hành động của tổ
tiên trong giao thương ở cảng biển trước Chiến tranh Thuốc phiện, các
viên chức Trung Quốc vẫn thường cấu kết với các doanh nhân trong nước
để hạn chế sự cạnh tranh không được hoan nghênh của nước ngoài. Nhưng
khao khát chiếm thị trường to lớn của Trung Quốc vẫn đủ là động cơ để
người nước ngoài cố mà vào.
Lời hứa sẽ có của cải do thị trường mang lại chắc chắn là nguyên do
chính, giải thích vì sao các chính phủ dân chủ đã gần như bỏ luôn
chuyện thúc ép các nhà cai trị Trung Quốc phải cải thiện nhân quyền và
cởi trói chính trị. Phần thưởng tiềm năng lớn quá thì sao lại phải rối
trí vì mấy chuyện vặt như các trại lao động cưỡng chế, thiếu tự do ngôn
luận, dùng nhục hình với người theo đạo, đàn áp người thiểu số, hay
việc không tồn tại các công đoàn độc lập.
Các chính trị gia phương Tây và một số doanh gia nói rằng kinh
doanh chính là con đường chắc chắn nhất dẫn đến tự do chính trị. Họ
nhắc lại câu thần chú rằng chủ nghĩa tư bản sẽ làm tăng số lượng giai
cấp trung lưu, và giới trung lưu sẽ đòi hỏi dân chủ. Nhưng sự trỗi dậy
của Trung Quốc có thể không tuân theo hình mẫu này. Giới trung lưu
Trung Quốc quả thực phình ra, giống như đã xảy ra ở Nhật Bản hơn 100
năm trước. Nhưng Trung Quốc đang không trở nên dân chủ hơn. Đảng Cộng
sản Trung Quốc có vẻ đã thành công trong sự đổi chác với giới tinh hoa
có học ở thành thị, những người mà con cái của họ từng biểu tình trước
quảng trường Thiên An Môn ở Bắc Kinh và các thành phố khác ở Trung Quốc
năm 1989. Để đổi lấy sự vâng lời trong chính trị, từ bỏ các quyền dân
chủ, giới trung lưu được hứa có sự ổn định, trật tự và phồn vinh ngày
một tăng. Phần nào đó, đây là một sự mặc cả truyền thống tại Đông Á,
dựa trên một cách diễn giải Nho giáo. Người Singapore đã chấp nhận nó,
và phần nào đó, cả người Nhật. Đó là hình thái tư bản toàn trị thay thế
cho dân chủ tự do, và thành công của nó ít nhất cũng nên khiến cho
những người trong và ngoài Trung Quốc có quan tâm đến dân chủ phải lo
ngại.
Nếu Trung Quốc tiếp tục phát triển về kinh tế mà không cởi trói
chính trị, mô hình châu Á sẽ là ân sủng cho những ai tin rằng nền chính
trị dân chủ đã lỗi thời, hoặc thậm chí là đe doạ độc hại cho sự ổn
định. Những ai tin rằng các xã hội cần được cai trị bởi những kẻ chuyên
quyền và những nhà kỹ trị, bởi những ông chủ truyền thông và những nhà
quản lý độc đoán, những người biết cái gì là tốt nhất, sẽ vui mừng với
tấm gương Trung Quốc. Chúng ta đã thấy xu hướng này ở Thái Lan, với sự
cai trị của nhà tài phiệt truyền thông Thaksin Shinawatra. Chúng ta
cũng thấy những cái bóng nhang nhác của nó tại Italy của Berlusconi, và
thậm chí tại Mỹ; cứ thử nghĩ đến cách Bush gạt bỏ mọi sự phản đối chính
sách với giọng điệu “họ chỉ chơi trò chính trị”, cứ như thể đây là hình
thức phá hoại chứ không phải là hoạt động trong nền dân chủ.
Đôi khi người ta nói doanh nhân tạo nên một trong những cột trụ của
dân chủ. Nhưng sự ưa chuộng Pinochet trong cộng đồng doanh nhân, và
trong một số chính trị gia Đảng Bảo thủ Anh, chứng tỏ sự chuyên chế
cũng có thể được thông cảm, nếu không nói là còn hơn thế. Ai lại không
muốn làm ăn ở một đất nước không có công đoàn? Đừng nói đến hai chữ đe
doạ, thực ra, sự trỗi dậy của Trung Quốc, đối với nhiều ngành kinh
doanh, là một cơ hội. Nhưng nếu thành công của mô hình Trung Quốc gây
lo ngại cho những nhà dân chủ, thì sự sụp đổ của mô hình ấy cũng không
kém phần nguy hiểm. Điều đáng ngại nhất về chủ nghĩa tư bản chuyên chế
có thể không phải là sự ổn định mà nó vẫn khoe, mà lại là sự bất ổn
định tự thân của nó.
Những thế kỷ bồi đắp truyền thuyết gây lo ngại, hấp dẫn hay thèm
khát về Trung Quốc đã cho chúng ta ý tưởng rằng Trung Quốc là trường
hợp độc nhất vô nhị. Nhưng không phải thế. Nước Đức dưới thời vua
Wilhelm II, người cha của hiểm hoạ da vàng, cũng đạt một sự mặc cả
tương tự với giới trung lưu đang lên: trật tự và tăng trưởng công
nghiệp để đổi lấy sự rút lui khỏi chính trị. Vấn đề của hệ thống này là
một sự sụt giảm đột ngột trong phồn vinh kinh tế, tạo nên rối loạn lớn,
trong lúc thiếu các định chế chính trị tự do để có thể hấp thu cơn sốc.
Điều này có thể dễ dàng dẫn đến cách mạng và chiến tranh. Trước đây một
điều như thế đã từng xảy ra.
Trung Quốc có thể tiếp tục phát triển trong một thời gian dài, và
sự suy thoái có thể chưa phải là viễn cảnh trước mắt. Nhưng khi nó xảy
ra, sẽ an toàn hơn cho Trung Quốc, và phần còn lại của thế giới, nếu
người Trung Quốc có tự do bày tỏ ý kiến phê phán, bỏ phiếu loại bỏ kẻ
bất lương, và tìm ra cách đối phó với một cuộc khủng hoảng dựa trên sự
đồng thuận của dân chúng. Điều này có nghĩa là việc làm ăn với Trung
Quốc cần tiếp tục, nhưng không phải với cái giá là ngầm thừa nhận về
chính trị, im lặng về nhân quyền và tự do dân sự. Giới trung lưu Trung
Quốc, trong hoàn cảnh hiện tại, có thể không có lựa chọn nào khác.
Nhưng các chính quyền phương Tây thì có lựa chọn.
Bản tiếng Việt © 2006 talawas
In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè: