Trong cuộc sống chung xã hội, trong đời sống hằng ngày, chúng ta thường nghe nói nhiều nhất đến ba danh từ: lễ phép - ngày lễ - tế lễ. Ba danh từ ấy liên quan rất mật thiết với cuộc sống của con người.
Khắp nơi trên thế giới, đối với dân tộc nào, tầng lớp xã hội nào cũng vậy, vấn đề «LỄ» là nét đặc thù của mỗi nền văn hóa. ...
... Mỗi
dân tộc, ngay từ lúc sống thành tập đoàn, đã có những lề lối riêng để
điều hợp sự bang giao với nhau : cách dùng lời nói, cách chào hỏi, cách
đứng ngồi, cách đi lại thăm viếng vân vân. Nói chung, từ phong thái đến
tư duy và trong tâm linh, lúc nào vấn đề «lễ» cũng gắn liền với cuộc
sống chung của con-người. Từ đấy nẩy sinh những lễ nghi, tập tục, lễ lạc
Đối với Việt Nam-ta, trong vấn đề lễ phép, những chữ thường được dùng là: ăn nói, đứng ngồi vô lễ vô phép, xin được bỏ lỗi vì đã lỡ phạm điều thất lễ v.v. Ngưòi Việt Nam không lạm dụng chữ «xin lỗi» như Tây Phương nhưng trái lại rất chú trọng vấn đề phạm lỗi thất lễ đối với người khác. Đấy là vấn đề giáo dục, văn hóa của ta.
Từ xưa, dân Việt Nam đã có những hội hè, đình đám, những ngày lễ
(ta gọi là tết). Gia đình nào cũng vậy, ngoài những ngày giỗ, chạp,
thường nhớ nằm lòng những «húy nhật» để cùng nhau tổ chức hội, lễ.
Trong dân gian, mỗi năm ta có những ngày Tết Nguyên Đán, Trung Thu,
Đoan Ngọ, Thanh Minh, Cô Hồn, v.v. Thời bây giờ, trong cuộc sống «công
ăn việc làm» - vie active - người công nhân đi làm, hạng sinh viên,
giới học sinh đi học, thông thường ai cũng mong đến «ngày lễ» để được
nghỉ lễ: ở Pháp, nhân dịp Tết, Giáng Sinh, Chư Thánh, Thăng thiên, Mộng
Triệu, Lao Động, Đình Chiến, Chu Niên xNăm của Chuyện x …Ở Mỹ có lễ Độc
Lập, lễ Tạ Ơn… Ai cũng lăm lăm nhìn xem năm naymình được nghỉ ngày nào
để sắp xếp chương trình xả hơi và đi nghỉ hè. Nghỉ xả hơi là trọng tâm
của vấn đề nghỉ-lễ chứ phần đông, không mấy ai biết ngày lễ ấy là cái
gì, tại sao được nghỉ, nghỉ để làm gì, trong khi giới «chức trách» tư
và công thì phải bù đầu lo tổ chức cuộc lễ!
Cũng nên kể thêm
những cuộc lễ «tư nhân» nhân dịp lễ Cưới Hỏi, lễ Mừng Sinh Nhật, lễ
Mừng Thượng Thọ, lễ Mừng Tân gia v.v…Cho nên mới nẩy sinh vấn đề lễ lạc, lễ tiết
và chúng ta nghe nói đến nghi thức làm lễ, diễn biến cuộc lễ, cốt yếu
là việc hành lễ được trang trọng, xứng hợp với lòng tôn kính cần phải
bày tỏ đối với đối tượng.
Vậy LỄ là gì? Con người bầy ra Lễ làm gì? Tại sao phải bầy ra Lễ?
I - Lễ
Trong đầu của người dân của số lớn các nước và nói riêng về người dân Việt, ý niệm về LỄ rất mơ hồ.
Riêng
ở nước Pháp, chỉ dân chúng ở các địa phương mới nói đến những cuộc lễ
đã làm nên nước Pháp-cổ (La Gaule). Khi La Gaule trở thành La France,
những cuộc lễ dính liền với tập tục trong dân gian bị quên lãng dần.
Nguyên nhân là nhiều biến chuyển đã xẩy ra do ảnh hưởng rất mạnh và sâu
của văn minh la-tinh. Bây giờ, các ông tây bà đầm nhớ nằm lòng những
ngày lễ thánh (Giáng Sinh, Chư Thánh, Thăng Thiên, Mộng Triệu…) và các
ngày lễ công (Lao Động, Đình Chiến, Chu niên Xnăm của chuyện X…) để
được nghỉ ngơi, tổ chức hội hè nhưng mấy ai đã nhớ, đã hiểu nguồn gốc,
ý nghĩa của những húy nhật đã làm nên nền văn minh cơ đốc?
Ở
Việt Nam cũng vậy. Trong dân gian, tại các địa phương có những ngày hội
lớn như: Hội Đền Hùng (10 tháng 3 Â.L) Đức Thánh Trần (20-08), Chùa
Hương (tháng Giêng – tháng Ba), Đền Cuông (15 tháng Hai), Phủ Dày
(Thánh Mẫu Liễu Hạnh), Hội Lim, Chợ Xuân Gia Lạc, vân vân…. nhưng ngay
người dân “sở tại” cũng không biết tại sao những nơi ấy lại có một thời
ngát thơm hương khói, những ngày ấy đã trải qua một thời “dập dìu tài
tử giai nhân”. Ngay bây giờ, cho cả nước, mỗi năm ta chỉ còn nói đến
những ngày Tết : Nguyên Đán để được nghỉ, Trung Thu, Đoan Ngọ để được
tổ chức vui chơi trong nhà v.v… Rất nhiều những ngày hội (tết) của ta
mà ngày trước, từ vua đến dân, nhà nhà hội họp để cúng quảy không còn
ai tưởng nhớ đến nữa.
Tập tục bị xoi mòn, tâm linh cũng tiêu hao theo!
Xin lấy một ví dụ cụ thể nhất : ngày thanh minh, tảo mộ là gì mà Nguyễn Du định nghĩa là :
Thanh minh trong tiết tháng Ba
“Lễ” là tảo mộ,” hội” là đạp thanh.
Tại
sao, vào ngày ấy, người dân Việt tổ chức một cuộc “lễ trong nhà” để
cúng vái tổ tiên rồi kéo nhau ra nghĩa trang “làm sạch sẽ” cho các mộ
phần? Ý nghĩa của cuộc lễ ấy là gì? Tại sao ngày ấy trở thành một ngày
hội lớn, “gần xa nô nức yến oanh”?
Thêm một ví dụ khác cũng rất… bất thường : ngày tế Nam Giao
là gì ? Tại sao, vào thời cận kim, giữa buổi văn minh tiến bộ, vua Bảo
Đại nhà Nguyễn vẫn cho tổ chức long trọng mỗi năm, vào dịp đầu năm mới,
ngày Tế Trời Đất ấy? Trong khi ấy, để hòa đồng với việc hành lễ của
Vua, toàn dân trong nước, nhà nhà cũng từ tờ mờ sáng bày bàn thờ giữa
sân nhà, (hay trên balcon nhỏ) “làm-lễ” Tạ Ơn Trời Đất?
Nhìn chung, tại sao dân Việt Nam rất chú trọng việc cúng quảy, tế lễ bằng tập tục thờ cúng ông bà, tổ tiên, tạ ơn Trời Đất?
A - LỄ LÀ GÌ ?
Những tập tục nói trên được dùng, được sống trong dân gian từ lúc nào, tại sao?
Nho giáo dùng Kinh Lễ để trả lời với những nhận định rất “người” này :
Kim nhân nhi vô lễ, tuy năng ngôn bất diệc cầm thú chi tâm hồ! (làm người mà không có lễ thì tuy biết nói đấy nhưng có khác gì cầm thú?...)
…vi lễ dĩ giáo nhân, sử nhân dĩ hữu lễ, tri tự biệt ư cầm thú (lấy lễ dạy người khiến người ta ai cũng biết lễ, để tự phân biệt mình với loài cầm thú) (Kinh Lễ - Khúc lễ / Thượng)
Vậy
phải xem «lễ» là nét đặc thù của loài người và “lễ” sẽ trở thành nét dị
biệt của từng nền văn minh. Con-người, khi sống thành tập đoàn phải
đồng thuận về những phép tắc để sự giao dịch với nhau được tốt đẹp.
Cách chào hỏi, cách đứng ngồi kể cả cách cùng nhau vui chơi, ăn uống
cũng phải làm thế nào để “người này”, nếu không làm vui lòng được thì
cũng tránh làm mất lòng “người kia”. Cung cách, phép tắc ấy dựa trên
nguyên lý nào? Tất nhiên, khi muốn sống vui vẻ “hoà bình” với nhau,
loài người không thể dùng cung cách “lý của kẻ mạnh” nhưng bằng lề lối
“giữ phần hơn bằng nụ cười”. Muốn được như vậy, ta phải tỏ lòng trân trọng người-kia (tha nhân, l’autre)” : đấy là “lễ”.
1- Lễ theo tinh thần cổ truyền Việt Nam : Tâm linh Việt Nam
Nói
đến tinh thần “cổ truyền”, tất nhiên ta phải nghiệm xét cung cách của
người dân, qua cách suy nghĩ, lối nhận định về đời sống, về cuộc sống
được tiềm tàng trong ca dao tục ngữ. Từ xưa, người Việt-Cổ đã nghiệm thấy chỗ đứng (place, position) vật thể (matérielle) và tâm linh (spirituelle) của con-người giữa thiên nhiên, trong vũ trụ qua cụm chữ‘‘đầu đội trời, chân đạp đất’’.
Con-người có mặt giữa vạn vật, với «thế đứng (debout) bằng hai chân
(bipède)’’ phải nhận lãnh cái nhiệm vụ làm gạch nối giữa Trời và Đất.
Với ‘‘thế đứng hai chân’’ ấy, con-người phải hiểu rằng mình sống chung
với vạn vật, muôn loài nhưng có thêm cái trí tuệ và phần tâm linh. Để
làm gì? Để tôn vinh cái danh tính ‘‘con-người’’ của mình, khác với
những vật vô tri vô giác, hơn những con-vật không có tâm linh.
Cho
nên tư duy của người Việt-Cổ cuộn xoáy trong cuộc vuông tròn, đất trời.
Trong mỗi câu nói, trong mọi ý nghĩ, người Việt Nam luôn luôn nhắc nhở
đến «Trời» :
- nhờ trời mấy độ rày làm ăn khấm khá…, nhờ trời sức khỏe cũng khá tốt…, nhờ ơn tròi, gia đạo cũng thuận thảo yên vui v.v…
- lạy trời, cầu trời cho được tai qua nạn khỏi.
- cám ơn trời…
Nói về thời tiết hằng ngày cũng vậy, người Việt Nam có cách nói riêng để tự nhắc nhở sự có-mặt của «ông-trời»: trời nắng, trời mưa, trời lạnh, trời nóng, trời gió…
Người
Việt-Cổ nghiệm thấy cái «ông-trời» ấy có rất nhiều quyền lực và, hoặc
lộ liễu, hoặc ngấm ngầm, ông-trời xen vào đời sống của tất cả vạn vật
và của riêng con-người. Cho nên, ta nghe người nông dân nói:
lạy trời mưa xuống, lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cày, lấy đầy bát cơm, lấy rơm đun bếp…
trời nồm tốt mạ, trời gíá tốt rau; trời nắng tốt dưa, trời mưa tốt lúa…
trời cho chân cứng đá mềm…v.v.
Vậy, ông-trời làm cho «mưa nắng phải thì»là
điều kiện tối cần thiết để cuộc sống của mọi vật được bảo đảm. Cái «mưa
nắng phải thì» ấy rõ ràng có ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống của
con-người cho nên, gặp khi «trái gió trở trời», nó sẽ bị xáo trộn ngay
và hậu quả không thể nào lường trước được. Những cuộc hạn hán, lũ lụt,
bão tố xẩy ra hoặc định kỳ, hoặc bất thường là những «sự» (phénomènes)
tự nhiên trong cái «thiên-nhiên» do «ông-trời » điều hành. Những hiện
tượng tsunami, động đất, bão táp rùng rợn có hình thái của một cuộc tận
thế xẩy ra trong năm 2005 này là những cách hành sử của «ông-trời» đối
với con-người.
Ngay cả cuộc sống xã hội của con-người, muốn cho
được bình thường, không bị xáo trộn cũng cần đến sự bình thường của
ông-trời, nếu không:
Trời làm một trận lăng quăng
Ông hóa ra thằng, thằng hóa ra ông.
Ngoài
ra, còn có cái chuyện «chết» nữa. Sống đã như vậy, còn chết thì sao?
Cũng thế! Chết là trở về với Trời. Chôn (trong lăng, tháp, tẩm) hay
thiêu, con-người cũng vẫn “trở về với cát bụi”, trở về với cái
huyền diệu giữa vũ trụ để lại hòa nhập với sự sống của vũ trụ, với
Trời. Cho nên, người Việt-mình nhìn cái chết như một «sự»-thường, do ý
trờimà có :
Sống ở chết về
Trời gọi ai nấy dạ
Trời đánh còn tránh miếng ăn
Cái
quyền lực của ông-trời ấy rất huyền ảo mầu nhiệm, đến cái mức độ bao la
như một cái «lưới trời lồng lộng» bao trùm cuộc sống của con-người. Mặc
dù:
trời sinh voi trời sinh cỏ, trời sinh trời dưỡng
hoặc trời cho hơn lo làm, giàu nghèo có số (trời)
hoặc sông có khúc người có lúc, không ai giàu ba họ, không ai khó năm đời
hoặc trời chẳng phụ ai
nhưng người Việt luôn luôn tự biết là mình sống với mối đe dọa của luật pháp của Trời.
Đối với người Việt-ta, «Trời có mắt» là một nguyên tắc đạo lý, đồng thời là một định hướng tâm linh.
a- Lạm bàn về Trời của người Việt Nam
Nói về đạo lý của người Việt Nam, những học giả chịu ảnh hưởng Âu Mỹ có cái thói quen “kỳ dị” xác định là : dân Việt Nam theo “đạo” thờ cúng ông bà và có tinh thần bái vật
(paganisme)”. Tinh thần tôn thờ cúng bái đủ loại thánh thần, hình tượng
ấy là hình thức của mê tín dị đoan nên văn minh Việt Nam không đáng gọi
là tiến bộ được, văn hóa Việt Nam cũng không có giá trị lắm!
Một số ít còn đi xa hơn với sự nhận xét là «đại đa số người Việt tự xem là phật tử cho nên có tinh thần phi-tín-ngưỡng (agnostique) hoặc “vô thần” (athée).
Đấy là những nhận định rất nông cạn nếu không nói là sai lầm về tín ngưỡng (croyance) và tôn giáo (religion).
Điều
sơ khởi cần đặt làm căn bản để nghiệm xét tâm linh của người Việt là
vấn đề “thờ trời”. Tại sao người Việt (cổ và kim) thờ Trời ? Trời của
Tàu được gọi là Thượng Đế; Trời của Tây có rất nhiều tên. Còn dân Việt
Nam vì xem Trời là một vị thần linh (Esprit) nên mới gọi là
“Ông-Trời”. Thờ Trời của dân Việt Nam là thờ thần linh (culte des
esprits). Vì trong tâm linh của người Việt, “thần” có một ý nghĩa rất
rộng, rất sâu và huyền hồ. Xin nói rõ hơn:
Khi Edward Burnett TYLOR nghĩ rằng «Thượng Đế là ý niệm sơ khởi của loại linh trưởng khi nhân hóa»
(Dieu, (c’est) la première pensée du primate qui devient un homme), ông
muốn nói rằng sự tôn thờ thần linh là sự nhận định tiên khởi về Thiêng Liêng (le divin). Thật ra, không hẳn chỉ có vậy. Theo J.C BARREAU, «sự
tôn thờ thần linh không những là lối nhận định tiên khởi về Thiêng
Liêng mà còn là sự nhận định thiết yếu và truyền kiếp về Thượng Đế’’ (…l’animisme est une manière non seulement originelle mais essentielle et permanente de concevoir Dieu). Như vậy, sở dĩ Con-Người cần đến phương thức tôn thờ bái vật là để, qua hình thể của tượng, ảnh, có thể bám víu vào sự nhận thức về ‘‘cáicó’’
của vô số những tâm linh phi-tâm-thức của con người. Còn nói là truyền
kiếp là vì tinh thần tôn thờ thần linh vào thiên niên kỷ 3 này vẫn nấp
lén ở đâu đấy trong mọi tôn giáovà tâm linh như bói bài, coi tử vi.
Đối
với Đạo lý cổ truyền Việt Nam cũng vậy. Nguyên nghĩa của chữ «thần» là
cái huyền lực giữa thiên nhiên - đặc biệt đối với Trái Đất, nơi
con-người có mặt – làm cho ‘‘sự sống’ ’luân chuyển xoay vần từ dương
(sinh ra, lớn lên = sống) sang âm (chết) rồi từ âm sang dương. Cần ghi
nhận ngay: theo vũ trụ quan Đông-phương, sự vật (phénomènes) hiện hữu
(có) do sự chuyển vận của mối hòa hợp giữa âm và dương: huyền lực của sự sống. Cái huyền lực ấy do Trời chuyển vào
con-người, muôn loài và toàn thể vạn vật. Khi cái huyền lực ấy sống đặc
biệt rất mạnh trong một con-người nào hay một vật thể nào thì con-người
hoặc vật thể ấy trở thành thần linh. Đấy là trường hợp của những hiện
tượng thiên nhiên (sấm, sét, nắng, mưa, gió, tuyết…, một tảng đá cheo
leo, quãng sông rộng sâu, cây đa cổ thụ…) và cả những con-người «đặc
biệt» như các vị anh hùng liệt nữ và mọi người chết như ông bà tổ tiên.
Người Việt Nam tôn thờ những «sự» (phénomènes) ấy vì đấy là những hiện
tượng nằm ngoài sự hiểu biết (tri) của mình, làm xúc động sự cảm nhận
(sensibilisation) của mình và trở thành rất thân thuộc với mình. Đấy là
lối sống tinh thần, phần tâm linh của người Việt Nam…chính thống cổ
truyền. Kiểu ý thức sự sống như vậy thường được xem là thấp kém
(terre-à-terre) bởi những đầu óc hời hợt (nông cạn?) học đòi luận lý Âu
Mỹ!
Trên kia, tôi dùng cụm từ «cái-ông-trời» vì Trời có thể là một sự-vật như con-người,
như ngọn lá, cánh hoa, vết rêu, phiến đá, hạt cát, biển rộng núi cao,
rừng sâu, đồng ruộng, kể cả sấm, chớp, thời tiết. Vì, tuy Trời không
hiển hiện dưới một hình thể riêng biệt, nhưng trái lại, Trời có mặt
khắp nơi, trong sự cấu tạo của mọi hình thể (formes matérielles) và cả
trong tâm linh con-người (spirituel). Người Việt Nam, vì phải làm quen
với cách sống thoải mái với thiên nhiên, nghĩ rằng Trời là linh hồn của sự sống của các vật thể và gọi tắt cái huyền lực ấy là Ông-Trời.
Điều
không thể nào phủ nhận là: Ông-Trời có thật. Đấy là một thực tế
(réalité). Tuy là một thực tế nhưng Ông-Trời vô tướng, vô sắc, nằm ngoài tầm hiểu biết
của Con-Người. Đạo giáo bảo là không biết là tên gì. Đạo Du-Già
(judaisme) không cho phép đặt tên Ông-Trời và gọi tạm là YHVH, Yahvé
hay Jéhovah. Đạo Thiên Chúa dùng Chúa Ba Ngôi (trinité) để nói đến Trời
và bàn luận về những sự mầu nhiệm của «ông» Trời. Các nhà khoa học cũng
vậy. Tất cả đều đã bù đầu, đang vùi đầu nghiên cứu xem Trời là cái gì
và hiện nay vẫn không xác định được rõ ràng nguồn gốc, phát sinh, thực
thể của Trời, qua sự cấu tạo và các hiện tượng của vạn vật, vũ trụ, tâm
linh.
b- Thờ Trời (+ Đất):
Nhìn lại đoạn đường của nhân loại đã đi qua từ ngày thâm u mới nhận biết «CóTrời» và xem đấy là một Cái-gì-Thiêng-liêng-Mầu-nhiệm (divin,
mystique), ảnh hưởng rất lớn đến sự sống của vạn vật và cuộc sống của
con-người, chúng ta sẽ thấy, từ ngàn xưa và khắp nơi,những dấu ấn sau
đây :
- Ở Pháp: người Gaulois (Pháp-Cổ) xem Puy de Dôme (vùng
Auvergne, cao 1465m) là một đỉnh núi thiêng liêng và xây dựng ở đấy một
ngôi đền để thờ Toutatis, vị thần linh được tôn quí nhất. Vùng Auvergne
được xem là nơi hội tụ tất cả nguồn sinh lực của Trời Đất ở nước Pháp.
-
Ở Anh - Đối với người Celtes, dân tộc định cư đầu tiên ở Anh, thì ngọn
đồi Glastonbury (vùng Somerset, phía Nam nước Anh) là ngưỡng cửa đi vào
«Thế-giới-bên-kia». Người nguyện cầu thành khẩn thiền hành theo con
đường vòng xoắn quanh ngọn đồi lên đến đỉnh đồi sẽ được hòa nhập với
sinh khí vũ trụ.
- Ngôi đền thờ Mặt Trời Samash ở Hatra
(Irak), vách đá đỏ Sedona ở vùng Phoenix (Arizona, Bắc Mỹ), đền Tijal,
Palenque ỏ Chiapas (Mễ), tượng đá Ko Te Rikou ở đảo Pâques hay Kim tự
tháp ở Ai Cập đều là những kiến tạo của con-người để kết nối mình với
huyền lực vũ trụ.
- Ở Việt Nam, không có những kiến trúc đồ sộ
như ở những nơi vừa kể nhưng việc tôn thờ các thần linh vẫn được tổ
chức trong những đền đài xây dựng rải rác khắp nơi trong nước: đền Kiếp
Bạc thờ Trần Hưng-Đạo ở Chí Linh, đền Yết Kiêu, đền Công thờ Thục An
Dương-vương ở Nghệ an, điện Hòn Chén ở Thừa Thiên thờ Mẹ Xứ Sở A Na
Thánh Mẫu, đền Bà Chúa Xứ ở Núi Sam (Châu Đốc) v.v…
B- TẠI SAO CÓ LỄ?
Theo Thánh Saint Augustin, «Thượng Đế tôn vinh phẩm hạnh của con-người để hoằng dương đức độ của Ngài » ( Dieu ne fait que couronner ses dons quand Il couronne nos mérites), nghĩa là con-người phải hiểu rằng «những gì hay, tốt của mình đều do Thượng đế ban phát».
Vậy con-người phải «nhớ ơn Trời » đã đặt mình vào cuộc sống, giữa vũ
trụ vạn vật. Và con-người phải sống xứng đáng với «Ý Trời». Khi hiểu
như vậy con-người sẽ biết thế nào là giá trị của lòng biết ơn - biết ơn Trời, biết ơn người - và sẽ có lòng khiêm cung, có tinh thần trọng lễ độ. Con-người không có ba đức hạnh căn bản - để làm người - ấy sẽ «tự đào hố chôn mình»!
Ý trời, lòng trời, số trời, mệnh trời, trời có mắt đều là cách nói đến quyền lực của Trời dẫn đến nguyên tắc đạo đức:lòng biết ơn.
Khi con-người «sống» giữa thiên nhiên, vạn vật, trong lòng vũ trụ và
«sống» ở đời, trong cảnh giới xã hội với lòng biết ơn, con-người sẽ
hiểu được sự cần thiết phải tôn trọng sự SỐNG (la vie, sự hiện hữu) và
NGƯỜI KHÁC (l’autre, tha nhân): đấy là nguyên lý của Lễ.
1- Lễ Việt Nam:
Do nguyên lý ấy, dân Việt-Nam-tacó tinh thần «thờ thần linh»(culte des esprits).
Người
Việt-Cổ hiểu Lễ như vậy. Con người sống trên một mảnh đất nào cũng vậy,
bắt buộc phải có cái vị thế “đầu đội trời, chân đạp đất”. Cái vũ trụ
bao bọc con người gồm có cái phần trên đầu với những năng lực thiên
nhiên, thời tiết ; bao quanh mình, dưới chân mình có các vật thể thiên
nhiên. Trời và Đất là hai thế giới vật thể thiên hình vạn trạng giúp
đỡ, chăm sóc sự sinh tồn cho mình. Con-người sống tách rời khỏi môi
trường ấy sẽ tự hủy diệt.
Tâm lý “nhờ trời, trời sinh voi trời sinh cỏ” do đấy mà ra. Lý thuyết : Bĩ cực thái lai, lộc trời, mệnh trời
là kết quả của sự nghiệm xét những hiện tượng (phénomènes) thiên nhiên.
Cả đến đạo đức của con người, dù là lòng oán thiên vưu nhân hay tâm lý
thụ ân thiên địa, cũng nằm trong sự cảm nhiệm cái huyền lực của “trời
đất” cả. Sự cảm nhiệm ấy giúp con-người biết trân trọng sự sống, khiến
con-người phải sống theo lẽ trời, phải biết tôn thờ thần linh trời đất.
Khi nhắc nhở bổn phận “làm người”chung cho cả hai phái nam nữ
(phấn son, bút nghiên) nhà Việt-Nho Nguyễn Trãi pha trộn một số lý
thuyết căn bản, một số từ ngữ quen dùng của nho sĩ vào ngôn ngữ của ta
để nói đến “đạo trời, lẽ trời”:
- Hết bĩ rồi tới buổi thái lai
Cầm cân tạo hóa đổi dời
- Vận thịnh suy có mệnh (trời)
Đạo quỉ thần thì kính viễn chi
2- Lễ theo kinh sách
a - Nho giáo :
Nho
giáo giải thích thuyết «thiên nhân tương dữ» dựa trên nguyên lý «vạn
vật đồng nhất thể» và dùng Kinh Dịchđể khuyên bảo người hiếu-biết
(thánh nhân) rằng: đạo nghĩa của Người phải tuân theo đạo lý của Trời. Cho nên khi phải lo việc trị dân (lo cho người, hành xử với người) phải áp dụng nguyên tắc:
Minh ư thiên chi đạo nhi sát ư dân chi cố (làm rõ đạo trời để hiểu nguồn cơn của dân).
Nói cách khác, con-người sáng-suốt (thánh nhân) phải hiểu là: Thiên thùy tượng, hiện cát hung (thì) thánh nhân tượng chi (trời bày ra hình tượng, hiện ra tốt xấu (thì) thánh nhân phải suy nghĩ theo đó).
Thuyết “thiên nhân tương dữ”
giúp con người hiểu vai trò, địa vị của mình giữa trời đất (tam tài =
thiên, địa, nhân, trời, đất, người), trong vũ trụ và phải phục tòng
thiên mệnh không phải là cái “mới lạ, cao siêu” của Nho giáo đem lại
cho tâm linh, đạo đức của ta. Lý thuyết “con-người phải sống hợp với ý
trời, phải hòa hợp với Trời (vạn vật, vũ trụ)”(hệ luận của thuyết tam tài của Nho học) đã được người Việt-ta nhận xét với những thành ngữ: đầu đội trời, chân đạp đất, trời che đất chở…từ xưa rồi.
Từ sự nghiệm xét ấy, dân Việt nghĩ rằng con-người phải có đạo nghĩa bởi vì ‘‘ai’’ cũng có cha có mẹ chứ không phải từ dưới đất chui lên. Mà đạo nghĩa là gì nếu không hiểu là phải tỏ lòng biết ơn, biết tôn quí Người (Trời, cha mẹ) đã “sinh” ra mình!
b- Đạo giáo cũng vậy. Triết lý của Đạo Giáo được thu gọn trong lý thuyết: Lẽ-Trời là Đạo.
Cho nên, Lão tử và các môn đệ bàn về cái khôn của Con-Người là «biết
sống», là tránh «không làm» (vô vi) những điều có thể tiêu hao cái bình
thản, trầm lặng của tâm hồn. Tại sao?
Trong chương 40 của Đạo-Đức-Kinh, Lão tử nhận định : thiên hạ vạn vật sinh ư Hữu, Hữu sinh ư Vô
(Mọi vật trong thiên hạ sinh ra từ Có, (mà) Có sinh ra từ Không). Bất
cứ ‘‘sự’’ hay ‘‘vật’’ (hiện tượng) nào cũng phải theo cái luật ‘‘có,
không’’ ấy cả . Vũ trụ, vạn vật được tồn tại, điều hòa là nhờ cái luật
ấy. ( toàn nãi thiên, thiên nãi đạo, đạo nãi cửu = toàn vẹn là
trời, trời là đạo, đạo là dài lâu) Như vậy thì con-người muốn sống cho
đúng cách, hợp lý thì phải nghĩ như vậy, làm như vậy nghĩa là phải giữ
cho đời sống được êm đềm, hiền hòa . Muốn được vậy thì phải ‘‘phục phác’’, trở
về với sự sống hồn nhiên, thoải mái, tránh xen vào những chuyện vô bổ ở
đời, chạy theo những chuyện vớ vẩn (đạo lý) của con-người bày đặt ra.
Đạo
giáo đặt nặng vấn đề «vô vi» cũng không khác gì người Việt Nam thường
khuyên người đời nên tránh những ‘‘rắc rối cuộc đời’’, nên chuộng
nhànvới nguyên lý : Tay trắng hoàn trắng tay. Cái nguyên lý ấy giúp người Việt Nam bớt đau khổ khi phải sống những cuộc đổi dời biển dâu giữa thiên nhiên và trong cuộc đời.
c- Phật giáo nghiệm xét vấn đề sự liên hệ giữa Người và Trời qua phần tâm linh của Con-Người nên thiết lập một quan niệm về cái nguồn gốc và cái mai sau của Nó
rất khác biệt. Vật-thể-Người có mặt trong Trời Đất (Vũ Trụ) SỐNG như
thế nào? Nó được sung sướng, vừa ý không? Khi dùng nguyên lý «vô
thường» (sắc tức thị không, không tức thị sắc) về sự hiện hữu các sự vật (pháp - phénomènes), Phật học chỉ nhằm mục đích giải quyết vấn đề «sống hạnh phúc»
của con-người: nếu «sự sống» không làm cho ta thoả mãn vì ta bị đắm
chìm trong biển khổ thì ta phải tìm lối giải thoát. Con-người chỉ có
thể tự giải thoát bằng cách tiêu diệt dục vọng , nói rõ là bằng cách
suy nghiệm đúng đắn về cảnh giới vật thể (le monde des phénomènes) để
hiểu rằng «tất cả mọi chuyện đều không có thật, đều do mình tạo ra cả». Khi đã tự giải thoát được rồi, con-người sẽ sống trong một «cảnh trời» khác, tự do thoải mái, an nhiên tự tại gọi là niết bàn (nirvânâ).
d- Các tôn giáo độc thần
: Đối với các tôn giáo độc thần, Thượng đế, Trời có một khuôn mặt rõ
ràng. Đạo Thiên Chúa xem Jésus là hình ảnh của Trời. Trong khi Ba Ngôi
là biểu tượng của Trời hiện hữu giữa nhân loại thì Jésus là Trời bằng
thân xác, là Tiếng Gọi của Trời. «Hãy thương yêu nhau», đấy là ý muốn
của Trời. Cái siêu việt của Thiên Chúa giáo là sự hóa thân của Trời
theo nhận định của Grégoire de Naziance: Trời hiện thành người để người hợp với Trời (Dieu s’est fait homme pour nous faire Dieu ». Con-người là hình ảnh của Trời.
Chung chung, qua kinh sách, ta nhận thấy các triết lý, tôn giáo đều đặt vấn đề «ý nghĩa của sự hiện hữu của con-người».
Con-người phải tìm lời giải đáp cho nghi vấn ‘‘sự có mặt của mình’’
giữa vạn vật, trong vũ trụ. Đấy là một vấn đề tâm linh rất bí hiểm,
nhiêu khê có thể thúc đẩy con-người «làm» những điều lầm lỗi, không hợp
với ý trời. Cho nên, vấn đề «lễ » được đặt ra để giúp cho cuộc sống
chung trong xã-hội-người, cộng-đồng-người bớt hỗn loạn… một phần nào.
Tóm
lại, Lễ là tôn kính Người, là sống hòa hợp với Trời. Nghe có vẻ giản dị
nhưng mấy ai có đủ sáng suốt để thực hiện cái ‘‘hạnh’’ ấy. Cho nên,
Lão-Đam đã thốt lên lời than‘‘ngã độc dị ư nhân’’ (…mình ta khác với mọi người, ch.20, Đạo Đức kinh)!
II- Lễ phép : Cung cách của sự bang giao
A- Cổ truyền
: Từ ý niệm “tôn kính trời”, người Việt-Nam dùng sự hòa hảo (vui vẻ, dễ
thương) để “SỐNG” ở đời, với người. Quan niệm này được Nguyễn Trãi nhắc
đến trong «Gia huấn ca »:
- Ở đời có đức có nhân
Mới mong đời trị được ăn lộc trời
- (Hiền lành) lấy tiếng với đời,
Hễ người yêu dấu là trời hộ ta
- Đạo vợ chồng là duyên kim cải,
Vốn trời sinh bể ái nguồn ân
Văn minh Việt Nam dùng thành ngữ “Ở hiền gặp lành” để
giải thích một cách gọn gàng, rành rẽ và rất đầy đủ về triết lý “SỐNG”.
«Ở hiền» là sống theo ý trời, là phải có lòng biết ơn, phải có hạnh
khiêm cung để, trước mắt, một cách thực tiễn và trong thực tế, làm cho
cuộc sống ở đời được hòa hảo. ‘‘Gặp lành’’ là được yên thân, nói rõ hơn
là được sung sướng, hạnh phúc.
1- Lễ phép thông thường
Về nguyên tắc này, nho-giáo nói là : “cung kính tôn tiết, thối nhuợng dĩ minh lễ (lễ
thì không vượt quá tiết độ, không xâm phạm người khác, không khinh
thường người khác” còn dân Việt xác định rất giản dị bằng châm ngôn “kính trên nhường dưới” để sống ở đời, với người. Vậy:
a- Trong sự giao dịch với người khác,vấn
đề giao hảo theo truyền thống Việt Nam được tóm gọn trong mấy chữ ấy.
Kính trên và nhường dưới đem lại cho “ta” sự an vui vì, ta không làm
buồn lòng người-kia (l’autre) thì ta cũng sẽ được người-kia quí trọng,
thương mến. Đấy là trò đời. Trò đời cốt yếu ở lẽ phải “có qua có lại”.
Nó cũng giải thích được tại sao tục ngữ của ta “dạy khôn” bằng những
phương thức rất giản dị và thực tiễn :
nụ cười không mất tiền mua
ở bầu thì tròn, ở ống thì dài
ở phải cái phải nó theo
b- Cách nói năng : (ngôn ngữ) Có lẽ không có dân tộc trên thế giới có một loại ngôn ngữ “lễ độ” như Việt-Nam-ta.
Trong
cách nói năng, người Việt Nam dùng phép “gọi dạ bảo vâng” để xác định
cách “đáp lại” (réponse) sự giao tiếp sơ khởi của người-kia (l’autre) :
khi nghe gọi, người Việt Nam “dạ”; nhưng để xác nhận mình đã thâu nhận
lời nói của người đối diện, người Việt Nam “vâng”. Tất nhiên đấy là
cung cách lễ độ đối với người “trên” mình, nhưng nếu đem áp dụng cho
người ngang hàng, ngang trang ngang lứa, có lẽ cũng không quá lố,
không…thừa.
Trong ngôn ngữ, nhất là lúc nói chuyện, người Việt
Nam thường dùng chữ “dạ” hoặc “thưa” để lời nói của mình có lễ độ hơn.
Ví dụ : để trả lời, chúng ta nói « dạ không, dạ có” hoặc “ thưa không,
thưa có” chứ không nói trống không “có” hoặc “không”. Thiếu “tiếng đệm
lễ độ” dạ, thưa ấy, cách nói năng trở thành lấc cấc, có thể bị xem là
vô lễ, mất dạy.
Do đấy, cách dùng chữ «ơi » trở thành
tế nhị vô cùng. Chữ “ơi” để đáp lại tiếng gọi phải được sử dụng thật
khéo léo và khi đem dùng làm “chữ đệm” (mot coussin) trong sự hô khởi
(apostrophe) cũng phải tránh nét châm biếm.
Nói tóm lại, cách
nói năng có lễ độ, vui vẻ, dịu dàng, cộng vào lối xưng hô đúng phép tắc
của người Việt Nam nên được xem là văn minh tiến bộ hơn lề lối “công
dung ngôn hạnh” của Nho giáo. Những gia đình trưởng giả, thượng lưu
muốn tỏ ra mình “nho phong cao cấp” hơn, thích đòi hỏi khi nói chuyện
phải “bẩm”, phải “trình” để làm tăng thêm sự trang trọng. Lề lối này dễ
“đẩy” con-người đến tinh thần phong kiến lạc hậu, phản dân chủ. Vậy tại
sao ta phải ngượng với cách ăn nói “dễ nghe” thuần túy Việt Nam, tuy
bình dân nhưng rất lễ độ ấy?
c- Cử chỉ, đứng ngồi, cách chào hỏicủa ta cũng dựa trên lề lối cung kính, khiêm tốn, hòa nhã. Sự nhường nhịn là căn bản của lòng trân trọng người khác nên rất cần thiết trong lễ phép của ta. Vì vậy :
“Ăn trông nồi” không phải là ý tứ
của người dân nghèo không đủ cơm ăn nhưng là phép tắc dành cho bậc
trưởng thượng trong gia đình đối với con cháu, kể cả những người “đầy
tớ”.
“Ngồi trông hướng” làm căn bản cho phép tắc “khuynh cái, hạ mã” của người nho sĩ – nhất là hạng hiển nho - biết cẩn trọng sự khiêm cung.
Lúc gặp nhau, để chào hỏi, người Việt Nam (cổ truyền) cất nón, cúi đầu, vái chào là đủ, chứ không vái lạy vì lạy để dành cho thánh thần và các bậc tiền nhân đã khuất. Cũng không phủ phục (nằm mọp xuống đất, trán chạm đất) như các quan chức chào Vua ( là người được giữ chức vị thiên tử )
Trong
sự kính trọng người khác, người Việt Nam có một phương châm rất “cao
cấp” phải áp dụng khi muốn tỏ ra đã “nghe” (hiểu ý = quí trọng) người
khác :
Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe.
Phương
châm này của ta dễ hiểu, dễ áp dụng vì chứa đựng lời răn dạy phải từ
tốn, chân chất (thưa thốt) và kính trọng lời nói, ý tứ của người khác (
dựa cột mà nghe ). Về sau nho giáo đem vào ngôn ngữ, văn chương câu
châm ngôn “tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã”
để nói, bàn về cách thức, ý nghĩa của sự “biết” – cũng để nói về “lễ” -
làm cho mọi người suy nghĩ lung tung, cãi cọ lộn xộn quá!
d- trang phục
phù hợp với lễ nghi : người Việt, từ ngàn xưa đã biết phân biệt cách ăn
mặc (trang phục) hợp thời, hợp cảnh nghĩa là nằm trong khuôn khổ lễ
phép.
Khi làm lụng, người nông dân, hạng thợ thuyền, nói chung
là người bình dân mặc áo ngắn (áo cánh, bà ba vạt ngắn) quần dài. Người
phụ nữ mặc áo dài tứ thân chít khăn, có yếm, mặc váy hoặc quần dài, ít
khi mặc áo cánh… Lúc hành lễ, khi đi thăm viếng ai, người Việt dùng
trang phục chỉnh tề : áo dài, đội khăn. Các quan chức mặc phẩm phục
hoặc triều phục để tăng lòng tôn kính. Trước công chúng, khi đón tiếp
khách, người Việt Nam đàn ông không cởi trần, áo thun ba lá, đàn bà
không áo quần xốc xếch, hở hang.
Trang phục chỉnh tề là phong cách của người biết tôn kính người-khác.
2- Đối với trời đất quỉ thần, người đã khuất:
Do tinh thần tôn thờ thần linh, người Việt rất cẩn trọng việc thờ cúng
thánh thần, tổ tiên. Làng nào cũng có ngôi đình làng trong ấy, ở chính
gian giữa, có thiết bàn thờ của vị “thành hoàng” đã có công xây dựng
lập làng, sáng lập nghề nghiệp cho dân làng. Nhiều làng có đặt thêm bàn
thờ các anh hùng, liệt nữ (nhân thần) nếu không có đền thờ riêng như :
Thánh Gióng (Phù Đổng thiên vương), Hai Bà (Trưng), Yết Kiêu, đức Thánh
Trần v.v…
Gia đình nào cũng có bàn thờ tổ tiên đặt chính giữa
nhà. Trên bàn thờ có bài vị hình ảnh những ngưòi thân quá cố. Mỗi năm,
đến ngày húy kỵ, con cháu ở khắp nơi cố gắng thu xếp công việc làm về
tụ tập ở nhà từ đường để làm lễ tưởng niệm công đức của ông bà tổ tiên .
a- Việc thờ cúng, tế lễ
phải được tổ chức nghiêm cẩn : tất cả con cháu đều phải đến trước bàn
thờ thắp nhang, vái lạy và trong buổi lễ, không được nói chuyện, đùa
giỡn ồn ào. Để giúp cho sự tưởng niệm, những món ăn thức uống được làm
(lại) để cúng phải là những thứ người đã khuất thích dùng chứ không
phải món của con cháu thích.
Đối với Trời, Vua phải tổ chức long
trọng Lễ Tế ở đàn Nam Giao tại Kinh Đô. Vua và quan, trước ngày lễ phải
tắm gội, trai giới để thân tâm được tinh tấn.
b- Các hội hè đình đám
là những cuộc vui chung được tổ chức nhân dịp tế lễ tưởng niệm công đức
của các vị thành hoàng hoặc anh hùng liệt nữ. Tục lệ cổ truyền Việt Nam
ghi nhận những ngày hội địa phương như :
- Kiếp Bạc (18 đến 20 tháng 8 ta) ở Chí Linh có hội đua thuyền, bơi trải.
- vật võ ở Liễu Đôi, ở Làng Sình ở Phú Vang (Thừa Thiên)
- chọi trâu (mồng 8 th áng 9 â.l.) ở Đồ Sơn (Hải Phòng)
- đu xuân (28 tháng Chạp) ở Thủy Nguyên
- đua thuyền (mồng 6 tháng Giêng) ở đảo Cát Bà (Vịnh Hạ Long)
- thả diều, thổi cơm được tổ chức ở nhiều nơi trong nước
vân vân
B- Lễ nghi
Tất
cả những tập tục, cung cách đều xây dựng trên nguyên lý ‘‘nhớ ơn Trời’’
và tinh thần “kính trên nhường dưới” nghĩa là để nhắc nhở ta phải tỏ
lòng kính trọng người khác, bắt đầu bằng ông-trời đến thần thánh, ông
bà tổ tiên và các bậc sinh thành. Ngày trước, các nho sĩ muốn áp đặt
phép tắc của mình học được của Tàu nên đem thể thức trong ‘‘Thọ Mai gia
lễ’’ vào việc quan, hôn, tang, tế của ta, làm cho lễ nghi rất rườm rà,
mang nặng tính cách phong kiến. Nhưng đại chúng Việt Nam chỉ giữ những
tập tục chính trong việc hành lễ mà thôi. Chung chung, người Việt Nam
chỉ chú trọng việc hành lễ nghiêm cẩn trong những dịp giỗ chạp.
1- Hành lễ : Hành lễ là cách thức liên hệ với thần linh. Cách thức hành lễ gồm cónhững giai đoạn chính :
- lên đèn, thắp nhang và cáo thỉnh : mời tổ tiên
- cúng: bày lễ vật, hoa quả, thực phẩm (được chọn với lòng tưởng nhớ chân thành)
- lễ: khấn, vái, lạy (một cách cung kính, cẩn trọng).
- cáo trình : lễ tất
2- Phân biệt trong cách hành lễ :
-
Gia trưởng (thông thường là trưởng nam) tổ chức lễ tưởng niệm (giỗ) tại
từ đường và làm chủ lễ. Gia trưởng làm lễ trước, tiếp theo, không phân
biệt nam hay nữ, mọi người đều phải lần lượt theo thứ bậc trong gia tộc
đến làm lễ trước bàn thờ tổ tiên.
- Thể thức lạy và vái: đối với
cha mẹ còn sống, người chết chưa chôn (2 lạy) - tổ tiên, người đã khuất
(4 lạy) - Phật (3 lạy, tượng trưng tam bảo Phật, Pháp, Tăng) – Trời
trong lễ Tơ Hồng, Vua của các triều thần, Tổ Hùng Vương (5 lạy, tượng
trưng Ngũ Hành)
Khi lạy xong, luôn luôn phải vái (chào) ba lần.
C- ẢNH HƯỞNG NGOẠI LAI:
Ngày
trước, theo kiểu nói vơ vào của mấy nhà văn học và sử học chịu thần
phục Nho giáo vì khiếp sợ Tàu thì nếu người Việt-mình trở thành văn
minh, đấy là nhờ công khai hóa của Tích Quang, Nhâm Diên, Sĩ Nhíếp v.v.
Rồi về sau này, cũng vì quen tôn vinh ngoại bang, ta lại nghe xác nhận
là nhờ có Đại Pháp đến khai hóa nên Việt-Nam-mình mới biết đến chữ
thiện, chữ nhân trong tinh thần Thiên Chúa. May mà Nhật chỉ ghé qua đất
nước Việt Nam thoáng qua vài năm thôi và Hoa Kỳ cũng chỉ tạt ngang qua
Miền Nam Việt Nam trong một hoàn cảnh chính trị ngắn ngủi thôi, chứ
không thì, văn minh Việt Nam cũng sẽ là con lai của Thần giáo
(shintoisme) và người Việt Nam cũng trở nên con cháu của Thái dương
Thần Nữ.
Điều đáng phiền lòng là người làm văn học Việt thường
mù quáng vọng ngoại, quen cúi đầu chấp nhận lời dạy dỗ của những “bề
trên đến cai trị” nên, về cái vần đề “lễ, tôn thờ trời” xưa cổ này của
ta, hết chấp nhận sự siêu đẳng của Nho giáo Tàu đến thần thánh hóa văn
minh Âu Mỹ, Nga và văn hóa Việt Nam bị các vị học giả ‘‘tiến bộ’’ ấy
xem như một mớ xà bần, đất cát vôi vữa hổ lốn, không cấu tạo được cái
gì gọi là đặc thù Việt Tính, văn hóa dân tộc cả !
Sự sai lầm
ấy sẽ kéo theo những sai lầm khác. Cái sai lầm lớn nhất là, nhân danh
tinh thần dân chủ, tiến bộ, chữ «lễ » bị đánh giá rất thấp :
1 - Tinh thần trọng lễ, vấn đề lễ nghi, lễ phép bị xoi mòn, hủy hoại :
‘‘Người
Việt xấu xí’’mắc một thứ bệnh trầm kha : tinh thần vọng ngoại. Bất cứ
thứ gì của nước ngoài đều được xem là tốt, là quí hơn những sản phẩm
địa phương, từ hoa quả đến vải vóc, lụa là, đồ sứ, đồ đồng…
Về
phương diện văn hóa văn minh, ngày xưa ‘‘các cụ’’ chỉ biết nấu sử sôi
kinh Tàu, chuyên tâm học hỏi tư tưởng Khổng Nho qua tứ thư, ngũ kinh
chứ không chú trọng đến lịch sử dân tộc, am tường cách tổ chức an sinh
xã hội. Cái siêu đẳng, cao cấp của văn hóa, văn minh Tàu là kim chỉ nam
trong tư duy của các cụ. Trong khi ấy, trên tinh thần tự chủ, độc lập,
các cụ không quan tâm đến việc chính thống hóa lịch sử, văn hóa của ta.
Trong khi ấy, chữ nôm là một phương tiện tuyệt diệu để việt-nam-hóa tư
duy thì bị các cụ đánh giá là “nôm na mách qué”!
Đến lượt các
nhà tân học cận kim và những người Việt có tây học của thế kỷ 20, tâm
lý “tôn vinh ngoại bang” ấy cũng không thay đổi bao nhiêu. Tuy tầm mắt
được mở rộng, nhìn xa hơn nhưng tinh thần vọng ngoại cũng không đem lại
cái gì thực sự bổ ích, hay hơn văn hóa của ta. Từ ngôn ngữ, trang phục
đến lễ phép, tập tục, văn mỹ nghệ, mọi thứ đều cố sức bắt chước “Tây”.
Mẫu mực hạnh phúc, được tóm gọn trong mệnh đề‘‘cơm Tàu, giường Tây, vợ
Nhật’’, nói lên sự thấp kém của lý tưởng sống của người Việt Nam thoát
ly khỏi sự áp chế của tinh thần phong kiến hủ nho. Không ai nhận xét là
cơm Tàu nhiều chất mỡ, nặng bụng, không ai than là giường tây (có lò
xo) sinh đau lưng, nhức mỏi, không ai hiểu rằng vợ Nhật dịu dàng, hiền
ngoan, xinh đẹp khi quì gối để mời khách dùng trà cũng không hơn gì vợ
Việt Nam đẹp vì rất kín đáo (ngày xưa) trang trọng (ngày nay) khi đón
tiếp khách đến nhà!
Đi vào vài chi tiết khác làm ví dụ về sự nghịch lý, bất ứng, chúng ta nhận thấy là :
- mọi người đều tưởng rằng cái ‘‘bắt tay’’ hay hơn lối cúi đầu, vái chào
-
mặc bộ đồ tây gồm có áo sơ-mi tay dài, áo vét (veste) vải dày, tốt, cổ
thắt cà-vạt, dù tạo nhiều bất ổn cho dân xứ nóng, cũng vẫn xem là bộ đồ
vía và trông nó sang trọng hơn bộ áo quần dài của ta.
- sự ăn
uống với bánh mì bơ sữa, bít tết rượu vang, cuộc sống tối sâm-banh sáng
sữa bò mới là cách dưỡng sinh tốt. Thật ra, đối với người dân xứ nóng
và đối với riêng dân Việt Nam vì không chuộng việc nuôi bò nên ít ăn
thịt bò và rượu-đế mới thích hợp với thịt heo.
- ngôn ngữ của ta
bỗng nhiên thành “ba rọi” vì sự diễn ý bằng tiếng Việt thuần túy, do áp
lực của ngôn ngữ ngoại quốc - có lẽ do tinh thần tôn vinh ngoại bang
nữa! - trở thành khó khăn, bất tiện ! Không ai nghĩ rằng sự khó khăn ấy
biểu hiện cho trình độ thấp kém về chữ nghĩa Việt Nam.
Còn nhiều
vấn đề khác nữa, không thể mổ xẻ hết và ngắn gọn được. Trước mắt và
không quá trễ, chúng ta phải suy nghiệm lại mọi mặt của vấn đề văn minh
văn hóa của ta để nghiệm xét đứng đắn giá trị của chữ “Lễ”.
2- Thói kiêu căng
(arrogance) là thái độ trí thức (comportement intellectuel) được xem là
tân tiến (progressiste). Do tinh thần duy lý mới học được qua văn minh
khoa học kỹ thuật Âu Tây, người Việt cận kim thường phạm một lỗi lầm
rất lớn khi nhận thức giá trị của sự vật và cuộc sống. Khoa học thực
nghiệm tiến rất nhanh về lãnh vực xét nghiệm bề mặt, phía ngoài của sự
vật nhưng còn rất non kém về địa hạt tâm linh, phần nội tại của nó,
nhất là của con-người. Mà địa hạt tâm linh mới thật là phần chính của
vấn đề ‘‘người’’. Tuy nhiên, phần đông những người có chút ít tân học,
tây học thích dựa trên số vốn liếng không mấy sâu rộng của họ vẫn huênh
hoang cao giọng chỉ trích mỉa mai văn hóa, văn minh Việt Nam mà họ chỉ
hiểu biết mang máng. Dựa vào tinh thần tiến bộ, những đầu óc «mới» ấy
thường có chung một phản ứng khi nói đến «lễ»: xác nhận gíá trị văn hóa Việt Nam là một thái độ trí thức lỗi thời, phản tiến bộ, phi dân chủ.
Đối
với «Lễ», đặc biệt về việc hành lễ, trong khi người trong cuộc thì lăng
xăng, nghiêm trọng, đám tân học tự xem là người ngoài cuộc, nếu không
chen chúc đứng xem để chế riễu thì bĩu môi cho rằng đấy là những chuyện
hoa hòe hoa sói (parade) tốn kém, vô bổ mà những ông ‘‘thầy cúng, thầy
tuồng’’ bày ra để tự tôn vinh giai cấp thống trị của mình. Thái độ trí
thức này phản ánh một tinh thần tiến bộ kiêu căng nông cạn, mù quáng,
không định hướng. Thái độ này là mầm mống của tinh thần vô thần, thích
báng bổ thánh thần, thích châm biếm tín ngưỡng. Thái độ này - bất tri
(nhưng) vi tri chi, lưỡi gỗ, lộng ngôn - đối nghịch với tinh thần
‘‘Lễ’’ của ta:
Biết thì thưa thốt
Không biết thì dựa cột mà nghe.
