Viết tặng những người đẹp của Phan Thành, đã được mang tên các loài hoa trân quý.
Từ
khi sống đời phiêu bạt, năm nào cũng vậy, hễ gần tới những ngày cuối
năm thì lòng ta lại bâng khuâng lo lắng nhưng không biết là mình đã lo
lắng bâng khuâng điều gì, vì Tết Dương lịch nơi xứ người cũng đã qua
trong lặng lẽ buồn rầu, còn xuân quê mình thì nghìn trùng xa cách. Vui
buồn, mong đợi hay mơ ước, tất cả cũng chỉ còn là kỷ niệm của một thời
xa xưa thân ái, với những cái tết thật êm đềm, dù đất nước lúc đó đang
hồi lửa loạn. Nhưng mặc kệ, mọi người vẫn bận rộn lo sắm tết, khi mùa
đông sắp tàn, nhường chỗ cho nàng xuân kiều diễm nõn nường, đang lồ lộ
bước vào ngưỡng cửa đời.
Ôi giấc mơ xưa, chưa chi đã dẫn ta về
thôn xóm cũ, những ngày xuân tết vẹn vầy, những niềm vui thơ dại, trên
từng trang lưu bút của một thời tuổi trẻ đã phai tàn, nay không biết có
ai còn nhớ hay không? Bao chục năm qua rồi, những ngày sắp tết lại
buồn, nhất là lúc đứng nhìn mưa phùn, nhỏ những giọt trắng, trên từng
cánh cúc vàng nơi thềm gió.
Ở Phan Thiết quê tôi, năm nào gần
tết thường không có mưa. Nhưng nếu trời trở chứng, trút nhẹ một vài cơn
mưa rào, thì đã thấy xuân như đang bắt đầu chúm chím trên từng giậu
hoa, ngọn cỏ. Đường phố bỗng dưng được nước mưa lau chùi sạch sẽ và hữu
tình nhất vẫn là nụ cười của người Phan Thiết, không còn thấy héo hắt,
muộn phiền. Những hàng vông, gốc phượng, những chiếc lá me non cũng phe
phẩy, mừng rỡ.
Tất cả như cùng xuân mở hội.
Trong nhà
rộn rịp, ngoài ngõ cũng lao xao, nhất là tại các lò bánh tráng ở Phú
Hài, Xóm Lụa, Tâa An, Duồng, Phan Rí Thành và ngay trong thị xã, hoạt
động suốt ngày đêm, vẫn không đủ để cung ứng cho mọi người, vì nhà nào
cũng đều cần để cúng và cuộn với măng kho thịt heo và bánh tét trong ba
ngày xuân.
Tết Phan Thiết vui từ những ngày cuối chạp, mà chủ
đích là rủ nhau đi chợ để mua sắm và ngắm người. Bắt đầu từ ngày 25
tháng chạp, chợ trái cây và hoa đã được hình thành trên hai con đường
Nguyễn Văn Thành và Lê Văn Duyệt, cạnh vườn hoa nhỏ, bên hữu ngạn Mường
Giang. Giáp tết, hoa từ các nơi được đổ về thành phố vô số kể, làm như
người Phan Thiết, chỉ biết ăn tết bằng hoa, mặc sức mà lựa chọn.
Thôi
thì đủ thứ, từ các loại hoa bình dân như mồng gà, vạn thọ, trường sanh,
cúc, thược dược..cho tới các loài hoa vương giả nổi tiếng của Bình
Thuận, là hoa Mai với màu vàng phớt, có năm cánh mỏng mướt như lụa, lúc
nào cũng nhè nhẹ muốn chực cười trước gió xuân. Đây là người bạn lâu
đời của Phan Thiết, vì vậy mỗi độ xuân về, hầu như nhà nào cũng có một
cành mai, dù mua ở chợ hay lặn lội tới rừng xa, núi cao, để chặt.
Hoa
bán thật nhiều, có năm thiếu người thưởng thức, nên vào chiều ba mươi
tết, nhiều loại hoa ế ẵm, đã bị chủ vất bỏ, nằm phơi lạnh lùng bên vệ
đường, mặc cho hoa tàn cánh rũ. Thật thảm thay cho kiếp hoa tàn.
Tại
Hà Nội, hằng năm sau ngày cúng đưa Táo quân về trời, bắt đầu từ sáng 24
kéo dài tới chiều ba mươi, suốt một tuần lễ có phiên chợ Hoa đặc biệt ở
Phố Hàng Lược, chỉ bán các loại hoa, cây cảnh, đặc biệt là Hoa Đào và
Quất, rất được nhiều người ưa thích vì lâu tàn, có thể chơi suốt tháng
giêng mới đem bỏ.
Chợ Hoa ở Hàng Lược còn là trung tâm cung
cấp hoa cho các chợ Đồng Xuân, Cửa Nam, Mơ, Hôm, Hàng Da và nhiều hè
phố khắp Hà Nội. Đây là chốn ngàn năm văn vật của Đại Việt, nên từ xưa
kinh thành Thăng Long đã là xứ ngàn hoa đua nở, từ Hồ Tây, Nghi Tầm,
Võng Thị, Trích Sài..kéo dài tới Làng Yên Hoa trên đê Yên Phụ, Quảng
Bá, Ngọc Hà, Nhật Tân..Tất cả làm cho Hà Nội thành xứ ngàn hoa, từng
được thi nhân bao đời gọi là rừng mơ với nhiều loại hoa mai, hoa đào
trân quý.
