Một dự án, một cuộc đời

www.vietnet.no - Đặng Quang Chính - 03-01-2006

Ngày 6.12.2005, chúng tôi nhận được tập truyện của NOVA. (NOVA là chữ tắt của Norsk institutt for oppvekst, velferd og aldring.)

Như vậy đã trên 2 năm từ khi dự án (prosjekt) được khởi xướng và trở thành hiện thực.

Dự án có mục đích tạo cơ hội để những ngoại kiều đang sinh sống tại Na Uy viết về những kinh nghiệm sống của chính cuộc đời của họ.

Những tập giấy nhỏ thông tin về dự án và cuộc thi viết đã được dịch ra 11 ngôn ngữ và được phổ biến bằng nhiều phương tiện khác nhau như đài phát thanh; trong đó có Radio America Latina, … qua báo, thư viện, qua giấy mời đến khoảng 50 hội đoàn và qua tiếp xúc với nhiều nhóm dân khác nhau.

Người đề xướng dự án hy vọng rằng những câu chuyện về những cuộc đời thật sẽ phá vỡ những diễn đạt ồn ào khác (de sterotype fremstillingene) về người nước ngoài của giới truyền thông hiện nay.

Cô ta (Kristen Danielsen) cho rằng ”Ðám đông thầm lặng ít khi nói lên được tiếng nói của mình. Nhưng những câu chuyện này có thể đóng góp vào lịch sử mới của Na Uy”.

Ðó là phát biểu của Daniesen với ký giả báo Aftenposten trong ngày phát giải 02.03.2005 tại Antirasistisk senter.

Dự án được thực hiện bởi NOVA, Fritt Ord institusjon và Norsk Folkemuseum. Do đó, những bài được chọn đăng không những được in thành sách mà còn được lưu trữ tại viện bảo tàng nhân dân (Norsk Folkemuseum).

* * *

Vào ngày hết hạn nộp bài, có 50 bài tham dự, được viết với 12 ngôn ngữ khác nhau.

Trong số đó, có 18 bài viết là của nữ giới. Phần nhiều bài viết là của những người tỵ nạn (flykninger).

Mục lục tuyển tập cho ta thấy như sau:

- Về thế hệ thứ hai: có 2 bài viết, có một bài với đề tựa: ”Hvorfor” đoạt giải nhì.

- Về kinh nghiệm của người Chile: có 4 bài viết, có một bài viết với tựa đề ”

Fra Placilla til Carl Berner” của Cesar Mallen đoạt giải nhất

- Về phụ nữ: có 2 bài viết, có một bài với đề tựa: ”Neste stopp: Nordpolen” cùng đoạt giải nhất.

Ngoài ra, còn có các chủ đề khác viết về Phi Châu, Âu châu, viết về kinh nghiệm vượt thoát và tìm chốn dung thân.

- Về kinh nghiệm Việt Nam: có 3 bài viết. ”No way”, ”Håp og tro” và ”Vietnamkrigen”

Theo báo cáo tổng kết của NOVA, nhóm Việt nam gửi đến tất cả 4 bài.

Trong phần III, trang 134, giới thiệu sơ về kinh nghiệm Việt Nam, một đôi điều đã được trưng dẫn từ một bài viết của một người Việt Nam và của một học giả Na Uy (Brochman?).

Một người Việt Nam, sau năm 75, bị nhốt tù 10 năm. Cha và anh đã chết trong tù.

Người này đã phải ở trại tỵ nạn 5 năm vì chánh sách thanh lọc của Cao ủy tỵ nạn Liên hiệp quốc. Anh ta đã khóc trong lúc phỏng vấn, khi được hỏi lý do vượt thoát Việt Nam. Việt Nam không có nhân quyền và con người bị đối xử như một nô lệ là lý do anh ta bỏ nước ra đi.

Brochmann viết trong “lịch sử nhập cư của người Na Uy“ cho rằng quan điểm của người bản xứ đối với việc phân loại về người tỵ nạn là không giống nhau. Họ so sánh trường hợp tỵ nạn của người Chi Lê và Việt Nam. Có lẽ họ đã lập lờ khi viết như sau: “Chilenerne var helter for den norske venstresiden, fordi de hadde kjempet mot den amerikanske imperialismen. Men fra det samme perspektivet hadde de vietnamesiske båtflyktningene valgt feil side i kampen mot imperialismen” (tạm dịch: Với những người Na Uy tả khuynh, dân tộc Chi Lê là những anh hùng bởi vì họ chiến đấu chống lại chủ nghĩa thực dân Mỹ. Nhưng từ một bối cảnh như thế thì những thuyền nhân VN đã chọn sai phiá trong cuộc chiến chống chủ nghĩa thực dân). Từ cái nhìn đó, họ viết thêm rằng: ”Synet var at båtflyktningen burde reddes av humanitære grunner, men de hadde jo flyktet fra det mange trodde på ..” (tạm dịch: Quan điểm cho là những thuyền nhân nên được cứu vớt vì lý do nhân đạo, nhưng họ thật sự đã vượt thoát từ lý do mà nhiều người nghĩ rằng …) để dẫn đến một kết luận mà theo họ đã nằm trong nội dung của bài viết: ”Håp og tro ”!. Họ vô tình hay cố ý một cách khôn khéo khi muốn nói rằng có "những người vượt thoát với hy vọng tránh được sự khó khăn, đói khát, cưỡng chế và nô lệ" (De flyktet i håp om å unnslippe nød, sult, tvang og slaveri, slik en av dem skriver).

Qua phần này, chúng ta tạm có nhận xét như sau:

1) Từ năm 1975 – 1989, các nước phương Tây cho là - hoặc tạm cho là - những người Việt Nam trốn khỏi đất nước vì lý do chánh trị.

Năm 1989, họ có một thỏa thuận gọi là “Kết ước về hành động chung“ nhằm chặn đứng việc vượt biên. Họ bày ra một việc gọi là thanh lọc thuyền nhân. Từ đó nảy sinh sự phân biệt việc tỵ nạn bởi nguyên do là kinh tế hay chính trị.

Các nước Tây phương có 1001 lý do để không nhận thuyền nhân tỵ nạn VN.

Phần chúng ta, chúng ta có xứng đáng để hưởng tiếp ưu tiên đó không ?

Lúc ở trong nước, người ta quên rằng giá trị của tự do phải được đổi bằng xương máu, mồ hôi và nước mắt. Cũng có thể vì mạng lưới công an quá chặt chẽ nên chúng ta đã lặng im chịu đựng.

Khi đã sinh sống tại nước ngoài, chúng ta phải ổn định cuộc sống vì không một nước nào đã chấp nhận quyền định cư của chúng ta mà còn phải bảo bọc cuộc sống của chúng ta nữa. Nhưng hình như phần đông đã quên đi những người anh em còn kẹt lại trong sự cai trị độc đoán của đảng Cộng sản.

Chúng ta đã không có sự tận lực, chúng ta quên anh em chúng ta thì làm sao có thể kêu gọi người nào khác giúp chúng ta được.

2) Những thuyền nhân VN là ai ? có phải phần lớn là những người dân sinh sống ở miền nam VN ? Họ đã chống chủ nghĩa thực dân nào ? Phải người viết muốn ám chỉ đến chủ nghĩa thực dân mới mà quốc gia đứng đầu là Mỹ ?

Nếu đúng như nói trên, chính phủ miền Nam nào, thuộc đệ I hay đệ II cộng hòa đã chống lại Mỹ ? Hay người viết muốn nói đến người dân miền Nam mà tổ chức đại diện cho họ là MTGPMN ? (Mặt trận giải phóng miền Nam – Slagfront Revolusjon Sør Vietnam)

Một đoạn văn được trích trước đó, trước bài viết của ông Brochman, nói đến số người VN ở Na Uy là 10.577. Con số đó là một thống kê đã có từ lâu. Có thể sau năm 1980. Nếu đúng thế, sai lầm nghiêm trọng nói trên của giới viết sách Na Uy hơn 20 năm qua đã không được chúng ta góp ý sửa sai.

3) Chúng ta là ai? Nếu không phải là một hội đoàn của người Việt Nam.

Vì đã khá lâu chúng ta thật sự không có một hội đoàn đúng nghĩa nên chúng ta đã chịu nhiều thiệt thòi ! Thiệt thòi lớn nhất và gần nhất là cơ hội gửi bài viết nói lên sự thật lịch sử của chúng ta qua dự án ”Nye nordmenn-egne stemmer”! (Những người Na Uy mới - tiếng nói riêng của họ). Một cộng đồng có khoảng 20.000 người, phần lớn là thuyền nhân tỵ nạn mà chỉ gửi được 4 bài viết đến Viện nghiên cứu tăng trưởng, an sinh và tuổi thọ (NOVA). Không có hội đoàn thì làm sao chúng ta có nơi tiếp nhận và phổ biến các thông tin cần thiết cho tập thể ?

Nơi phần nhận xét ở trên, chúng tôi nói là “tạm nhận xét“, có nghĩa là: vấn đề lớn như thế này, nếu được sự góp sức của nhiều người, chắc chắn có nhiều nhận xét chính xác và tinh tế hơn.

* * *

Ðã nói đến đây, chúng ta không thể không đề cập đến lý do tại sao chúng ta chưa có được một hội đoàn đúng nghĩa.

Nói chính xác hơn: chúng ta đã có …nhưng không duy trì được hoạt động thật sự của hội đoàn này. Trên thực tế, hội không có hoạt động nào cả. Hội chỉ có tên trên giấy tờ, nên hội chỉ còn là tên gọi, không có ý nghĩa gì nữa đối với số đông người Việt sinh sống tại Na Uy.

Lý do ? Có nhiều lý do. Tạm kể một số như sau:

- Hội không có chương trình dài hạn, do đó không chú trọng đến tầng lớp thanh thiếu niên. Khi lớp người lớn muốn buông tay, không có lớp kế tiếp gánh lấy trách nhiệm.

- Lớp đi trước, thế hệ thứ nhất, để lại những gương không được tốt cho thế hệ kế tiếp. Chẳng hạn: (1) họ lẫn lộn giữa hai chữ tranh đua và ganh tỵ. Tranh đua có tính tích cực, có nghĩa là cố gắng làm tốt hơn để chứng minh cho đối thủ biết là họ đã làm không đúng hay đã làm dở một việc gì. Ganh tỵ là chỉ biết ngồi và nói xấu việc làm của người khác. (2) chủ quan tự mãn. Có nghĩa là tuy có làm tốt hơn người khác một chút, nhưng so với việc chung của cộng đồng, việc làm đó cũng chưa tới đâu; nhưng lúc nào cũng cứ tưởng đã làm được những điều to lớn. (3) chuyên chế độc đoán. Bệnh chủ quan tự mãn lâu ngày trở nên trầm trọng đến mức tạo thành tư tưởng độc đoán, chuyên chế. Cái gì của mình, của nhóm mình cũng là nhất. Mọi người phải tuân theo, phải làm việc trong sự chỉ đạo của mình, của phe nhóm mình. Nếu ai ở ngoài, không phải là thành viên của nhóm sẽ bị phe ta chụp cái mũ là người nằm vùng của Cộng sản.

- Tập thể người Việt ở Na Uy là lớp người “ dở dở, ương ương“

Lý do: so với người Pakistan, không biết người Việt ở vị trí nào. Người Pakistan xác nhận họ đến Na Uy để đáp ứng nhu cầu cần nhân lực của Na Uy, nhưng họ có đủ loại hội đoàn và có cả đại biểu trong quốc hội Na Uy. Người Việt tự hào rời khỏi đất nước mình vì lý do chính trị nhưng không có được một hội đoàn, nói lên tiếng nói chung của tập thể. So với người Sri Lanka, cũng không biết người Việt ở vị trí nào. Người Việt, theo tỷ lệ, có số thanh niên học cao đẳng, đại học sắp hạng thứ nhì, sau người Sri Lanka. Trong khi người Sri Lanka làm tất cả mọi loại công việc còn người Việt hình như còn tránh né các công việc có tính tay chân. So với người Somalia, xếp cuối bảng về tỷ lệ thất nghiệp, người Việt tuy có đi làm nhiều hơn một chút, nhưng về mặt hội đoàn thì có lẽ người Việt được xếp ở cuối bảng (xếp hạng thất nghiệp nói ở đây là thống kê của UDI và bảng liệt kê bao gồm tất cả các sắc dân ngoại kiều tại Na Uy

Nói là “dở dở, ương ương” có đúng không ? Vì cũng tại đất nước này, người ta đã chứng kiến những cuộc biểu tình khá rầm rộ của tập thể người Việt. Số lượng tham dự các cuộc biểu tình đó không đông lắm nhưng khí thế thật là sôi nổi! Khí thế đó khiến phái đoàn Võ văn Kiệt đã lúng túng, không theo được những nghi lễ đón tiếp cần có; nên đã đưa ra vấn đề này để Bộ ngoại giao Na Uy tìm cách giải quyết.