3- Căn bệnh thời đại chung
(le mal du siècle) : Bên cạnh thái độ trí thức tai hại nói trên, người
Việt cận kim còn mắc phải căn bệnh thời đại: tinh thần thích hưởng thụ,
chuộng vật chất.
Đời sống mới là cuộc chạy đua với thì giờ
(course contre la montre): con người của thời đại mới (hậu thế kỷ 19)
phải năng động, phải tất bật mới hòng chiếm nắm sự sung túc. Sống trong
vũng lầy của phong trào toàn-cầu-hóa, con-người-mới không thể sống bằng
triết lý «tri túc, tiện túc» để tinh thần được thoải mái, cuộc sống
được sung sướng an nhàn theo ‘‘kiểu xưa’’ nữa. Con-người-mới hiểu hạnh
phúc là tận hưởng cuộc đời. Cho nên sự hưởng thụ không nên bị giới hạn.
Cho nên con-người-mới biết sống là phải chấp nhận cả tứ đổ tường, biết
chấp nhận giá trị của sự vượt-giới-hạn, sự phi-đạo-đức. Chúng ta không
lấy gì làm lạ khi con-người-mới có quan niệm về chân thiện mỹ khác như
vậy thì họ bị kéo ra khỏi vấn đề tâm linh.
Nói như vậy để kết
luận nhanh chóng rằng giá trị của ‘‘Lễ’’ bị xoi mòn tận gốc rễ. Căn
bệnh này khó tìm thấy thuốc chữa vì không người bệnh nào muốn chữa cả!
IV- Kết luận
- Trong khi tôi viết những giòng chữ này, thiên hạ đang nô nức sắm sửa
Lễ Giáng Sinh. Một số hội đoàn cũng đang hoàn chỉnh việc tổ chức “ăn
tết”... cổ truyền. Cho nên tôi mời bạn đọc nghĩ đến ‘‘Lễ’’.
Cuộc
sống ở xứ người đã nhiêu khê lắm rồi mà con-người chỉ trông đợi những
dịp như hiện nay để hưởng cái vui. Thật vậy, chọn lựa được món quà vừa
ý (đẹp, tốt mà vừa túi tiền) cho con cháu là một niềm vui lớn. Tìm được
“một-ngày-để-ăn-tết-chung” là cất được một mối lo nghĩ không nhỏ. Vậy
cuộc vui phải được trọn vẹn. Và tôi không được quyền làm kẻ ‘‘phá
thối’’ (rabat-joie).
Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng chúng ta có thể
làm một cái gì đấy, nhỏ nhoi giản dị thôi để cuộc vui được trọn vẹn,
nghĩa là cuộc vui phải có một ý nghĩa. Nói rõ thêm là nếu lúc nâng ly
có thêm lời chúc nặng ân tình, nếu cuộc hành lễ nửa đêm hay giao thừa
được làm trong hân hoan phấn khởi để tính yêu trời, tình yêu người, yêu
đời được rõ nét thêm thì cuộc lễ sẽ in dấu đậm đà trong tâm hồn của
chúng ta.
“Làm một cái gì đấy” là để bảo vệ giá trị của ‘‘lễ’’
nghĩa là đừng để cho ‘‘lễ’’ bị suy thoái rồi bị tiêu hủy luôn. Đến lúc
ấy thì chúng ta sẽ là cái gì?
Nhà văn Thụy-điển Albert ENGSTROM, trong tập biên khảo về “Lễ phép”, nhận định rằng “Cũng như đối với mọi giá trị, khi lễ phép bị suy thoái, con người phải lo bồi dưỡng nó lại”.
Sự
suy thoái mà Engstrom nói cũng là mối lo của Marcel PROUST khi nhận
thấy trong các xã hội “dân chủ bình đẳng”, lễ phép bị triệt tiêu như
một loại tín dụng (fiduciaire).
Thật vậy! Chúng ta phải hiểu
rằng : trong khi lễ-phép - cũng giống như sự thẩm vị - là nét đặc thù
của một nền văn minh, thì, nếu chúng ta để mặc cho tinh thần bình đẳng
dân chủ gọi là tiến bộ làm cho lễ-phép càng lúc càng suy thoái, lòng
tôn kính kẻ-khác sẽ bị tiết giảm rất nhiều, sự tôn kính kẻ-khác sẽ bị
xem là vô ích hoặc bị tiếp tục đánh giá là “lỗi thời”. Khi chữ “lễ” bị
coi thường, khi lễ phép bị tiêu hủy thì trật tự xã hội bị xáo trộn, đạo
nghĩa làm người cũng sẽ bị hủy hoại theo. Những hành động vô kỷ luật ở
học đường, những cuộc bạo động thường bùng nổ dữ dội không phải do lòng
bất mãn mà có. Thật ra đấy là hậu quả của nền giáo dục phi đạo lý, bỏ
quên giá trị của ‘‘lễ’’. Khi con-người không còn biết tôn quí người
khác thì nó chỉ là một con thú dữ chỉ thích sống theo bản năng chiếm
đoạt cướp giật.
Vậy, ý nghĩa Lễ Giáng Sinh là gì? Tại sao
người thiên chúa giáo xem hiện tượng “Chúa Sinh ra đời’’ là một điềm
lành cho nhân loại? Tại sao chúng ta chờ đến đúng lúc 12 giờ khuya để
hôn nhau, chúc mừng năm mới?
Vậy, ý nghĩa của Tết Nguyên Đán
là gì? Tại sao người Á Đông xem Tết là một ngày hội lớn, trọng đại nhất
trong năm? Tại sao chúng ta long trọng làm lễ Giao Thừa?
Tôi chỉ
dùng hai cuộc ‘‘LỄ’’ của Đông và Tây có rất nhiều ý nghĩa ấy để thức
tỉnh tinh thần ‘‘tôn kính Trời” trong chúng ta. Chúa-Trời đến với nhân
loại, tìm cách cứu rỗi con-người bằng tình thương. Chúng ta phải tôn
kính, thương yêu Trời. Lễ Giao Thừa được tổ chức vào lúc huyền lực vũ
trụ chuyển hóa giữa Đất và Trời để sự sống được chuyển tiếp luân lưu
mãi mãi. Chúng ta phải biết ơn Trời, tôn kính, thương yêu Trời.
Để biểu lộ tình cảm ấy, chúng ta phải làm một cái gì.
Hằng năm, vào dịp Giáng Sinh và Tết Nguyên Đán, tôi cầu xin
- các bạn đọc những giòng chữ này, riêng các bạn không thiết lập bàn thờ trong nhà
- các bạn thường ngại đi nhà thờ và đi chùa, kể cả vào dịp Thánh Lễ Nửa–Đêm và Giao Thừa,
- các bạn không quen khấn nguyện, cúng vái
hãy tỏ lòng cám ơn Trời đã cho chúng ta “làm-người” và nhớ phải tôn kính Trời.
Bắt
đầu bằng Lễ Nửa Đêm, Lễ Giao Thừa năm nay, các bạn hãy thắp vài cây
nhang (không có cũng được), ra đứng giữa Trời, chắp hai tay, ngửa mặt
nhìn Trời và khấn hứa với Trời : sẽ luôn luôn, mãi mãi tôn thờ Tình Thương Yêu nhau. Sau đó, các bạn hãy vái lạy năm lần.
Mong các bạn sẽ thấy lòng mình lâng lâng sung sướng. Tôi xin được chung vui với các bạn.
Thành phố Mỹ Lệ, ngày Đại Tuyết năm Ất Dậu
07 tháng 12 năm 2005
Mạnh Bích