Sài Gòn những ngày gần tết, đi đâu cũng thấy toàn là
hoa, làm cho mùa xuân thêm muôn màu nghìn dáng, với đủ loài hoa từ Đà
Lạt, Phương Lâm, Sa Đét, Gò Vấp, Thủ Đức, Phú Thọ đưa vào. Những ngày
nay, đi đâu cũng thấy Sài Thành thật là thơ mộng, qua hình ảnh của
những chiếc thổ mộ lăn bánh cóc cách gõ nhịp khắp đường phố, xe nào
cũng chất đầy hoa như đang chở cả mùa xuân từ muôn phương đem về dâng
hiến làm vui cho Sài Gòn.
Tóm lại, theo tập quán của tổ tiên
truyền lại, thì vui xuân đón tết, ngoài việc bầy cỗ bàn cúng kính tiền
nhân. Ngoài ra hầu như nhà nào, dù giàu hay nghèo, cũng không thể thiếu
các món trà, rượu, pháo và nhất là các loại hoa đào (miền Bắc), mai
(miền Trung và Nam), đồng thời còn thưởng thức thêm các loại hoa cúc,
hồng, vạn thọ, trường sanh, mồng gà..Riêng các cụ xưa có phần kiểu cách
hơn , nên luôn trong nhà lúc nào cũng có sẵn một chậu Lan, Cúc hay Mai
tứ thời. Nhưng dù các loài hoa có khoe trăm hương, ngàn sắc , thì những
ngày Tết Nguyên Đán tại VN, đào và mai cũng vẫn là hai loài hoa trân
quý, được mọi người ái mộ nhất.
1- MỖI NĂM HOA ĐÀO NỞ:
Ngày
Tết chơi hoa đào, hầu như chỉ thịnh hành trên đất Bắc. Riêng các tỉnh
từ nam vỹ tuyến 17 vào tới mũi Cà Mâu, nhà nhà dùng Mai thay Hoa Đào
trong ba ngày xuân, dù Đà Lạt được mệnh danh là xứ hoa đào. Mai và Đào
đều là hai loài hoa tinh khiết, quý hiếm trong muôn loài, tượng trưng
cho sức sống kỳ diệu của hoa giữa trời xuân, lại có hương thơm nhẹ
nhàng thanh thoát, hợp với không khí đầm ấm hạnh phúc của người đang
rạo rực vui xuân.
Thú chơi Đào ngày tết đã có từ lâu rồi. Tổ
tiên ta thuở bình minh dựng nước trên đất Bắc, khi chọn hoa đào để làm
thú tiêu khiển trong ba ngày tết, chắc hẳn đã nghĩ tới màu đỏ thắm rực
rỡ của đào, giống như viễn ảnh của một năm mới sắp tới, cũng trong sáng
đẹp đẽ như màu hoa. Hơn nữa theo quan niệm của Á Đông, màu đỏ luôn
tượng trưng cho niềm hy vọng của con người.
Ngoài ra theo
truyền thuyết, ngoài hoa sắc nõn nường, hoa đào còn được coi như là vật
trấn yêu, trừ ma quỹ. Diễn tích trên được rút từ truyện hai vị thần Uất
Lũy và Trần Trà ở núi Độ Sơn, cai quản một đám âm binh, quỷ sứ. Để trị
bọn chúng, hai thần đã dùng cành đào như một thứ vũ khí đặc biệt. Do
trên, người VN nhất là ở miền Bắc,qua ảnh hưởng của Trung Hoa, đều tin
rằng chơi hoa đào trong ba ngày tết, ma quỷ sẽ không dám vào nhà để
lộng hành phá phách, làm hại mọi người.
Tại Hà Nội, vào những
ngày Tết có bán hai loại hoa đào, đó là Hồng đào và Bích đào. Đây là
loại hoa kiểng có màu đỏ thắm rất đẹp, không có quả. Thứ hoa này có thể
sống được vài ngày. Xưa nay với những người Việt di cư từ miền Bắc vào
Nam năm 1954, thì mỗi lần Tết đến có trăm nhớ nghìn thương, chứ đâu
phải chỉ có hoa đào, cây nêu và câu đối đỏ, như một nhà thơ nào đó đã
viết:
'Em ở mình đây trời nắng lắm
Sài Gòn không biết có xuân sang
Xuân này xứ Bắc ra sao nhỉ
đào có hây hây, cúc có vàng
câu đối có còn ôm đỏ cột
nêu dài tiếng khách có khua vang?
Nói
như người Hà Nội thì mùa xuân là mùa hoa, tựa như con người trên đường
đi tìm hạnh phúc cho chính mình, biết gìn giữ hay thưởng thức, nói
chung phải có người biết chơi hoa, yêu hoa, trân quý nâng niu thì hoa
mới có ý nghĩa với đời. Bởi vậy đã có không biết bao văn nhân tài tử
đất Bắc, hàng năm không thèm ghé vào chợ Hoa Tết Hàng Lược trước mắt,
mà phải lặn lội trong mưa phùn gió bấc lạnh lẽo khổ sở, tìm tới các
rừng Mơ ở tận Nhật Tân, Quảng Bá, Nghi Tàm, Từ Liêm..với mục đích chỉ
tìm cho bằng được một hồn hoa còn trinh bạch, đang thẹn thùng e lệ núp
lén đâu đó trong cảnh mưa gió phủ phàng. Đâu đâu cũng ngổn ngang những
nhánh Chi Mai, một góc Trà Thâm, nhiều giỏ Đại Đóa đang chen vai khoe
sắc bên cạnh các chậu Mộc Lan..tuy nhiên tất cả đềukhông phải là những
thứ người nghệ sĩ đang tìm kiếm, mà là Hoa Đào.
