Về Nam, hai tiếng ấy luôn luôn réo gọi trong nỗi hy
vọng chứa chan của chúng tôi, những tên tù biệt xứ. Từ ngày xuống tàu
Sông Hương ra Bắc, cả một lũ lôi thôi lếch thếch đổ bộ lên - một kho
năm kho bảy gì đó- cảng Hải Phòng, trong một buổi chiều nhá nhem, giữa
những ánh đuốc và ánh mắt hận thù, giữa súng, lưỡi lê và tiếng gầm gừ
của đàn chó săn Đông Đức, chúng tôi cảm thấy một nỗi tuyệt vọng không
bờ bến.
Miền
Nam giờ đã quá xa, ba ngày đêm dưới những khoang tàu trâu ngựa, ngập
ngụa tanh hôi, xa trong nỗi nhung nhớ, xót xa. Ở phương trời đó bao
nhiêu gia đình, có cả con thơ, vợ dại, mẹ già ngày đêm trông ngóng, mò
mẫm trong những mớ tin đồn, những thông cáo trấn an… Không ai biết
chúng tôi đi đâu, bằng phương tiện gì, chết sống, đày đọa ra sao.
Trên
chuyến tàu đêm hôi hám, nghiêng ngửa xô lệch, chúng tôi nghe nỗi va
chạm giữa những bộ xương gầy ấy với thân con tàu cứng lạnh, giữa những
bánh xe rên xiết rợn người trên những đường sắt. Chúng tôi nghe tiếng
gió rít ngoài khung cửa, và tiếng còi tàu thỉnh thoảng thét lên trong
đêm khuya như để dọa nạt, gieo thêm nỗi kinh hoàng của những con vật
người chất chồng trong những toa tàu đang lao mình về với địa ngục. Rồi
buổi sáng ra, bao nhiêu phong cảnh của quê hương, những địa danh đã
thường nghe trong những bài địa lý ngày xưa, những nhà ga, những chiếc
cầu sắt hoen rỉ lần lượt hiện ra trước mắt chúng tôi, nhưng trong một
nỗi ngỡ ngàng, xa lạ.
Chúng tôi tới Yên báy, một nhà ga nhỏ
cuối đường tàu, còn vết đào xới vì chiến tranh, chung quanh nhà ga chỉ
thấy toàn đàn bà lam lũ và công an áo vàng. Qua những nẻo đường đất
nước, giữa cơn nắng tháng tám nám đen những khuôn mặt, giữa những trận
mưa đá hận thù được dàn dựng, cảnh cáo chúng tôi không được ngẩng mặt
lên nhìn ai. Đây chính là đất trích của những kẻ phát vãng, như trong
chuyện chiến tranh thời cổ, kẻ chiến thắng chở chiến lợi phẩm và bắt tù
binh đem về hậu cứ ... Chúng tôi qua thác Bà, vùng đất trước đây là
thung lũng, nay đã trở thành hồ lớn, vết tích những công trình xây dựng
còn sót lại là cái nóc nhà thờ với cây thập tự nhô lên khỏi mặt nước.
Chúa Ơi ! Có nỗi khổ nào bằng, sao Chúa đã bị đóng đinh rồi mà chúng
còn dìm Chúa xuống nước!
Từ Hoàng Liên Sơn, chúng tôi dõi nhìn
về phương Nam, chỉ thấy núi rừng trùng điệp. Miền Nam đã xa khỏi tầm
mắt, chỉ còn trong nỗi nhung nhớ khôn nguôi. Những buổi chiều rã rời
trở về trại, nghe thoảng trong gió đưa xa tiếng mõ trâu, lê bước qua
những ngôi nhà sàn , thèm chút hơi ấm từ những bếp lửa gia đình và
tiếng cười nói xôn xao. Những đêm mùa đông buốt giá, thân ve bụng lép,
trăn trở trên những vạt tre già; những ngày lên rừng xuống nương thất
thểu với gốc cây rừng, bó nứa nặng trên vai, tôi vẫn tự nhủ thầm, an
ủi: phải sống mà về.
Về Nam, có nghĩa là chúng tôi chấp nhận khổ
đau của cuộc đời tù tội giảm lại chỉ còn một nửa. Năm nào, vào những
tháng mùa đông, chúng tôi trong những lúc tán gẫu vẫn thường hỏi nhau :
“Tết năm nay bọn mình ăn bánh chưng hay bánh tét ?” Bánh chưng là Tết
phương Bắc, bánh tét là vị Tết miền Nam. Nếu chưa về sum họp được với
gia đình, thì ít nhất cũng về được với miền Nam nắng ấm. Chúng tôi đã
quá chịu đựng với những đêm co quắp vì lạnh nằm nghe tiếng gió rít trên
đồi, với tiếng loa rè rè phát thanh bản tin cuối cùng của Đài Hà Nội,
những buổi sáng trời còn sương muối, cơn lạnh cắt da thịt những bàn
chân trần lội qua con suối lạnh.
