Mãnh lực đồng... vàng

VNN - Nguyễn Anh Tuấn - 03-01-2006

Vào đầu tháng này, giá vàng vọt lên hơn 500 Mỹ-kim một lượng, được coi như là ở mức cao nhất trong khoảng 20 năm qua. Trong thời gian dài bị lãng quên trong số các món hàng đầu tư vì không sinh lợi nhiều, nhất là so với hai thời kỳ đầu tư sôi nổi của chứng khoán (vào cuối thập niên 90) và địa ốc (đang diễn ra hiện nay) xem chừng như đem lại lợi nhuận khá lớn và mau chóng cho một số người nhanh tay, giờ đây vàng lại được nhắc nhở trở lại trong câu chuyện đầu tư của nhiều người.

Nói chung đây là tin vui cho những người đã đầu tư mua vàng từ nhiều năm về trước, nhất là những ai đã mua đúng lúc giá nó xuống thật thấp khoảng độ 250 Mỹ-kim một lượng như vào năm 1999, éo le thay lại là lúc cực thịnh của thời kỳ đầu tư trong thị trường chứng khoán với những con số lời gia tăng mau chóng của các cổ phần các công ty kỹ thuật Internet chỉ trong một ngày khiến cho không ai còn coi vàng là một hình thức đầu tư sinh lời tốt đẹp nữa. Thế nhưng liệu việc giá vàng gia tăng có phải là điều báo trước về một tình trạng không mấy tốt đẹp cho nền kinh tế thế giới hay không? Thông thường, vàng được coi là một thứ đầu tư vững bền và chắc chắn, và do đó khi thị trường tài chính bất ổn tăng cao thì giá vàng cũng sẽ tăng theo vì tâm lý người dân cũng như giới đầu tư muốn quy về những gì mà họ cho là chắc ăn vững bền nhất. Thông thường giá vàng thường tăng cao mỗi khi có chiến tranh hoặc khi nền kinh tế gặp tình trạng lạm phát, cũng như suy thoái.

Nhiều người có thể lý luận rằng khi nào giá vàng tăng cao - như hiện nay đã tăng khoảng 23% so với giá trung bình của năm 2004 - tức là nó báo hiệu cho một tình trạng lạm phát sẽ gia tăng tệ hại hơn, bởi vì vàng từ lâu đã được coi là một loại đầu tư chắc chắn để chống lại lạm phát. Trong những năm cuối thập niên 1970 khi mà mức lạm phát ở Hoa Kỳ lên cao vượt qua quá 10% thì giá vàng cũng lên đến cao điểm khoảng 850 Mỹ-kim một lượng. Thế nhưng nhiều người khác cũng có thể lý luận rằng tình trạng tăng giá vàng hiện nay không có liên quan gì đến việc gia tăng lạm phát (ở mức tròm trèm 3 tới 4%) hay chiến tranh hoặc bất ổn chính trị. Mà nhiều phần là nó phản ảnh một quy luật cố hữu của thị trường kinh tế: đó là định luật giữa cung và cầu.

Trước khi đi sâu thêm, xin mở một dấu ngoặc nhỏ về thuật ngữ nói về đơn vị của vàng. Đơn vị căn bản của vàng được dùng là một lượng hay lạng (ounce hoặc viết tắt là oz.), tức là 1/16 của một cân Anh (pound), khoảng 28 gram, tức là một lượng Tây, để so sánh sự khác biệt với một lượng ta, nặng hơn chút ít, và được biết nhiều đến sau năm 1975 bằng một từ ngữ phổ biến hơn là một "cây" vàng. Do đó khi nói đến 1 lượng tức là 1 lượng Tây và khi nói đến một cây vàng thì gọi đó là một một lượng ta. Trong xã hội Việt Nam, dưới lạng còn có thêm chỉphân. Sau này, cũng có một số người đọc một lượng Tây là một "ao-xơ" theo kiểu phát âm phiên dịch khá ngô nghê và quê mùa, mà buồn thay lại nghe đọc bởi nhiều xướng ngôn viên của các đài truyền thanh quốc tế nổi tiếng như BBC, VOA, RFI, RFA. Khi mua vàng đầu tư, nếu mua vàng Tây, người ta thường thích mua các thẻ vàng của Thuỵ Sĩ, tức là vàng gần như tinh ròng với con số.9999, với cân lượng đúng một ounce, không sợ sơ sẩy hay trầy trụa, vì các thẻ nhỏ hình chữ nhật này thường nằm trong bọc plastic rất sạch sẽ và sáng láng, nhiều khi lại có thêm giấy chứng nhận nữa, giúp cho việc giao dịch rất dễ dàng, mang đi bán lại ở bất cứ tiệm nào cũng không bị chủ tiệm nhìn lên nhìn xuống hay chê bai. Ở Hoa Kỳ cũng có nhiều người thích đầu tư vàng vào các đồng tiền Krugerrand, nhưng hình như người Việt ít ưa chuộng các đồng tiền này. Ngược lại nếu mua vàng ta, đơn vị chính là một "cây", thật ra là vài miếng vàng nhỏ cán thật mỏng và gói trong giấy bọc dầu trông chẳng có sang cả tí nào, nếu không muốn nói là rất mất thẩm mỹ. Làm sao biết được mấy miếng vàng đó cộng lại bằng đúng một lạng ta, chỉ có các chủ tiệm vàng mới có cân để đo. Và do đó, người mua coi như hoàn toàn tin tưởng vào người bán ở các tiệm vàng kể lể về cái tốt đẹp của vàng trong tiệm mình, tuy nhiên đến khi đem bán lại ở các tiệm khác thì đố mà không tránh bị chê là vàng này không tốt bằng vàng ở tiệm mình hay nhiều lý do thế này thế nọ v.v... để bớt giá vài đồng.

Nói một cách tổng quát, người ta có thể tin rằng nền kinh tế thế giới hiện nay khá sung túc và vững bền, với mức tăng trưởng khả quan với đầu tầu là nền kinh tế Hoa Kỳ, đi song hành với một mức lạm phát quá nhỏ không đáng kể. Trong khi đó thì mức tiêu thụ của người dân (vốn chiếm đến 70% của tổng sản lượng quốc gia) vẫn còn khá mạnh, xuyên qua hình ảnh dân chúng Mỹ đứng xếp hàng dài từ giữa khuya trước các cửa hàng Wal-Mart sau ngày lễ Tạ Ơn (mở màn cho mùa mua sắm Giáng sinh) để chờ giờ mở cửa đổ xô vào mua cho kịp một lô những món hàng bán với giá thật rẻ. Cho dù là những món tiền chi tiêu đó xuất phát là tiền nợ chứ không hẳn là tiền kiếm được hay để dành của người dân, hoặc là từ nợ ở các thẻ tín dụng hay nợ từ vốn tích sản nhà cửa (home equity loan) và người ta sẽ phải lo è cổ ra trả trong những ngày tháng kéo dài sau này, thế nhưng đó là chuyện đáng lo khác, và nếu cần thì sẽ bàn trong một bài viết khác.

Chính vì lịch sử lâu đời của vàng nên người ta mới để ý đến giá trị và sự lên xuống của nó. Trong cuốn sách nhan đề "Mãnh lực đồng vàng" (The Power of Gold), tác giả Peter Bernstein đã kể rằng người Ai Cập đã chế ra các thỏi vàng từ ngàn xưa vào khoảng 4000 năm trước Tây lịch và dùng nó làm phương tiện trao đổi tiền tệ. Về sau này, vàng cũng được các vua chúa khắp nơi ở Âu Châu dùng làm phương tiện để thiết lập các đội quân binh cũng như để mua chuộc hay triệt hạ các đối thủ chính trị. Vào năm 1511, vua Ferdinand của đế quốc Tây Ban Nha đã ra lệnh cho đoàn quân viễn chinh (conquistadors) của mình rằng: "Hãy tìm cho ra vàng, bằng những phương tiện nhân hậu nếu như có thể được, thế nhưng, bằng bất cứ giá nào, thì hãy tìm cho ra vàng."

Nếu chúng ta sinh ra đời vào khoảng một thế kỷ trước, thì vàng là đơn vị căn bản cho tiền tệ. Lúc bấy giờ, đế quốc Anh thống trị thị trường vàng trên thế giới, và đồng bảng Anh (pound) được đổi một cách dễ dàng sang vàng. Ngoài đồng bảng Anh, nhiều đồng tiền của các quốc gia khác, như đồng Mỹ-kim của Hoa Kỳ, cũng được đổi dễ dàng sang vàng. Theo lời kể lại của kinh tế gia Michael Bordo của trường đại học Rutgers University thì vào năm 1900, ở Hoa Kỳ có khoảng 610 triệu Mỹ-kim bằng đồng vàng (gold coins), chiếm khoảng 30% tổng số tiền tệ lưu hành trong nước. Những thứ tiền khác, như tiền giấy và đồng bạc (silver) cũng có thể đổi dễ dàng sang vàng. Thế nhưng chính vì sự ràng buộc khắt khe về tiêu chuẩn của vàng với tiền tệ trong nước cũng như nỗi khó khăn về chuyện di chuyển hay trao đổi nên mới dễ sanh ra những cơn khủng hoảng về tiền tệ cũng như trong các ngân hàng trong nước, mỗi khi số lượng vàng tích trữ trong ngân khố nhà nước hay các ngân hàng xuống thấp, và điều này đã dẫn đến tình trạng khủng hoảng vào năm 1929 với cơn đại suy thoái kinh tế. Vào ngày 5 tháng 4, 1933, Tổng Thống Franklin D. Roosevelt ký nghị định yêu cầu tất cả các công dân Hoa Kỳ phải nộp hết các đồng vàng cho ngân hàng để đổi thành tiền, và từ đó trở đi Hoa Kỳ trở thành quốc gia dùng tiền giấy làm đơn vị căn bản tiền tệ.

Mặc dù đã bị tước đi cái khả năng làm đơn vị tiền tệ, vàng vẫn còn giữ lại huyền thoại và sức hấp dẫn của nó về mặt kinh tế. Trong khối lượng tiêu thụ vàng hiện nay trên thế giới, người ta ước lượng có khoảng 85% được dùng vào việc chế biến nữ trang và một số nhu cầu thương mại khác, như các phụ tùng trong các máy móc điện tử, hoặc trong ngành nha khoa làm bọc vàng cho răng. Phần nhỏ còn sót lại 15% được lưu hành trong các khách hàng đầu tư hoặc giới con buôn mua đi bán lại hoặc thành phần đầu cơ tích trữ, tức là gồm các quỹ đầu tư chuyên tính chuyện lời lỗ để lấy các quyết định mua bán trong ngày, cũng như một số đại thương gia. Đặc biệt là tại Á Châu và vùng Trung Đông, giới nhà giầu thường hay có thói quen tích trữ các thỏi vàng làm của. Chính trong cái sinh hoạt của thiểu số 15% này mà cái giá cả tăng vọt trong thời gian qua đã bắt nguồn. Theo một bản báo cáo của tổ chức World Gold Council, một hội chuyên gia trong ngành, cho biết thì trong 9 tháng đầu của năm 2005, nhu cầu đầu tư và tích trữ vàng đã gia tăng hơn 62%.

Dĩ nhiên mẫu số chung của các thành phần này là tin tưởng rằng vàng sẽ lên giá trong tương lai. Tuy nhiên tuỳ quan điểm riêng, mỗi đơn vị đầu tư này có thể có những động lực khác nhau thúc đẩy đến sự chọn lựa lấy vàng làm tiêu chuẩn đầu tư. Theo sự nhận định của ông Philip Newman của hãng GFMS, một cơ sở tư vấn, thì người ta có thể liệt kê ra những thứ lo âu sau đây để khiến cho giới đầu tư quyết định đầu tư vào vàng: lạm phát, khủng hoảng tài chính, nạn khủng bố, tình trạng bất ổn toàn cầu.