Đây chính là
loài hoa được Thôi Hộ, Ôn Như Hầu, Nguyễn Du ..từng nhắc nhớ, loài hoa
Hồ Ly Tinh trải qua bao thế kỷ, đã ru hồn các nghệ sĩ, khiến cho họ
phải từng canh bâng khuâng, xao xuyến, mộng mị trong mong chờ. Vì vậy
dù Tết đã qua, hoa đã thành 'khứ niên' nhưng linh hồn của nó vẫn như
đọng lại nơi tâm khảm của khách yêu hoa, khác nào nổi ngất ngư của mối
tình đầu mà ta đã trải qua trong đời với người yêu dấu ái.
Bao
đời Hà Nội ngày xuân tươi thấm qua màu đỏ chói của Bóch Đào, Mộng Tự
lẫn Đào Thăng Long. Ngoài ra còn loại Bạch Đào cực hiếm khó có được,
nên trong phút giao thừa đêm cuối chạp, thường làm cho người yêu hoa
phải ngẩn ngơ thao thức, đứng với hoa trong ánh bạch lạp chập chờn trên
bàn thờ, mà tưởng như hồn đã hóa thành đá, giữa cõi mênh mang trống
vọng biển đời, thực ảo, hơn thua, biết đâu mà mộng mị.
Nhưng nhắc tới hoa Đào, ta không thể không nhớ tới Vũ Đình Liên với thi phẩm tuyệt tác ' Ông đồ già':
Mỗi năm hoa đào nở
lại thấy ông đồ già
bày mực Tàu giấy đỏ
bên phố đông người qua
năm nay đào lại nở
không thấy ông đồ xưa
Hỡi
ơi mỗi năm mỗi tuổi như đuổi xuân đi, bạn bè người thân may mắn còn
sống sót sau cuộc chiến, nào Nhật Trường, Huyền Vũ, Hồ Tài, Trần Tác,
Phùng Thế Xương, kể cả Võ Thị Thanh Tâm, tuổi đời mộng mơ đang chớm,
cũng đã trở thành người tram năm củ, dù Tết nào hoa Đào cũng vẫn nở, mà
bóng người xưa đã khuất nẻo mây ngàn. Tóm lại, Hoa Đào ngoài công dụng
làm vật trang trí cho người tiêu khiển, cũng đã đi vào kho tàng văn
chương, tục ngữ của nhiều dân tộc. Trong 'Cung oán ngâm khúc', Ôn Như
Hầu đã viết :
'Áng đào kiểm đâm hoa não chúng
khóc thu ba dợn sóng khuynh thành'
Qua
hai câu thơ trên, tác giả đã mượn màu sắc tươi thắm, nõn nường của hoa
đào, để diễn tả nhan sắc chim sa, cá lặn của những người đàn bà đẹp.
Nhưng tình là gì, nếu không phải là những uẩn khúc thương tâm và càng
xa xót đối với người đẹp. Bởi vậy thi nhân đã hạ bút viết thêm 'Mà xui
phận bạc nằm trong má đào'.
Má đào cũng được dùng để chỉ người
đẹp. Danh từ trên được rút từ điển tích Thôi Hộ đời nhà Đường, nhân
tiết Thanh Minh ngoạn cảnh, đi lạc vào một vườn hoa đào. Sau đó đã gặp
và yêu một người con gái đep tên Đào Phụng Trinh. Cả hai đã gắn bó, thề
hẹn và chàng hứa sẽ trở lại thăm nàng. Năm sau, Thôi Hộ lại đếnvườn đào
nhân buổi đầu xuân, nên khắp nơi hoa đào rực rỡ khoe hương sắc đầy
trời. Nhưng cảnh cũ còn đây, hoa đào còn đó, mà bóng người xưa đã biền
biệt phương trời. Não lòng, Thôi Hộ đặt bút viết một bài thơ tứ tuyệt,
dán nơi cửa vườn hoa năm ngoái, mà hai người đã gặp gỡ:
'Khứ niên kim nhật thử môn trung
nhân diện đào hoa tương ánh hồng
nhân diện bất tri hà xứ khứ
đào hoa y cựu tiếu đông phong'
Năm
sau nữa cũng độ xuân về, lòng thương nhớ không nguôi, Thôi Hội lại lần
mò đến vườn xưa, chợt nghe tiếng khóc than thảm thiết, hỏi ra mới biết,
đó là tiếng khóc của cha Đào Phụng Trinh. Nàng vì thất tình nên mang
bệnh trầm kha,trong cơn hấp hối, sau khi được đọc qua bài thơ tỏ tình
của Thôi Hộ. Cảm xúc trước cảnh đau lòng, nên chàng mong được gặp Đào
Phụng Trinh lần cuối. Nhờ vậy nàng đã sống lại khi nghe tiếng chàng gọi
mình, thế là hai người đẹp duyên cầm sắc, giữa vườn đào đang nở rộ đón
xuân sang. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du tiên sinh cũng đã viết:
'Trước sân nào thấy bóng người,
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông'
Tóm
lại danh từ 'má đào' dùng để chỉ những người đàn bà đẹp. Ngoài ra 'hoa
đào' còn tượng trưng cho tuổi thanh xuân, của các cô gái sắp về nhà
chồng, như Kinh thi đã viết:
'Đào chi yên yên
thước thước kỳ hoa
chi tử vu quy
nghi kỳ thất gia'
Ý nói 'mơn mởn đào non, rực rỡ màu hoa, cô đi lấy chồng, hạnh phúc trăm năm'.