Cho nên trước ngày được tin
sửa soạn về Nam, chúng tôi rộn rã, phấn chấn như được ra tù. Ở Bắc
chúng tôi là những người tù xa xứ bị giam giữ giữa những vòng vây súng
đạn và hận thù, về Nam, chúng tôi là những người bạn bị sa cơ thất thế,
còn trong vòng lao lý. Con tàu qua cầu Hiền Lương, rồi từ đó con tàu
chạy sát với quốc lộ ruột rà đã mang biết bao nhiêu kỷ niệm vui buồn.
Trên những nhà ga miền Nam, những em bé đã vẫy tay không ngớt chào đón
chúng tôi trở về bằng những món quà nhỏ dạn dĩ ném qua cửa sổ con tàu,
những người mẹ nhìn theo cánh tay áo chùi ngang khóe mắt. Những lòng
nhà ga miền Nam chúng tôi đi qua đã được phong tỏa bằng mọi hình thức.
Sau những cánh cửa đóng, sau những hàng rào kẽm là bà con miền Nam
chúng tôi đang vui mừng mà ngậm ngùi đón chúng tôi trở về.
Xưa
kia, những ngày lớn lên sống xa nhà tôi vẫn thích có những ngày được
trở về Huế. Trở về Huế, chứ không phải ra Huế. Về, có nghĩa là trở lại
nơi phát xuất, nơi đã từ đó mà ra đi, về là về với cội nguồn, gốc gác,
vì vậy trong đời tôi, đã bao nhiêu lần nhắc tới một chỗ về, một ngày
về, và đã bao giờ thực hiện được một chuyến về. Sau bao nhiêu nỗi thăng
trầm, đau khổ, tôi muốn được trở về, có dịp tắm lại trong giòng sông ấu
thơ. Trở về, trở về một nơi tôi có cả một quãng đời ấu thơ vui buồn,
nơi còn có mẹ tôi và căn nhà cũ đầy kỷ niệm, nơi có ngôi làng nhỏ, nơi
có con sông, những mái trường cũ, những thảm cỏ xanh, dù sao đi nữa
cũng dịu dàng, êm ái của một thời.
Tôi xuống sân ga một đêm trời
mưa rét, Huế tù mù lạnh lẽo với những ngọn đèn đường vàng vọt. Nỗi khốn
khó, khổ đau và cả nỗi nhẫn nhục hiện lên đậm nét trên từng khuôn mặt
của người phu khuân vác, những người lái xe ôm và tôi nghe cả trong
tiếng rao hàng trong khuya nỗi mệt mỏi chán chường và chịu đựng của một
đời nghèo khó tỉnh nhỏ. Tiếng còi tàu thường réo gọi, thôi thúc người
ta đi xa, tiếng còi tàu hôm nay, trong ngày trở về nhắc đến cho tôi bao
nhiêu nỗi ly biệt, ngăn cách. Dưới chiếc cầu ga, giòng sông Ngự tăm tối
vẫn lặng lẽ chảy, giòng sông đã từng ôm ấp bao nhiêu hình ảnh của một
thời áo trắng, và trên con đường ướt mưa đêm tôi như hình dung ra tiếng
guốc của một tháng ngày đã xa.
Tôi không tìm được một nơi trở
về yên tĩnh. Ở nơi đó đã có quá nhiều thay đổi khiến người ta phải xót
xa, có quá nhiều mất mát làm người ta phải ngậm ngùi. Những bờ thành vỡ
nát rêu phong, những con đường gạch xô lệch, những hồ sen khô cạn,
những cây sứ không còn hoa, những khẩu súng thần công nằm trơ trụi dưới
trời mưa nắng. Đó là cảnh vật, còn con người ? Tôi như ít gặp lại
những người quen biết, hình như họ đều là những người đã đi xa. Tôi gặp
rất nhiều khuôn mặt lạ lẫm của những người mới tới. Những người khác
cho ở lại là số phận hẩm hiu cuộc đời đã dành cho họ. Những gì của quá
khứ như đã vùi sâu trong những phần mộ, lăng tẩm; những gì thuộc về
tương lai mang một vẻ héo hắt cằn cỗi. Những nụ cười thường hiếm hoi và
những đôi mắt nhìn nhau như e ngại. Những gì tôi bắt gặp hình như khác
xa những gì tôi thường ôm ấp và vẽ vời trong một trí tưởng tượng cho
một ngày về.
Đêm cuối cùng trước khi rời Huế, đã khuya, tôi
còn muốn ngồi nán lại trên một đoạn bờ sông nào đó. Trong đêm, tôi có
cảm tưởng như nghe được hơi thở của đêm, tiếng chèo xô nước của một con
thuyền vừa di chuyển, ánh đèn thấp thoáng bên kia sông như một nỗi
buồn hiu hắt. Nơi tôi muốn trở về hình như có một đời sống khác, ẩn sâu
và chìm lắng, nó khơi dậy cho người trở lại những nỗi buồn, cuốn người
ta chìm sâu vào trong những gì không có trong hiện hữu mà ở một cõi nào
khác.