Nhưng khí thế đó hình như càng lúc càng giảm dần so với số lượng người Việt về thăm VN ngày càng nhiều hơn.Về nước nhiều như vậy lẽ ra đồng bào ở ngoài nước dễ tiếp cận với người dân trong nước hơn, dễ dàng đem những thông tin cần thiết đến khối quần chúng đông đảo này …nhưng tại sao lại có tác dụng tiêu cực như vừa nói ? Khí thế hay tinh thần phục vụ cộng đồng, đất nước, không phải một sớm một chiều có được. Muốn đạt đến điều đó, lý tưởng phải được trau dồi qua những thử thách của thực tế và như vậy cần có thời gian. Do đó, một trong những công việc quan trọng nhất trong thời điểm này là công tác tư tưởng-văn hóa. Ai làm được việc đó (?) nếu không phải là công việc của các hội đoàn. Cộng đồng người Việt tại Úc đã dẹp bỏ được đài truyền hình TV4 và biểu tình, làm thất bại chương trình văn nghệ “Duyên dáng VN“. Yếu tố nào đưa đến kết quả như thế ? Có lẽ cũng chẳng qua nguyên do là những hội đoàn ở Úc đã làm tốt công tác tư tưởng-văn hóa.

* * *

Tại Na Uy, viện NOVA vào năm 2003 đã đề ra một dự án như nói trên và đã thực hiện xong vào năm 2005. Họ sẽ có một buổi giới thiệu cuốn sách vừa nói vào tháng 01.2006.

Hiện nay chúng ta chưa được rõ, sau lần ra mắt sách đó, họ sẽ có những dự án nào khác không. Nhưng, trong vòng 10 năm tới, viện NOVA hay các viện khác của Na Uy có thể sẽ có những dự án khác để tìm hiểu nhiều hơn về những ngoại kiều. Khi đó, những bài viết tham dự có thể sẽ được viết trực tiếp bằng ngôn ngữ Na Uy hoặc được viết bằng ngôn ngữ riêng của các sắc dân nhưng số bài viết bằng ngôn ngữ riêng không thể chiếm đa số và nội dung có thể sẽ khác với các bài hiện nay.

Nói riêng với tập thể người Việt sinh sống tại đất nước này, nội dung những bài viết trong tương lai sẽ khác rất nhiều so với nội dung của các bài đã tham gia lần này. Những người Việt gửi bài lần này đã làm một việc mà việc này lẽ ra đã được một nhóm người khác thực hiện vào năm 2000.

Cuối năm 1999 Trung tâm WJC của viện đại học Massachuset (UMass) tại Hoa Kỳ được tổ chức Rockefeller chấp thuận tài trợ để thực hiện một đề án nhằm nghiên cứu những nỗ lực xây dựng và tái xây dựng diện mạo công đồng VN hải ngoại. Chương trình kéo dài 3 năm.

Chương trình nghiên cứu do ông Nguyễn bá Chung làm giám đốc nhưng ông này lại viết về chính quyền nam VN như là bọn theo chân thực dân và phản lại lịch sử VN. Hơn nữa, việc tuyển dụng nghiên cứu viên không theo đúng nguyên tắc.

Do đó, từ tháng 03.2000 đã xảy ra vụ kiện trường đại học nói trên:

- tháng 10.2001: ông NH Luyện cùng 11 người khác đệ trình đơn kiện. Bản tóm lược vụ án được ông Luyện viết như sau: ”Chúng tôi có 3 triệu người tỵ nạn CS, không một ai trong chúng tôi lại có thể ngồi yên để cho bọn CS mượn tay một trường đại học lớn, mượn danh nghĩa một foundation(Rockefeller) để dùng công trình có tầm cỡ quốc tế này để làm nhục chúng tôi. Chúng tôi không thể để con cháu chúng tôi nhìn hình ảnh của cha ông chúng qua những nét bút của bọn VC” - tháng 10.2002: quỹ pháp lý ủng hộ vụ kiện được đóng lại vì đã quyên góp đủ 100.000 mỹ kim.

- giữa tháng 05.2003: chánh án Janet Sanders bác đơn kiện với tư cách tập thể(chúng ta lưu ý là: nếu không có vụ kiện, việc nghiên cứu về người tỵ nạn đã được chấm dứt vào năm này)

- 07.02.2004: đồng bào bắc Cali đóng 25.000 mỹ kim vì quỹ pháp lý ủng hộ vụ kiện bị thiếu hụt, bởi nhóm NH Luyện đã dùng tổ họp luật sư mới, để tiếp tục vụ kiện.

- 04.04.2004: đồng bào nam Cali đóng thêm 30.000 mỹ kim.

- 09.04.2004: quỹ pháp lý được đóng lại lần nữa vì đã đủ tài chánh.

- 06.06.2004: ông Luyện kêu gọi chuyển vụ kiện thành vụ kiện của cộng đồng tỵ nạn CS khắp nơi trên thế giới.

- 07.2004: đại hội 10.000 người. Quan khách là giới báo chí, radio, truyền hình, nhân vật trong chính giới và đại biểu của các công đồng người Việt trên khắp thế giới.

