Còn nhớ, cách
đây khoảng hơn sáu mươi năm, nghĩa là lúc đó tôi mới năm, sáu tuổi, ôm
cuốn sách Học vần lớp Đồng Ầu tới nhà thầy Tổng Lâm trong xóm để thầy
ban phát cho ít chữ Quốc Ngữ a, bê, xê dắt dê đi ỉa, a, á, ớ đi chợ về
chưa? Chỉ cách đó vài năm trước, mấy anh chị họ tôi còn phải ngồi xếp
bằng ngay ngắn, trên chiếc chiếu cói trải dưới đất, đầu lắc lư, miệng ê
a đọc theo thầy đồ, khăn đóng áo dài, mớ Tam Tự kinh: thiên là trời,
địa là đất, thất là mất, tồn là còn, tử là con, tôn là cháu…
Trên bìa cuốn sách có vẻ hình con chó và con gà đang châu mỏ nói chuyện với nhau rất ngộ nghĩnh, dưới có chua hai câu thơ:
Chó với gà một nhà thân thiết,
Khi rảnh rang mài miệt chuyện trò!
(Hai câu này mãi cuối năm học tôi mới đọc được)
Hình
vẽ con chó nói chuyện với con gà một cách thân thiết làm tôi cứ thích
nhìn và rờ rẫm mãi, đến nỗi mấy tháng sau cái gáy và hai góc sách mòn
sờn, rách bươm, cong lên như cái sâu kèn.
Thuở ấy nhà tôi cũng
có nuôi một con chó vàng, cha tôi đặt tên là Vàng, và một bầy gà. Má
tôi sợ mèo nên nhà không nuôi mèo. Con Vàng cứ rình mấy con gà từ sân
sau lẻn vô nhà kiếm ăn là rượt chạy chí chết.
Tôi chẳng thấy hai con vật này trò chuyện với nhau bao giờ.
Ngược lại, cái câu: “Gấu ó như chó với mèo”
là tôi thấy đúng phóc. Cô mèo hàng xóm vừa mới lượn lờ qua hiên nhà tôi
là cậu Vàng đang nằm ở góc sân, lim dim mắt, tơ lơ mơ dưới nắng, lập
tức mở choàng mắt, phóng mình tới, mồm nhe ra cả bó răng, cổ họng gầm
gừ như muốn ăn tươi nuốt sống cô mèo yểu điệu thục nữ dễ thương kia.
Lúc này, nhìn dáng liễu yếu đào tơ của cô mèo phản ứng tự vệ mới thấu hiểu được hết ý nghĩa cái câu ngạn ngữ: “Đừng đánh thức con mèo đang ngủ”
Cô
em đang mềm mại, ẻo lã dễ thương với dáng đi uyển chuyển quí tộc đó,
bỗng chốc thành một mụ phù thủy cùng hung, cực ác với hai con mắt rực
lửa, lông cổ xù lên dựng đứng như bờm sư tử, hai chân trước giơ lên với
những móng chân sắc như dao cạo, quào tới tấp vào mặt đối phương, miệng
kèm theo những tiếng gào the thé nghe nhức nhối cả tai.
Cậu Vàng
nhà tôi tuy hùng hùng, hổ hổ vậy chớ cũng biết sợ và e dè khi người đẹp
nổi giận. Cậu ta chỉ xử dụng mỗi cái chiêu duy nhất là “lấy thịt đè
người”, ỷ vào cái to xác, hù em trong vòng “ba búa” đầu như Trình giảo
Kim thôi.
Sau ba búa mà đối thủ không chạy thì ta… chạy.
Và
mười lần y như một, cái trận chiến ban đầu tưởng chừng sẽ long trời lở
đất, nhưng chỉ trong vòng vài phút, chờ cậu Vàng thối lui ba bước là cô
mèo nhanh như chớp, ngoắc mình phóng lên cây cau, trèo tuốt lên cao.