Ngày mẹ tôi qua đời, tôi đang ở xa mẹ tôi nửa vòng trái
đất. Đã lâu rồi không gặp mẹ, tôi không hình dung nổi bây giờ bà ra
sao, hình ảnh cuối cùng mà tôi còn giữ trong lòng về mẹ tôi là đêm cuối
cùng, lúc bà nằm ngủ yên trong chiếc mùng nhỏ đã buông xuống, hai tay
chấp trên ngực, hơi thở đều hòa. Có lẽ lúc mẹ tôi nằm trong quan tài,
khi hơi thở không còn, cũng với tư thế như vậy. Tôi đứng lặng nhìn mẹ
tôi, bịn rịn không muốn chia rời, vì tôi biết tôi khó lòng gặp lại mẹ
tôi. Sáng hôm sau tôi đã lên tàu sớm, để sau đó thực hiện một chuyến đi
xa… Bây giờ dù tôi có dịp được về, mẹ tôi cũng không còn nữa. Chính mẹ
là hình ảnh của quá khứ, quá khứ thoạt đầu ở rất xa, rồi cuối cùng nhạt
nhòa, nhưng vẫn còn lặn sâu trong tiềm thức, trồi lên trong những giấc
mơ, như nỗi hồi tưởng đột nhiên trở lại không hề báo trước.
Xưa
kia, dù ở nơi đâu, tôi cũng có một chỗ để trở về. Những chiều mùa đông
rét mướt, hay một ngày nắng hạ oi nồng, khi thành phố đã lên đèn, căn
nhà nhỏ bao giờ cũng là nơi để trở về vào cuối ngày. Tôi xếp bỏ những
mệt mỏi phiền muộn của một ngày để trở về trong ánh đèn ấm cúng, dưới
khung cửa thân quen. Cũng như tôi đã bỏ một thành phố xô bồ rộn ràng
tiếng động, với những món nợ áo cơm để trở về một nơi nào đó yên tĩnh,
mà tôi có thể tìm thấy lại mình trong tuổi ấu thơ hồn nhiên không hề lo
nghĩ.
Bây giờ là những ngày tháng ở xa. Tôi như một con nước đã
đi quá xa nguồn, qua sông, về biển. Tôi như con chim đã quá đường bay,
đang ở một phương trời xa lạ. Tôi còn có chăng một nơi để trở về. Xưa
đi xa, tôi muốn trở về nhà; ra Bắc, tôi muốn trở về Nam; ở Saigon, tôi
muốn trở về Huế. Có lẽ điều bất hạnh nhất của một người là không có một
nơi nào đó để trở về. Tôi nghĩ đến điều đó nhiều năm nay và sẽ ấp ủ nó
mãi mãi sau này, và đôi khi bất chợt rùng mình sợ hãi, nếu thật hôm
nay tôi chưa có một nơi để trở về.
Con chim phiêu bạt có một
phương nam nắng ấm để trở về trong mùa đông, những con én mỗi năm trở
về với mùa xuân trên tháp chuông Capistrano, người tù khổ sai còn có
một đoạn đời cuối trở lại căn nhà cũ. Thúy Kiều trong suốt mười lăm năm
lưu lạc, lúc nào cũng canh cánh bên lòng một nỗi hồn quê theo ngọn mây
Tần xa xa. Sau những ngày xứ người phong trần, mỏi mệt, tôi biết trở về
về đâu. Quê hương không xa lắm trên đường bay của một cánh chim, nhưng
xem chừng như còn có quá nhiều cách trở. Chung cuộc, nỗi xót xa của
chúng ta là nỗi xót xa vỏ cây bị bóc rời ra khỏi cốt lõi, da đau đớn
lóc ra khỏi xương.
Những niềm mơ ước đơn sơ ấy rồi trong những
ngày cuối của cuộc đời, chúng ta có thực hiện được không? Đó là nơi về
của thân xác, nhưng phải chăng thân xác phải trở về với cát bụi như
thân xác ấy từ cát bụi mà ra.
Bây giờ là lúc tóc đã bạc, tuổi
đã xế chiều, những mơ ước hăng say của một thời đang dần dần đi chậm
lại, mang thêm chút mệt mỏi buồn phiền của những điều bất như ý. Tôi
thấy quá khứ hình như đã đứt đoạn, quay đầu nhìn lại thấy cả một khoảng
cách thật xa, mà trước mặt, những ngày cuối cùng của một đời người hình
như lại rất ngắn ngủi.
Nếu thực sự cõi đời này là cõi tạm, thì
chúng ta chắc chắn sẽ có một nơi là vĩnh hằng. Nếu xem cuộc đời này chỉ
là nơi sống gởi - sinh ký, thì rồi chúng ta có một chốn để về - tử quy.
Một nơi để về, phải chăng trong suốt đời người, chúng ta luôn luôn nghĩ
về một nơi và một lúc như thế, dù có khác nhau, nhưng cuối cùng vẫn là
một.
Huy Phương
(trong Nước Mỹ Lạnh Lùng)