- 31.07.2004: tòa phán quyết là hai bên nguyên đơn và bị cáo phải nộp kết quả cuộc điều tra lên chánh án để chánh án quyết định ngày tiền nghị án (sau tiền nghị án khoảng 4 tuần, sẽ là ngày xét xử chính thức)

Nhìn chung, vụ kiện được hậu thuẫn của nhiều hội đoàn, đoàn thể và tổ chức của người Việt vì chương trình nghiên cứu của đại học Massachuset có ảnh hưởng quan trọng đến lịch sử cộng đồng người Việt gốc Mỹ và cộng đồng người Việt trên khắp thế giới. Một khi chương trình nghiên cứu đã xong, các bài viết sẽ là tài liệu tham khảo về người Việt hải ngoại, được lưu giữ trong các trường đại học và các thư viện. Tại Hoa Kỳ cũng như các nước phương tây, các trường đại học có quyền tự trị rất lớn, rất mạnh, luật pháp không bao giờ đụng chạm tới. Do đó, các giáo sư đại học toàn quyền sử dụng những tài liệu giảng dạy và sinh viên tham khảo dễ dàng bất cứ nguồn tài liệu nào đã có sẵn trong thư viện.

Những người, những tập thể đã ủng hộ vụ kiện đều cho rằng phải kiện trường đại học để có thể đạt được các mục tiêu sau:

- bảo vệ sự thật về diễn trình thăng tiến của người Việt tỵ nạn CS sau 75.

- bảo vệ hào khí của ngưòi tỵ nạn, hào khí của những thế hệ kế thừa. Thế hệ trẻ không có hào khí về nguồn gốc của mình thì chỉ là một cơ thể không có linh hồn.

- bảo vệ giá trị lịch sử của cộng đồng người Việt tỵ nạn.

Những người ủng hộ đồng ý với chủ trương của nhóm kiện tập thể trường đại học. Chủ trương của họ là nếu đã thắng kiện, họ sẽ dùng tiền thắng kiện tài trợ chi phí cho một trường đại học hoặc trung tâm nghiên cứu, để thực hiện một chương trình nghiên cứu khác về cộng đồng người Việt, nhằm đưa vào kho tàng văn học, lịch sử của Hoa Kỳ và của nhân loại, một bộ tài liệu chân chính về cộng đồng người Việt từ giai đoạn đầu tỵ nạn tới thời kỳ hậu tỵ nạn.

Tóm lại, trung tâm WJC bắt đầu dự án nghiên cứu về người tỵ nạn vào năm 2000 và dự trù hoàn thành vào năm 2003. Hiện nay đã cuối năm 2005, họ chưa biết dự án sẽ hoàn thành như mong muốn của họ hay không. Người ta biết rằng trong số 25 người tham gia dự án, có hai người đã trưng ra tác phẩm của họ là Trần văn Thủy và Phan huy Ðường; với tựa sách là “Nếu đi hết biển” và “Làm người ở xứ người”.

Bên nguyên đơn, nhóm kiện tập thể với ông Nguyễn hữu Luyện là người khởi xướng, cũng chưa biết rõ tình trạng cuối cùng của vụ kiện sẽ như thế nào. Nhưng họ đã mất gần 6 năm để theo đuổi vụ kiện và thời gian đó sẽ còn kéo dài hơn nữa. Họ đã kêu gọi người Việt đóng góp 200.000 mỹ kim …và có thể sẽ còn những đóng góp khác trong tương lai. Riêng cá nhân người khởi xướng, ông Nguyễn hữu Luyện, đã tốn quá nhiều thời gian và tiền bạc. Ông ta đã tốn quá nhiều thời gian để vận động sự ủng hộ cho vụ kiện, có khi, tại những nơi sự tập họp của người Việt không quá một trăm người. Sự tiêu phí khác quá lớn của ông ta là tương lai của cá nhân. Ông đã dự lễ tốt nghiệp cao học vào tháng 05.2000. Ông có 7 năm để hoàn thành một luận án và lấy cấp bằng tiến sĩ. Nhưng do khởi xướng vụ kiện nên đã bị trường đại học gạt tên trong danh sách ứng viên cao học của trường. Theo luật sư của ông Luyện, nếu ông ta thắng trong vụ kiện này - không phải vụ kiện với tư cách tập thể - tiền bồi thường có thể lên đến cả triệu. Trước đây, qua vụ kiện tập thể, có lúc trung tâm WJC đề nghị dàn xếp vụ án với số tiền 250.000 mỹ kim. Ông ta đã không chấp nhận giải pháp đó vì phía nguyên đơn có tất cả là 11 người và thêm vào đó là danh dự của đa số người Việt sống ở hải ngoại.