2- MAI VÀNG:
Tự
ngàn xưa, Mai đã được xếp vào loại hoa quý nhất trong ngàn hoa. Trong
nhiều bức tranh cổ còn lưu truyền như tranh Tứ Bình, vẽ bốn loại hoa
cực quý là Mai, Lan, Cúc, Trúc. Ngoài ra còn có tranh tứ thời, cũng vẽ
bốn loại hoa cảnh nổi tiếng là Tùng, Cúc, Trúc, Mai hay Lan, Sen, Cúc,
Mai. Tóm lại dù con người qua các thời đại có thay đổi quan niệm thưởng
ngoạn thế nào chăng nữa, thì ta vẫn thấy có sự hiện diện của hoa Mai:
'Đua chen thu cúc, xuân đào
lựu phun lửa hạ, mai chào gió đông'
(Bích Câu kỳ ngộ )
Tại
VNCH trước ngày 30-4-1975 có rất nhiều hoa Mai nhưng nhiều nhất là hai
tỉnh Quảng Nam và Bình Thuận. Ở thủ đô Sài Gòn vào những ngày sắp tết,
Mai từ các tỉnh miền Trung như Đà Lạt, Phương Lâm (Lâm Đồng) hay Nam
Phần tại Sa Đéc, đổ vào hàng trăm loại hoa. Giữa muôn hồng ngàn tía,
khoe hương sắc rực rỡ nhưng thiên hạ vẫn nườm nượp ùa tới những gian
hàng bán Hoa Mai, để tha hồ nhìn ngắm, lựa chọn những cành mai vàng năm
cánh mỏng như lụa, đang rung rung nhè nhẹ trước cơn gió thoảng.
Đây
là người bạn lâu đời nhất của Miền Nam, quanh năm sống heo hút trong
rừng sâu, núi cao, chỉ những ngay sắp Tết mới hiện diện vui xuân với
mọi nhà. Ngày nay theo thời thượng, nên nhân sinh đã tạo ra rất nhiều
loại mai mới, có giống tới mười cánh, hai mươi cánh với các màu sắc loè
loệt trắng, vàng hay ghép đũ màu sặc sỡ lố bịch. Đây là sản phẩm tự chế
của xã nghĩa thiên đàng, quen xét đời qua giá trị của sản phẩm vật chất
mà không cần biết tới cỏi hồn tinh khiết bên trong, dù đó là hồn nước,
hồn người hay hồn hoa thắm đượm.
Mai có thân hình khẳng khiu
nhưng cứng rắn mà vẫn ẻo lã duyên dáng, còn cánh hoa thì màu sắc thắm
tươi, mỏng manh cho đến khi lìa cành mà màu sắc vẫn không thay đổi.
Mai
được xếp đầu trong muôn hoa, nở rộ trong những ngày đầu xuân 'tiên
hưởng bạch hoa đầu thượng khai'. Mai cũng là đề tài muôn thuở, làm mê
say đắm lụy tâm hồn văn thi sĩ, họa sĩ, nghệ nhân bao đời. Nhờ vậy đã
lưu truyền cho hậu thế nhiều tác phẩm nghệ thuật, nói về Mai rất đặc
sắc và trữ tình. Có điều tuy cùng ngâm vịnh hoa Mai nhưng âm hưởng đã
hoàn toàn khác biệt giữa giống Mai mà các văn nghệ sĩ VN ngâm vinh và
loài Mai Trúc trong nghệ thuật hội hoa, điêu khắc và ca tụng trong nền
văn học Trung Hoa
* HOA MAI TRONG VĂN CHƯƠNG CỔ ĐIỂN:
Loài
Mai này hoàn toan khác biệt với giống Mai vàng đã có từ lâu đời tại
Miền Nam VN. Giống Mai này có tên khoa học là Prunus Mume, thuộc họ Hoa
Hồng (Rosaleal). Mai này tương cận với cây Mơ, có tên khoa học Prunus
Armeniaca Lin, cũng như cây Đào (Prunus Persica Stokes). Mai này có hoa
năm cánh, màu trắng, hồng hay đỏ thắm, mùi thơm. Quả Mai lúc sống màu
xanh và biến thành màu vàng khi chín. Người Trung Hoa miền Quý Châu ,
đem sấy khô thành quả Ô Mai hay Ô Môi và đem bán ở các thị thành VN mà
chúng ta gọi trại là Xí Muội. Những chữ Mai trúc trong văn chương cổ
điển Trung Hoa, chính là loại Mai này.
* MAI VÀNG TẠI MIỀN NAM VN:
Giống
Mai này có tên khoa học là Dohna Harman, thuộc ho Hoàng Mai (Ochnaceae
). Mai vàng không thơm, quả chỉ nhỏ bằng hạt đậu, khi còn tươi có màu
xanh và biến thành màu đen lúc cây chết., không ăn được. Ngoài ra còn
có một giống Mai thuộc họ Tre, thân dài thẳng đứng, vỏ cây rất dày có
nhiều đốt, lá to. Loại Mai này được đốn với tre đem về làm nhà, ống
đựng nước uống, nó hoàn toàn khác biệt với hai loài hoa Mai trên..
'Miệng ăn măng trúc, măng mai
những tre cùng nưa lấy ai bạn cùng'
(Phong dao VN)
Nhưng
cho dù thuộc giống Mai nào chăng nữa, thì Mai vẫn là một loài thực vật
có thể chịu đựng được tuyết giá đông hàn, luôn ngạo nghễ nở hoa, để
chào đón chúa xuân, trong phút giây giao thời. Chính cái bản sắc cuồng
ngạo đó, đã lôi cuốn nhân sinh vào cuộc chơi.