Bởi vì việc lưu giữ vàng thường được coi như là một phương thức để dành khác ngoài việc lưu giữ đồng Mỹ-kim, nên mỗi khi giá vàng gia tăng thường được giải thích là do tình trạng lạm phát gia tăng hoặc là đồng Mỹ-kim xuống giá trên thị trường thế giới. Thế nhưng hai điều này đã không xảy ra trong thời gian qua. Cho dù là đồng đô-la đã xuống giá nhiều so với các ngoại tệ khác trong nhiều năm qua, nhưng dạo gần đây thì nó đã tăng lên trở lại chứ không còn tiếp tục tụt dài dài như so với đồng euro trong những năm trước. Ngoài ra, chỉ số lạm phát căn bản, tức là nếu không tính thực phẩm và nhiên liệu, chỉ ở mức tròm trèm có 2% cho một năm. Và dẫu rằng giá dầu thô đã tăng cao trong năm qua, nó cũng chỉ làm cho mức lạm phát tăng lên chưa đến 3%. Phải chăng những nhà đầu tư vàng đã nhìn ra những dấu hiệu cảnh báo lâm nguy khác mà các con số thống kê thông thường không để lộ ra?

Hoặc có lẽ một lời giải thích đơn giản hơn về việc tăng giá vàng là vì tình trạng khan hiếm của nó. Mà không riêng gì vàng, những thứ khác cũng đã tăng giá khá cao trong vòng vài năm qua. Nguyên liệu đồng (copper) hiện nay được bán ra trên thị trường với giá khoảng 2 Mỹ-kim cho một cân, tức là đã tăng giá khoảng 70% so với thời điểm 4 năm về trước. Giá dầu thô cũng vậy, ở mức khoảng 60 Mỹ-kim cho một thùng, tức là đã tăng hơn gấp đôi nếu so với thời điểm cuối năm 2003. Nhu cầu tiêu thụ toàn cầu, đặc biệt là ở hai xứ con rồng châu Á đông dân khủng khiếp là Trung Cộng và Ấn Độ, đã khiến cho nguyên liệu và vật liệu trên thế giới không còn dư thừa rộng rãi như những năm về trước.

Điều này cũng có thể đã xảy ra cho vàng. Trong suốt hai thập niên của thế kỷ trước, vì giá vàng quá thấp nên việc khai thác các mỏ vàng sản xuất nguyên liệu này không được phát triển lớn, nếu không muốn nói là có phần giảm nhẹ đi. Dựa theo thống kê của hãng Newmont Mining Corp, một công ty sản xuất vàng lớn nhất trên thế giới, người ta thấy rằng mức sản xuất vàng trên toàn thế giới đã giảm đến 5%, tức là khoảng 128 tấn, được coi như là mức giảm cao nhất trong vòng hơn 70 năm qua. Tuy nhiên, cùng lúc đó thì giới tư bản trung lưu ở các nước như Ấn Độ, Trung Cộng và các nước Ả Rập vùng Trung Đông càng ngày càng gia tăng do bởi kinh tế phát triển lớn ở trong vùng, do đó nhu cầu tích trữ hay mua sắm vàng bắt đầu gia tăng, từ 5% trong năm 2004 và đã lên đến 12% trong năm nay. Vàng và nữ trang được coi là món ưa chuộng của nhiều thành phần dân chúng trong các xứ này, ngoài phần trang sức nó cũng còn là một biểu hiện của sự giầu sang phú quí mà những kẻ mới tích tụ được của cải cũng muốn sắm sửa. Hơn thế nữa, việc số người trung lưu hay khá giả do sự phát triển kinh tế toàn cầu trong hai thập niên qua tăng cao cũng khiến cho nhiều người có dư dả tiền bạc để mua sắm đủ thứ khiến cho hầu hết các món hàng đều tăng giá theo, trong đó có vàng.