Cậu
Vàng gỡ gạc sĩ diện ra vẻ ta đây anh hùng, ngước mõm sũa theo mấy tiếng
gâu… gâu…“tha cho làm phúc” rồi nhẫn nha trở lại góc sân, khoanh rế,
tiếp tục giấc tơ lơ mơ.
Về phía cô mèo, từ trên cao dòm xuống,
đỏng đảnh meo… meo…: “Ta nào có sợ chi mi. Đồ chó! Ta trèo lên cây cau
là chỉ để “hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà” mà thôi! Mi hãy đợi đấy”!
Cái
cảnh chó với mèo gấu ó nhau cứ y hệt như “tình hữu nghị đời đời bền
vững của nước An-Nam-anh-hùng-ta với người anh em Trung-Quốc-vĩ-đại-ta,
bắt nguồn từ cái lúc ông Mác râu xồm khai thiên, lập địa xướng ra cái
chủ nghĩa vô sản quốc tế, anh em bốn biển một nhà vậy.
Sở dĩ tôi
nhớ đến cuốn Học Vần Đồng Ấu ấy vì chợt nhớ ra năm con Gà (dịch) sắp
hết, con Chó (không biết dại hay khôn) đang chồm chồm trước ngõ muôn
tuôn vô nhà.
Cứ mỗi lần Tết sắp đến, từ cái thuở “thanh bình ba
trăm năm cũ” cho đến cái thời Đệ Nhất, Đệ Nhị Cộng Hòa, và bây giờ là
Cộng Hòa Xã Hội ba mươi năm, là hàng loạt báo Xuân khổ lớn, khổ nhỏ đủ
loại bày bán tưng bừng từ trong tiệm sách ra tới lề đường như trăm hoa
đua nở. Muôn sắc muôn màu. Và dĩ nhiên, bắt buộc, không hẹn mà nên, báo
nào cũng có hai bài nòng cốt chiếm mấy trang đầu, một cách trang trọng.
Đó là Sớ Táo Quân dài lê thê y như Sớ Táo Quân thứ thiệt, “ráp bo” đủ
thứ chuyện trên đời, từ trong làng ra ngoài xã, từ chuyện thời sự quốc
nội lan ra ngoài chuyện quốc ngoại, quốc tế.
Và bài tiếp theo hấp dẫn nhứt của báo Xuân nhất định phải là nói về con vật cầm tinh năm đó.
Ối
thôi! Đủ thứ chuyện hầm bà lằng xá cấu. Từ chuyện xưa cho đến chuyện
nay. Chuyện Đông sang chuyên Tây đều được mấy ông văn sĩ khai thác tận
tình. Trước để mua vui cho độc giả sau kiếm chút nhuận bút tiêu tết với
thiên hạ,
Chẳng hạn năm sắp tới đây là năm Tuất, cầm tinh con
chó. Thế là chuyện chó được bổn cũ soạn lại. Giòng họ tổ tiên chó tám
mươi đời lại được lôi ra làm mới. Từ chuyện xưa như trái đất, con chó
của tên đạo chích cắn vua Nghiêu bên Tàu cho đến con chó của Rinh Tinh
Tinh trong phim hoạt họa bên Tây cũng được đem ra xào qua, nấu lại. Từ
chuyện chó có nghĩa, chó trung thành, chó ma sủa trăng, chó hú trên đồi
hoang, cách nuôi chó săn, chó nòi… cho chí chuyện xe cán chó, chó cán
xe cũng được đem lên chưng bày đầy đủ trên mặt hàng, đầy nghẹt mấy chục
trang báo.
Có báo còn lấp la, lấp lửng khiêu khích độc giả bằng
cách trích đoạn truyện “Cậu Chó” của tác giả Nguyễn Đức Lai, có cái đầu
trọc, nhẵn bóng như cái… mông Thẩm Thúy Hằng nữa chớ.
Những năm
đó, Tết nào tôi cũng mua một lô về, đọc cho qua ba ngày Xuân, chán như
cơm nếp nát. Thấy tờ nào cũng na ná như tờ nấy. Chừng ấy chuyện.