Đó cũng vì Mai
chính là hiện thân của hàng Kẽ Sĩ, Trượng phu, anh hùng mã thượng, chịu
đựng tất cả dâu biển của cuộc đời, kể cả phong ba bão táp, để đạt cho
được mục đích cuối cùng 'lợi dân, ích nước, làm đẹp cho người'.Và cũng
chỉ có Mai mới đủ thực chất để đại diện cho lớp người chọc trời khuyấ
nước, coi thường danh lợi phú quý như phù vân, xem vua quan thối nát
thua loài cỏ rác, coi bọn khoa bảng trí thức xu thời, bợ thế, dua mị,
nhắm mắt chạy theo lợi nhuận, chẳng khác nào sâu bọ., cầm thú đội lớp
người. Điển hình nhất trong lớp người, có Chu Thần Cao Bá Quát, ông đã
viết:
'Thập tái luận giao cần cổ kiếm
nhất sinh đề thủ bái mai hoa'
Như
Đào, hoa Mai cũng được các thi nhân vay mượn, dùng làm đề tài , để diễn
tả nét đài trang, thanh nhã của những người đàn bà đẹp trong đời, qua
các thời đại, như Nguyễn Du tiên sinh đã viết trong 'Đoạn Trường Tân
Thanh':Mai cốt cách, tuyết tinh thần
một người một vẻ, mười phân vẹn mười.
Yêu
quí mai, trân trọng mai tới độ bái phục mà các văn thi nhân còn chưa
thấy là đủ, nên cuối cùng đã chọn mai làm người bạn tri kỷ, để ra vào
cùng đối ẩm, cận kề:
'nghêu ngao vui thú yên hà,
mai là bạn cũ, hạc là người quen'
*TAO NHÂN MẶC KHÁCH VƠI MAI:
Chơi
xuân mỗi người một cách nên hầu như không giống ai cả, nhất là đối với
hàng tao nhân mặc khách. Đối với hạng bình dân chất phác, khi lựa chọn
một cành mai để vui ba ngày tết, thì chỉ cần có nhiều hoa nở, đúng vào
lúc giao thừa. Sau đó hoa vẫn tiếp tục nở rộ trong ba ngày xuân, thế là
đủ rồi, vì đối với họ, đó là niềm vui cũng như sự may mắn. Nhưng với
lớp người trưởng giả, thì khi chọn mai để thưởng thức phải là giống to,
cao, hoa lá xum xê, để chủ nhà biểu lộ với hàng xóm láng giềng, về sự
giàu sang sung túc của mình..
Tuy nhiên đối với hàng tao nhân
mặc khách, nhất là giới nghệ sỷ, thì mai không phải là loài vô tri, mà
là một sinh vật có linh hồn, chẳng thế mà thiên hạ đã cùng đồng tâm
chấp nhận 'Mai là hoàng hậu của muôn hoa' .
Ái mộ, nưng niu,
chiều chuộng nên thi nhân bao đời đã nhân cách hóa và đặt tên cho Mai
nhiều mỹ danh vô cùng diễm le. Do đó với loài Mai có màu trắng như ngọc
tuyết tinh khôi, thì gọi là Bạch Mai, Chi Mai hay Mai Ngự Sử. Với loài
Mai có màu xanh, thì được đặt tên là Mai Thanh Đài.
Còn Mai có
màu vàng thì gọi là Hoàng Mai hay Lạp Mai, vì loại mai này chỉ nở vào
những ngày cuối đông mà thôi. Ngoài ra còn nhiều loại Mai khác như Hồng
Mai (màu đỏ), Mai Thanh Đài Lục Ngạc (Hoa mai có 6 cánh đan chéo vào
nhau như sừng nai, màu xanh), Mai Chuỗi (màu tóm có hoa và trái kết
thành chuỗi), Mai Chiếu Thủy (màu trắng, cánh nhỏ, thường rũ nghiêng
xuống mặt nước), đầy là loại mai quý hiếm. Cuối cùng là Mai tứ Thời có
hoa suốt năm, bốn mùa.
Hiện không có tài liệu nào xác nhận thời
gian đầu tiên loài Mai xuất hiện trên trái đất. Nhưng cái tên Mai lại
được giải thích rằng: có một loài hoa rất gai gốc chịu đựng cảnh băng
giá mưa đông, để kịp nở hoa vào buổi giao thời, giữa năm cũ và năm mới.
Hoa có năm cánh , kết thành một vòng tròn, biểu tượng ánh thái dương
đang tỏa nắng ấm tới nhân gian vào buổi sớm đầu xuân. Với các đặc tính
đó, loài hoa này mới được gọi là Hoa Mai. Ngoài ra liên quan tới giống
hoa này, xưa nay đã có rất nhiều điển tích liên hệ như:
+ TRÚC
MAI: Vì bán mình để có tiền chuộc mạng cho cha mẹ, nên Thuý Kiều phải
theo gã Mã Giám Sinh về Lâm Tri. Đêm đó một mình nàng ôm mặt khóc với
bóng đèn khuya, nhớ đến người tình đang ngoài muôn dặm là Kim Trọng, mà
đứt ruột nát hồn. Để diễn tả hoàn cảnh bi thiết đó, Nguyễn Du tiên sinh
đã mượn điển tích 'Trúc Mai' và viết:
'Tái Sinh chưa dứt hương thề
làm thân trâu ngựa đền bù Trúc Mai'
Trúc-Mai
là hai loại cây vẫn xanh tốt trong mùa đông băng giá. Đặc tính của hai
loại cây này là 'Trúc bất chỉ thiên, Mai bất chỉ địa', đó là một sự hòa
hợp âm dương rất tuyệt diệu. Ngoài ra rheo sách 'Lưỡng bạn thư vũ tùy
bút' có viết câu chuyện Trúc Mai như sau: Vào mùa đông, các tao nhân
mặc khách thường tới Đầm Long Môn tại tỉnh Quảng Đông để thưởng ngoạn,
vì tại đây có rừng Trúc-Mai vẫn tươi tốt trong cảnh tuyết băng giá buốt
lạnh lẽo. Tại đây, có hai giai nhân tài tử tên Hoàng Kỳ Mai và Lam Bá
Trúc được dịp quen biết rồi yêu nhau tha thiết. Nhưng rồi cũng phải
chia tay, trước giờ phân kỳ Lam Bá Trúc đã bẻ một cành Mai còn Hoàng Kỳ
Mai thì dùng một nhánh trúc, để làm kỷ vật trao đổi, thệ nguyện nên
cuối cùng đã toại nguyện. Từ đó để nói tới tình yêu trai gái, vợ chồng,
người đời sau hay lấy điển tích 'Trúc Mai ' để diễn tả.