Nay, nếu thắng kiện, ông cũng không dùng số tiền bạc triệu vào những mong muốn cá nhân. Ông sẽ dùng số tiền đó vào những việc có lợi cho tập thể. Như vậy, nếu thắng kiện, chắc gì ông sẽ có thể tiếp tục học. Mỗi năm trôi qua, tuổi đời càng lớn, trí nhớ càng giảm. Không bằng cấp, không nghề nghiệp mà số vốn có được từ việc thắng kiện –tạm thời cứ cho là thế- lại đựợc dùng vào việc công ích thì tương lai chắc chắn là con số không to tướng. Thật ra, nếu tìm hiểu kỹ hơn, chúng ta thấy ông ta đã hy sinh quá nhiều.Trưởng thành khi đất nước có chiến tranh, ông đã gia nhập quân đội. Khi nhảy dù xâm nhập miền bắc VN, ông đã bị bắt vào năm 1966. Ðược thả ra năm 1987, ông đã mất 21 năm trong chốn lao tù. Năm 1993, được định cư ở Mỹ nhưng 7 người con còn ở lại VN. Cắp sách đi học vào tuổi 62. Tốt nghiệp cao học sau khi đến Mỹ được 7 năm.

So với việc làm của trung tâm WJC, việc nghiên cứu về người tỵ nạn của viện NOVA ít gặp rắc rối hơn. Tuy nhiên, dù vô tình hay cố ý, việc gửi bài đến Viện nghiên cứu NOVA cũng có được nội dung như mục tiêu của nhóm Nguyễn hữu Luyện đề ra là: góp phần làm sáng tỏ lý do việc bỏ nước ra đi của người dân Việt sau năm 75, nói lên phần nào nỗ lực vươn lên và hội nhập vào xã hội mới của người tỵ nạn Việt Nam. Nhưng may mắn cho nhóm người này, họ không tốn tiền. Họ chỉ tốn công sức ít nhiều để vận động người khác cùng gửi bài. Họ không phải thưa kiện ai và cũng không bị một sự cản trở hoặc sự tranh cãi nào từ tập thể người Việt. Ðiều thuận lợi lớn nhất cho họ là các bài viết không những được in thành sách mà còn được lưu trữ trong Viện bảo tàng nhân dân của Na Uy. Tuy thế, họ vẫn chưa hài lòng. Như nêu trên, dù rằng người chịu trách nhiệm dự án và hiệu đính bài vở đã tôn trọng nội dung các bài viết – dĩ nhiên có sửa chữa đôi chút - nhưng trong phần giới thiệu về kinh nghiệm VN, họ đã đưa ra bài viết của Brochman, như một khung đặt trước; để gói gọn những gì mà các bài viết gửi đến đã đề cập. Những người gửi bài chưa hoàn toàn hài lòng vì bài viết của họ chỉ là “… để cung cấp tài liệu về những cuộc đời bình thường“ (Innsamling av selvbiografier og livshistorier er en internasjonalt anerkjent metode, som blir brukt i ulike sammenhenger for å dokumentere vanlige menneskers liv – trang 11). Họ muốn có những đóng góp có tính nghiên cứu; nghĩa là việc tìm hiểu, tra xét, thống kê có đối tượng là một số đông người, một tập thể lớn. Những công trình như thế sẽ là tài liệu tham khảo cho sinh viên, cho giới viết sách và học giả bản xứ. Công trình đó càng đặc biệt khi được viết bằng hai ngôn ngữ, Na Uy và Việt Nam. Nếu làm được như thế, việc giới thiệu về lịch sử cộng đồng tỵ nạn của chúng ta sẽ toàn hảo hơn; nghĩa là có cả tính cung cấp tài liệu (để bổ túc) và tính tham khảo (để dẫn chiếu).

Giả dụ một dự án khác về ngoại kiều được thực hiện trong vòng 10 năm tới, đó là thời gian mà thế hệ thứ hai đã được 40 tuổi (lớp người được sinh ra vào năm 75 và trưởng thành tại Na Uy) liệu rằng tập thể chúng ta có đáp ứng được yêu cầu trên không ? Có thể, đến lúc đó, lớp người vào độ tuổi nói trên đã quên hết tiếng Việt …hay nói cách khác, họ không còn quan tâm đến những việc có sự liên hệ với thế hệ thứ nhất ? Chúng ta có thể đưa ra kết luận như sau mà không sợ có nhiều sai lầm: sợi dây kết nối các thế hệ di dân ở nước ngoài, được củng cố và phát triển nhiều hay ít, cũng do ảnh hưởng bởi những hoạt động của các hội đoàn.