Ngoài thành phần giới đầu tư và con buôn tìm cách đầu cơ tích trữ vàng, một số khách hàng quan trọng khác cũng muốn tiêu thụ vàng là các ngân hàng trung ương trên thế giới, và yếu tố này có thể khiến cho giá vàng còn tiếp tục ở giá cao trong trường kỳ. Trong quá khứ, số lượng vàng tồn kho trong ngân khố của nhà nước thường được coi là nền tảng chính để định mức giá trị của đồng tiền quốc gia đó, tức là muốn ấn hành số lượng tiền giấy bao nhiêu thì phải có một tài sản bằng vàng tương đương ở trong kho, bằng không thì đó chỉ là đống giấy lộn, tuy rằng có in con dấu của nhà nước. Giá trị của đồng tiền được tính bằng tỉ lệ so với vàng, thí dụ như 35 Mỹ-kim cho một lượng vàng vào khoảng năm 1970, tức là có đi đến chỗ nào trên thế giới và tình hình kinh tế tại Hoa Kỳ có thay đổi ra sao thì người ta cũng có thể đổi được 35 Mỹ-kim để có một lượng vàng. Thế nhưng vào năm 1971, TT Richard Nixon ra lệnh bãi bõ tiêu chuẩn ràng buộc đồng đô-la với vàng, tức là cho phép Mỹ-kim được quyền thả nổi, khiến cho đồng Mỹ-kim từ đó trở đi càng ngày càng mất giá, và đó cũng là lý do chính của tình trạng thâm thủng ngân sách triền miên của Hoa Kỳ từ đó đến nay vì các chính quyền Mỹ không còn bị áp lực phải giữ giá cao đồng Mỹ-kim. Từ đó trở đi, các ngân hàng trung ương trên thế giới không còn bị bắt buộc phải giữ trong kho một số trữ lượng vàng tương đương với khối tiền tệ lưu hành trong nước. Tuy nhiên về sau này, các ngân hàng trung ương cũng quay sang mua thêm vàng để san sẻ số vốn dự trữ của mình ngoài đồng Mỹ-kim và euro, nhất là các ngân hàng trung ương của các nước Á Châu, nhờ ở cán cân mậu dịch dư thừa với Hoa Kỳ nên đã tích luỹ khá nhiều tiền từ các món hàng xuất cảng sang thị trường tiêu thụ khổng lồ ở Mỹ.

Khi nhu cầu gia tăng trong lúc mức sản xuất vẫn còn thấp thì sẽ tạo ra tình trạng giá cả phải tăng theo đúng quy luật tự nhiên. Trong nhiều trường hợp, người ta vẫn còn có quan niệm xem vàng là một món đầu tư đáng tin tưởng hơn những đồng tiền khác, cho dù là trong thực tế đầu tư vào vàng không đem lại lợi nhuận như tiền lời trong nhà băng hay chứng khoán bán lấy lời.

Thế nhưng dẫu thế nào đi nữa, thì những lo sợ và ưu tư của con người khó giải thích một cách hợp lý được, và trong trường hợp của vàng, cái mãnh lực thần bí của nó vẫn tiếp tục lôi cuốn nhiều người trên thế giới chạy theo, chứ không phải chỉ có các bà Việt Nam như một số quý vị đàn ông thường chế giễu, bởi vì cái giá trị đích thực của vàng không phải ở chỗ nó cung cấp cho ta những lợi ích cụ thể gì (như các món đồ khác như đường sữa, dầu thô, hoặc sắt thép v.v...) mà ở chỗ nó có một giá trị biểu tượng huyền bí nào đó. Có lẽ điều đó cũng rắc rối khó giải thích được cũng như cái tâm lý kỳ quặc khó hiểu của con người trên thế giới này.

Nguyễn Anh Tuấn
Houston, Texas 31-12-2005


In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè:

     http://tudovis.com/kktd/binh_luan_2/bl_manh_luc_dong_va_vang.html

Người gửi:

Địa chỉ email: *


Người nhận:

Có thể gửi cho nhiều địa chỉ, nhớ bỏ dấu phẩy trước khi bắt đầu địa chỉ mới.
Địa chỉ email: *
Lời nhắn:
Quí vị có thể copy hết cái bài ở trên và bỏ vào trong hộp Lời nhắn
 
* Thông tin bắt buộc        
Note: Chi tiết bạn điền vào trang này sẽ không được dùng để gửi thư không mời, hoặc bán cho nơi khác.