+ NHẤT
CHI MAI: Điển tích này được trích từ tập 'Kiến Văn Tiểu Lục' của Lê Quý
Đôn, nói về đời tư của Hồ Quý Ly. Theo sách cho biết tổ phụ ông là
người Tàu, vì loạn lạc nên mới di cư sang Đại Việt. Lớn lên đi tìm công
danh, nên Quý Ly đã bỏ làng quê tới kinh đô Thăng Long.
Trên
đường vô tình ông lượm được một quyển sách tên 'Quảng Hàn Cung Lý Nhất
Chi Mai' nên mở mang được nhiều kiến thức chính trị quân sự. Về sau Ông
được vua Trần Nghệ Tông trọng dụng, nên thăng quan tiến chức rất nhanh.
Một hôm nhân các triều thần hội họp trong cung vua, Nghệ Tôn mới chỉ
vào rừng quế, quanh điện Thiên Thủ, ra một câu đối:
'Thanh thủ điện tiền thiên phụ quốc'
Trong
lúc các quan chưa kịp ứng đối, thì Quý Ly chợt nhớ tới nhan đề của cuốn
sách mà trước đây mình đã vô tình lượm được, nên đối ngay:
'Quảng Hàn cung lý Nhất Chi Mai'
Nhà
vua cho đó là duyên kỳ ngộ, nên đã đem công chúa gả cho Quý Ly. Từ đó
họ Hồ mới có cơ hội xây dựng thế lực và vây cánh, cướp ngôi nhà Trần
sau khi Thượng Hoàng Nghệ Tông mất.
+ MAI TRƯỜNG AN: Còn có
tên là Mai Tứ Quý là giống Mai nở hoa bốn mùa. Điển tích 'Mai Trường
An' được rút ra từ câu chuyện nàng Tây Thi, cô gái nước Việt, đã giúp
cho Vua Việt Câu Tiễn, đánh bại Ngô Phù Sai, rửa nhục và thu hồi lại
đất nước đã mất. Điển tích trên, đồng thời cũng nhắc tới câu chuyện
nàng Dương Thái Chân, tức là Dương Quý Phi ái thiếp của vua Đường Minh
Hoàng. Thời đó có Lục Khải làm quan tại Giang Nam, nhân lính trạm mang
thư tín về kinh đô Trường An, nên ông đã bẻ một cành Mai, để gửi về
tặng bạn là Phạm Việp, trong đó có kèm theo một bài thơ:
'Chiết Mai phùng dịch sứ
Ký dữ lũng đầu nhân
Giang Nam vô sở hữu
Liễu tặng Nhất Chi Mai'
Quá
cảm động và càng thương quý bạn nên Phạm Việp đã đem cành mai đó trồng
và sau đó Mai có hoa nở cả bốn mùa. Sau này các văn thi sĩ thường mượn
loài Mai trên, tức Mai trường An, để nói về nhan sắc chim sa cá lặn của
các giai nhân nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa, nhất là Tây Thi và
Thái Chân.
* MAI VÀ THƠ VĂN:
Xưa nay, những người thoát
tục ngoại hạng, thường ưa thích hoa Mai, vì cho đó là một biểu tượng
cao quý của hạng Sĩ phu, Quân tử. .theo quan niệm của Nho giáo. Thật
vậy, với thái độ sừng sững giữa trời mưa gió. Trong cõi trời đất gần
như hư vô bát động này, Mai đã rụng hết lá, chỉ còn lại thân cây trơ
trọi. Thế rồi những ngày cuối chạp sắp Tết, bỗng dưng khắp thân Mai,
tràn đầy lá xanh và búp nở. Tất cả như đợi chờ một khoảnh khắc giao mùa
của trời đất, mới chịu mãn khai.
Đứng trước nổi thế thái biển
dâu của nhân tình và vạn vật, Mãn Giác Đại sư (1045-1096), một cao tăng
thời Lý, đã viết bài kệ 'Cáo Tật Thị Chúng', rất nổi tiếng nên được lưu
truyền tới ngày nay:
'Xuân qua trăm hoa rụng
xuân tới trăm hoa tươi
trước mắt việc đi mãi
trên đầu già đến rồi
chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
đêm qua sân trước nở cành mai'
Đây
cũng chính là một thông điệp vô cùng trân quý, mà Thiền sư đã gởi lại
cho hậu thế VN, với lời nhắn nhủ thật chân thành, khuyên bảo mọi người
'phải kiên trì để mà sống, không cần sợ hãi bất cứ một nghịch cảnh nào,
giống như đêm qua sân trước nở cành mai, dù ai cũng nghĩ rằng xuân tàn
hoa rụng hết'.