* * *

Bất cứ làm một việc gì, mọi người đều phải có riêng cho mình cách giải quyết công việc. Trước khi đầu tư vào một công việc gì, ai cũng phải có riêng kế hoạch hay chương trình làm việc. Công việc phát thảo những việc sẽ làm để hoàn thành kế hoạch hay chương trình, được ghi rõ trong một bản văn gọi là dự án. Bất cứ tập thể lớn nhỏ, dù quốc gia hay hội đoàn, bất cứ cá nhân nào cũng có dự án riêng.

Ngày xưa, Lê Lợi đã tốn hơn mười năm để đánh đuổi giặc Minh. Lịch sử cận đại cho thấy là qua bao sự cố gắng của các nhà ái quốc, dân ta mới chấm dứt được sự cai trị của thực thực dân Pháp. Những người yêu nước như thế rất nhiều. Ta chỉ kể một vài điển hình như Phan bội Châu, Phan chu Trinh, Nguyễn thái Học. Sau 30.04.75, tập đoàn cai trị CS bắt chước Liên Xô đề ra kế hoạch kinh tế 5 năm nhưng chỉ đem lại sự đói, khổ cho dân chúng và làm nền kinh tế quốc gia xuống dốc thê thảm. Không những thế, tập đoàn này dùng chế độ khẩu phần và hộ khẩu để kiểm soát người dân. Họ tước đoạt những quyền căn bản của con người. Từ những năm 80, dân Việt hải ngoại đã hình thành những tổ chức nhằm lật đổ chính quyền CS tại quê nhà. Những người Việt đã vượt thoát ra khỏi nước bằng cách này cách khác, đã cũng bằng cách này cách khác, nói lên những sự thật về chế độ CS, nói lên sự thâm độc của họ trong chánh sách công an trị và việc cưỡng đoạt quyền làm chủ của người dân; tố cáo trước mọi người về hành vi bán đất và hải phận. Họ thấy được sự nguy hại của chương trình TV4 và việc đưa những đoàn văn công ra nước ngoài trình diễn. Nỗ lực và sự phản đối kiên trì của họ đã làm cho những kế hoạch vừa nói bị thất bại. Những thành công đó không phải một sớm một chiều mà có.

Góp phần vào những nỗ lực nói trên, chúng ta thấy có những đóng góp có ý nghĩa.

- Ông Võ đại Tôn, vượt biển đến Úc năm 1976, về lại Việt Nam năm 1981, để tham gia Kháng chiến phục quốc. Sau khi bị biệt giam 10 năm, được thả ra, trở về lại Úc Châu năm 1991. Năm 1992, bút ký ”Tắm máu đen” được phát hành. Trong phần mở đầu, ông ta nói: ” Nhưng vì lẽ tôi là nạn nhân và chứng nhân của một chế độ lao tù khắc nghiệt nhất ở cuối thế kỷ 21 này, do chính những người cùng chung nòi giống gây ra cho cá nhân tôi và toàn thể dân tộc VN, nên tôi phải có bổn phận vạch trần sự thật đẫm máu ..” Hiện nay ông vẫn còn tiếp tục những hoạt động để phục vụ lý tưởng tự do, dân chủ cho quê hương.

- Lý Tống, sau 5 năm tù cải tạo, đã vượt ngục đến Mỹ năm 1984. Năm 1992, bị bắt sau khi thả truyền đơn bằng máy bay tại Sài Gòn, bị kết án 20 năm tù. Tháng 11.2000, ông lại lần nữa thả truyền đơn xuống không phận Sài Gòn. Trong khoảng thời gian 8 năm sinh sống tại Mỹ, ông đã học xong ban cao hoc, nhưng chưa trình luận án chính trị, để sau đó thực hiện việc rải truyền đơn, kêu gọi người dân trong nước tổng nổi dậy, lật đổ chế độ CS. - Ông Nguyễn chí Thiện, tác giả tập thơ ”Hoa điạ ngục”, khi ở VN, đã bị bắt đi bắt lại nhiều lần. Năm 1966, ông đã bị tạm giam tại trại tù Trần Phú, Hải Phòng. Riêng lần bị bắt lần thứ ba, ông đã ở tù đến 8 năm. Tập thơ ” Hạt máu thơ ” có hơn 400 bài thơ, được làm trong thời gian ở tù, từ năm 1978 – 1988. Năm 1991, được thả. Năm 1995, sang Hoa Kỳ. Từ đó đến nay, ông tiếp tục sứ mạng nghệ thuật với ” …nguyện ước đem lời thơ của mình phổ biến rộng rãi để tố giác và lên án tội ác của VC đối với dân tộc VN trong những thập niên vừa qua ”( Lời cảm tạ, tập II, ”Hạt máu thơ” )