Tôi
lại liên tưởng tới mấy thầy, cô giáo dạy học trò tập làm văn tả vật, tả
người, cho học trò cái mẫu nhập đề trực khởi, đơn giản dễ làm như:
- Nhà em có…
Học trò dốt văn cứ thế mà làm, không sợ trật vào đâu được.
Khi đề bài ra tả con gà, trong lớp có bốn chục em thì hết ba mươi tám trò đều có câu nhập đề y chang:
- Nhà em có nuôi một con gà…
Hôm sau tả con chó thì cứ y:
- Nhà em có nuôi một con chó…
Gặp lúc tổ trác, ra đề: Hãy tả ông nội em. Thì không biết mấy ông thầy, bà cô cười dở hay khóc mếu khi đọc:
- Nhà em có nuôi một ông nội…
Nhưng
bây giờ, cái thời nhà nước ta đang “hối hả từ từ”đổi mới để tiến nhanh,
tiến mạnh, ba bước nhảy vọt, theo cái “kinh tế thị trường” của bọn đế
quốc tư bản đang giẫy chết, để đuổi theo cho kịp mấy cái nước chung
quanh, hồi xưa chỉ là bọn lạc hậu, chậm tiến bây giờ đã thành những con
rồng Châu Á. Mấy cái xứ man ri, mọi rợ này thừa lúc Đảng ta đang bận
bịu ngâm cứu cái Thiên đường Cộng Sản, bèn qua mặt cái vù, từ rắn biến
thành rồng. Chúng lại xấc láo hùa nhau xếp nước ta vào hạng “Rùa cổ
đại” mới đau chứ.
Vì vậy, bên cạnh khẩu hiệu: “Đảng Cộng Sản quanh vinh muôn năm” phải đi liền khẩu hiệu “Đổi mới hay là ngủm củ tỉ”.
Thế
mà, báo Xuân cũng cứ y như “thuở thanh bình ba trăm năm cũ” đem chuyện
chó ra bàn y như mấy cô cậu học trò nhỏ làm bài tập làm văn: Nhà em có
nuôi một con chó thì e rằng… chẳng có ma nào đọc.
Thiên hạ lai chun mũi phán:
- Biết rồi! Khổ lắm…
Nhưng năm chó mà không nói tới chó, không tán chuyện chó thì có cái… chó gì để nói, để viết?
- Có đấy! Có khối chuyện chó… má để nói đấy!
Ấy
là chuyện đổi đời. Chuyện chó nhảy bàn độc. Chó bỗng nhiên có giá trị
cao hơn con người từ mười đến một trăm lần hay còn hơn thế nữa. Người
ta đang đua nhau tung hê và quí trọng “khuyển quyền” hơn “nhân
quyền”.Thời sự cập nhật, bây giờ trong nước không ai còn dùng con vật
chó để thóa mạ nhau nữa như “Đồ chó đẻ! - Đồ chó má!” Hay than vãn “
Sao mà khổ như chó!”.
Lỗi thời rồi! Lạc hậu rồi!
Dùng
tiếng “chó” để mắng nhau là vi phạm “khuyển quyền” nhằm vào luật hình
sự có thể bị Công An còng tay và bị Viện Kiểm Sát truy tố ra ba tòa
quan lớn về tội xúc phạm danh dự công dân.
Bây giờ ngôn ngữ thời
thượng, người ta hay tặng nhau hai chữ âu yếm, nhẹ nhàng nhưng cay độc
và nặng ký hơn tiếng chửi “Đồ chó!” nhiều.
Đó là “Đồ đểu!”.
Mỗi
khi “ta” không đồng chí với nhau. Và nhất là lúc ăn chia không đều
trong các phi vụ “đánh quả” như rút ruột công trình, chia chát “cô ta”
xuất nhập khẩu, xà xẻo đất đai v.v…
Ở Việt Nam hiện nay ai ai cũng đều nói: - Sướng như chó!