Còn nhà sư Tế Kỷ sống vào thời Nhà Đường, đã mượn
cớ 'Tảo Mai', để làm một bài thơ, cũng có ý tưởng rất cao siêu như
Thiền sư Mãn Giác, khuyên mọi người phải sống kiên trì, giống như Hoa
Mai, mới mong thành tựu:
'Vạn mộc đông dục chiết
cô căn noãn độc hồi
tiền thân thâm tuyết lý
tạc nhật nhất chi khai'
Bài
thơ cho biết là trong lúc muôn cây sắp chết cóng, riêng có Mai thì rể
đang trở mình, giữa cảnh tuyết băng giá lạnh, chợt đêm qua Mai nở hoa.
Trong
văn chương cổ điển Trung Hoa, Đại Đường và Bắc Tống là hai thời đại rát
thịnh hành về lối thơ Thất Ngôn ngâm vịnh. Đặc biệt thời Bắc Tống, có
rất nhiều tao nhân mặc khách nổi tiếng, cũng không thua kém gì các thi
thần, thi bá Lý Bạch, Đổ Phủ, Bạch Cư Dị..đời nhà Đường. Cũng vì vậy,
họ đã lưu lại chohậu thế rất nhiều bài thơ 'Vịnh Mai' vô cùng đặc sắc.
Trong số này đáng kể nhất có Lam Pha, suốt đời chỉ mê đắm Hoa Mai mà
thôi, chứ không hề ngó tới đàn bà, dù đó là những người đẹp nổi tiếng
tại kinh đô Biện Kinh (Khai Phong). Với Vương An Thạch (1021-1086), tể
tướng thời Tống Thần Tông, chủ trương Tân Đảng, lừng lẫy một thời trên
trường chính trị cũng như trong văn đàn, đã lưu lại cho hậu thế nhiều
trước tác giá trị, trong đó có bài thơ 'Mai Hoa', rất được nhiều người
ưa thích:
'Tường dốc sổ Chi Mai
Lăng Hàn độc tự khai
dao tri bất thị khuyết
dữ mai tinh tác thập phần xuâ .
Ý thơ muớn nói, nơi góc tường mấy nhánh mai, tự nở hoa trong rét, xa nhìn không phải tuyết vì có hương thầm bay.
Riêng
Lư Mai Pha, thì chẳng những ca tụng Mai, mà ông còn đề cao cả tuyết và
thơ. Theo quan niệm của ông, cho rằng người đời, bất cứ là ai, nếu đã
sẵn có trong tay ba thứ trên, coi như họ đã có một trời xuân hạnh phúc:
'Nhật mộ thi thành, thiên hữu tuyết
dữ Mai tinh tác, thập phần xuân'
Ý
ông nói là vừa làm xong bài thơ thì đêm tới, trong lúc ngoài trời đầy
tuyết, còn nơi góc nhà Mai cũng nở hoa, coi như ta đã hưởng trọn vẹn
mời phần xuân rồi.
Mao Ngọc Long là con gái quan Ngự sử Mao
Phụng Thiều, có chồng đã hy sinh ngoài sa trường, nên ở vậy thủ tiết
làm người sương phụ. Một mùa đông nọ, ngồi bên song cửa, nhìn tuyết
đang rơi lã chã ngoài sân, chợt thấy cành mai lẻ loi đang khép nép dưới
mái hiên lạnh, vừa nở rộ một cánh hoa trong cơn buốt giá. Nhìn cảnh
sinh tình, thêm tủi phận cô đơn góa bụa của mình, nên nàng đã viết bài
thơ 'Đông Dạ', để gửi gấm tâm sự u hoài của đời người sương phụ:
'Thùy liêu tịch mịch, thư song hạ
Đấy ảnh Mai Hoa, loạn dạ đăng'.
Sau
này các Họa sỹ cũng theo gót các văn nhân thi sỹ nhập cuộc. Trong số
này có Trọng Nhân, đã dùng mực nước, vẽ môt cành Mai với hai màu đen
trắng, ai cũng khen là Hoa có hồn. Đời nhà Minh có Vương Điệu ở Hàng
Châu, tỉnh Chiết Giang, chuyên vẽ Hoa Mai Tây Hồ, với những nét u hoài
lãng mạn nhưng cũng không kém phần mạnh mẻ, với nụ hàm tiếu đang mãn
khai vô cùng duyên dáng, trữ tình. Hàng Châu từ lâu đời đã kinh đô của
Nhà Nam Tống, vùng đất nổi tiếng về Trà và sản xuất tơ lụa. Vì vậy các
nghệ nhân đã đem Mai in trên tơ lụa, mà nổi tiếng nhất vẫn là những
hình vẽ vè loài 'Ẩn Mai', do Vương Điệu sáng tạo, với khung cảnh như
không như có, hấp dẫn lạ lùng.
Nhưng người nổi tiếng nhất khi vẽ
Hoa Mai, trong nền hội họa cổ điển Trung Hoa, từ xưa tới nay vẫn được
công nhận, vẫn là Vua Tống Huy Tông (1100-1125), thời Bắc Tống vì ham
vẽ, mê chơi, lại tin nghe bọn nịnh thần như Sài Kính, Trương Ban
Xương..làm cơ nghiệp nhà Tống đổ nát vào giặc Kim ở phương Bắc. Năm
1127, vua lúc đó là Thượng Hoàng, cùng với vua Khâm Tôn và nhiều triều
thần, đã bị nước Kim bắt đem về giam giữa tại Nội Mông và chết ở đó.