- Ông Nguyễn hữu Luyện, sau 21 năm bị CS cầm tù, làm lại cuộc đời tại nước Mỹ. Nhưng vào năm 2000, nghĩa là sau khi đã ở đó được 7 năm, ông đã bỏ ngang việc đèn sách để thực hiện một việc khác mà việc đó sẽ nói lên được lý do tại sao ông đã bị cầm tù 21 năm. Việc đó còn nói lên được tình cảnh của cả một dân tộc bị nhốt trong một trại giam vô hình, với chế độ công an trị, vươn tỏa trên khắp đất nước VN suốt 30 năm nay.

Ðấy là mới kể sơ lược để phù hợp với bài viết ngắn gọn này. Người yêu nước chân chính ở nước ta, thời nào cũng có rất nhiều. Tại sao những người này lại tốn công sức quá mức đến thế? Họ dành gần như hết cả cuộc đời để theo đuổi lý tưởng mà họ đã phác họa khi còn niên thiếu. Lý tưởng đó là tự do, dân chủ. Ðó là những dự án của cả cuộc đời. Những dự án này có khi phải được trả giá bằng chính mạng sống của người đã phác họa ra nó. Rủi thay, đôi khi giá trị của những việc này chỉ đem đến một kết quả là: ”Không thành công thì thành nhân”. Nhưng, ngược lại, giá trị của một dân tộc lại được đánh giá qua số lượng những người dám nêu ra câu nói đó. Hiện nay, thanh niên VN ở hải ngoại đã thành công rất nhiều trên mọi lãnh vực.

Những dự án nhỏ của riêng họ đã được hoàn thành và những dự án đó đã đem lại cho họ những vật chất, tiện nghi cụ thể. Nhưng không lẽ cuộc sống của con người chỉ được xây trên những yếu tố đó. Lớp người lớn tuổi kỳ vọng nhiều vào lớp con, em của mình nên một người nào đó như ông Phạm văn Thanh, đã có lời nhắn nhủ qua bài viết, đăng trên tờ báo Người Việt, số 30.08.2004 như sau: ”Ðất nước rất cần những con người có lòng, khả năng và đức độ một lòng phục vụ quê hương và đồng bào. Có nghĩa rằng, đất nước chúng ta không cần đến bất cứ cá nhân hay đoàn thể nào, dù tài giỏi cách mấy mà không thể mang tài năng đó phục vụ dân tộc, chỉ mưu đồ riêng tư hay bè phái”. Ông ta đã bức xúc nói lên điều này khi thấy có nhiều ý kiến khác nhau, chống đối về vụ kiện tập thể; kiện viện đại học Massachuset. Một cá nhân tài giỏi chỉ có một giá trị riêng cho người ấy. Nhưng một tập thể, một cộng đồng tốt có giá trị cao hơn như thế rất nhiều. Giá trị ấy rất đặc thù vì không phải đơn thuần là sự cộng lại những giá trị cá thể. Ðặc biệt khi tập thể đó phải sống hòa nhập trong một môi trường xã hội khác. Củng cố việc sinh hoạt của hội đoàn có lợi như đã nói trên- không có tiếng nói của hội đoàn tức là không có tiếng nói của tập thể- và còn có một cái lợi lâu dài khác là tạo nên sự kết nối giữa các thế hệ di dân. Người mà quên đi nguồn gốc của mình cũng phần nào có ý nghĩa là quên đi giá trị của riêng mình. Ðầu tư vào việc củng cố hội đoàn trong lúc này sẽ có lợi về tinh thần, và lợi này sẽ lâu dài. Dự án đó không đòi hỏi tốn phí cả một đời người và không đòi hỏi người làm việc đó phải hy sinh tính mạng. Chỉ khi nào công việc này hoàn thành, lúc bấy giờ những công trình khảo cứu về cộng đồng của một sắc dân nào đó, được giới thiệu đến người bản xứ, mới có giá trị toàn hảo.

Oslo 31.12.2005
Ðặng quang Chính


In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè:

     http://tudovis.com/kktd/binh_luan_2/bl_mot_du_an_mot_cuoc_doi.html

Người gửi:

Địa chỉ email: *


Người nhận:

Có thể gửi cho nhiều địa chỉ, nhớ bỏ dấu phẩy trước khi bắt đầu địa chỉ mới.
Địa chỉ email: *
Lời nhắn:
 
* Thông tin bắt buộc        
Note: Chi tiết bạn điền vào trang này sẽ không được dùng để gửi thư không mời, hoặc bán cho nơi khác.