Tuy vua Huy Tông chỉ sống rất ngắn ngủi (1108-1135) nhưng ông đã lưu
lại cho hậu thế rất nhiều tranh vẽ giá trị, trong số này có bức danh
họa 'Kết năm màu trên nhành Mai', hiện được trưng bày tại Viện Bảo Tàng
Boston (Hoa Kỳ).
Bây giờ mọi người mới hiểu tại sao thời Nhà
Tống, ai cũng thích Hoa Mai hơn các thời đại khác trong lịch sử Trung
Hoa. Theo sử liệu, cho thấy nhà Tống rất yếu về quân sự, so với các nhà
Hán, Đường và Minh. Do trên đất nước Tàu, từ thời Tống Thái Tổ (Triệu
Khuông Dẫn) lập quốc năm 916, cho tới đời Vua cuối cùng là Đế Bình, thị
bị Mông Cổ tiêu diệt năm 1279, luôn luôn bị các nước Liêu, Kim, Tây Hạ,
Thổ Phồn, Mông Cổ, Đại Lý và Đại Việt ..tấn công, xâm lấn. Do trên các
bậc văn nhân, thi sĩ kể cả họa sĩ và nhất là giới sĩ phu trí thức,
thường lấy Hoa Mai làm biểu tượng tinh thần của người anh hùng trong
thời loạn ly lửa khói, để đề cao dũng khí, sự tinh khiết cùng lý tưởng
cứu dân, giúp nước của mọi người. Do trên, thời nhà Tống mới có nhiều
thơ văn và họa phẩm nổi tiếng về Hoa Mai.
Tóm lại hiện có hai
loài Mai, một của Trung Hoa đã xuất hiện từ thời thượng cổ, mà kinh thi
đã từng đề cập. Riêng về giống Mai Vàng nổi tiếng của VN, tới nay vẫn
chưa truy tìm được xuất xứ, cũng như thời gian ban đầu Mai xuất hiện.
Tuy nhiên Mai vàng chỉ mọc ở Miền Nam VN, nhiều nhất trong hai tỉnh
Quảng Nam và Bình Thuận. Theo Vương Hồng Sẻn, viết trong ' Sài Gòn năm
xưa ', thì miệt Sài Gòn chỉ có giống Mai Trắng, mọc rất nhiều tại Thứu
Lãnh Tự (Chùa Cây Mai), Gò Mai và Phụng Sơn Tự (Chùa Gò). Cũng theo tác
giả, thì giống Bạch Mai này, được đem từ Cao Mên về trồng.
Tương
truyền khi còn cầm quyền, vua Chế Mân đã lập vườn Mai Uyển ở Cà Ná là
ranh giới giũa hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận hiện nay. Tại đây Vua
cùng với Hoàng hậu Paramervan (Công chúa Trần Huyền Trân của Đại Việt),
tới dạo chơi và thưởng ngoạn các loại hoa quý trong vườn, nhất là Mai.
Tại đây Hoa Mai có nhiều loại, từ Hồng Mai, Bạch Mai hai tầng có cánh
rất lạ, cho tới loại Hoàng Mai có cánh vàng, mỏng mà ta thường thấy
trong dịp Tế. Hiện chiến tranh đã tàn phá tất cả, dù cảnh vẫn còn đó.
Những
năm tháng sống tại quê nhà trước ngày 30-4-1975, năm nào tết tới cũng
đều ao ước có được một cành mai vàng nho nhỏ để vui xuân nhưng đã trót
làm dân xóm nhỏ, thì làm gì dư tiền để mua Mai như thiên hạ. Bởi vậy
chỉ còn ngắm Mai vô hồn trong các bức tranh têt, treo trên vách lá,
phên tre. Rồi thì tới tuổi lớn, thật sự mới có dịp thưởng thức Mai thật
trong rừng hay trên các vách núi cheo leo, qua những bước hành quân
xuôi Nam ngược Bắc.
Nhưng buổi đó chiến tranh càng ngày càng
mù mịt, tuổi đời như gắn liền với tuổi lính, thân phận còi cọc lăn lộn
trong khói lửa quê hương, nên còn hồn đâu mà chiêm bái, Mai vàng, Hoa
đào hay Cúc tía..thậm chí có lúc cả bọn chưa cạn xong tiệc rượu nơi
quán bên đường, thì bên ngoài trống trận, đã giục giã đoàn quân lên
đường. Hỡi ơi đời lính là vậy đó.
Giờ thì lặng yên trong những
ngày tết sắp tới nơi xứ người, bổng thèm một cành Mai, để bắt chước
người dân nước Tống thuở nào, mượn Mai dục hồn người vong quốc, xa nhà,
sống đời lưu vong buồn sầu đứt ruột. Nhưng hỡi ơi tất cả các loài hoa ở
đây, như đã bỏ ta đi trốn. Càng não nùng hơn là những con đường thơ
mộng của Hạ Uy Di ngày nào, nay chỉ còn đầy gió và lá rụng, làm thêm
đau điếng khi nhớ tới những ngày xuân thơ ấu ở quê làng.
Ở đây
tết người đã tan đêm hội, nên chỉ còn lại có những cơn mưa năm mới, làm
nhớ tới ngày nào cũng trong cơn mưa, ta đã vuốt tóc em ướt sũng nước
mưa, mà cứ tưởng đó là ngàn vạn đoá mai vàng mừng mùa xuân diễm tuyệt
của hai đứa mình.
Lại thêm một tết quê người-/-
Xóm Cồn 1-2006
MƯỜNG GIANG