Và than vãn : - Khổ như dân nghèo! Thà làm chó nhà giàu còn hơn!
Tôi
xa nhà hơn mười lăm năm, sống với bọn tư bản bóc lột, làm việc thiếu
điều hộc máu mồm, máu mũi, mỗi ngày mười bốn tiếng đồng hồ, hai giốp,
mới mua được chiếc xe cà tàng hiệu “Corola”, giá chưa tới mười lăm ngàn
đô, mà phải còng lưng trả góp bốn năm mới hết nợ. Nói chi tới cái nhà
phải trả góp ba chục năm nữa mới thực sự là nhà của mình, thì tới đời…
cha nào cho hết nợ?
Bởi ba chục năm nữa thì với cái tuổi tôi, tôi đã thành ông Bành Tổ rồi!
Đâu phải cứ tuổi Tỵ, con rắn, là lột được da sống đời để cho đủ ba chục năm!
Nói
chuyện nhà ra chuyện cửa. Cái bọn tư bản bóc lột chỉ có tài nói phét
cái mồm. Tám mươi phần trăm bọn chúng chỉ tổ suốt đời, từ đời cha đến
đời con, cứ ở nhà thuê và đi xe mướn. Chẳng bù với dân Việt tị nạn mình
mới qua Mỹ có vài năm, đã chụp hình đứng dựa ngửa lưng vào cái xe hơi
láng coóng trước căn nhà to sù, gửi về cho gia đình. Dưới bức ảnh có
ghi dòng chú thích: “Nhà và xe của con đây Ba Má”. (Sau này mới vỡ ra
là toàn chụp hình ké xe và nhà của thiên hạ để dợt le chơi)
Khỏi
cần phải “phụ đề Việt ngữ” để diễn Nôm thêm cái hoạt cảnh hả hê của ông
bà già ở quê nghèo, lúc trố mắt nhìn tấm ảnh, phải hít hà, xuýt xoa,
sướng rên mé đìu hiu cho con mình đã thành công, thành công, đại thành
công ở xứ người.
Trong lúc bọn bản xứ, không nhà, không xe mà cứ
chiều chiều dắt chó đi dạo nhởn nhơ. Hỏi ra, mỗi con chó trị giá tới
mấy trăm đô. Bà vợ tôi cứ chắc lưỡi:
- Mấy trăm đô một con chó,
bằng tiền lương hai vợ chồng mình đi cày cả tháng! Lại còn tiền ăn,
tiền hớt lông, cắt móng, bảo hiểm y tế cho nó nữa chớ! Ui cha mẹ ơi!
Tôi thì lãng mạn, thơ mộng hơn, tiếc rẻ:
-
Ngắm người đẹp tóc vàng, một tay dắt chó đi dạo vào buổi chiều mát
trời, nắng vàng hiu hắt trên cành cây, ngọn cỏ là số một rồi! Nhưng cái
tay kia với “năm ngón thiên thần” đang cầm bao ny lông đựng đầy cứt chó
bên trong thì coi không hạp nhãn tí nào cả!
Mùa đông tuyết phủ
đầy trời, lạnh tê người, giữa khuya, ai nấy đều quấn mền trong nhà như
con sâu làm tổ thì mấy chị già, anh già Mỹ lóng cóng, run rẩy, chân
thấp chân cao, dắt chó ra ngoài cho nó đi ị. Mà cái lũ chó khốn nạn lắm
cơ. Chúng chỉ ị hay tè ở cái chỗ chúng đã đi lần trước thôi. Không đúng
chổ là chúng ỏng eo:
-Em chả! - Em chả chịu!
Vô phúc
cho lần đầu, nếu chúng làm cái chuyện vệ sinh ấy cách nhà vài trăm
thước thì càng khốn nạn thêm cho cái thân già giữa đêm đông giá rét cắt
da, cắt thịt.
Bà vợ tôi lại chép miệng:
- Thiệt không có cái dại nào giống cái dại nào!
Nơi
thành phố tôi ở có tới mấy chục cửa tiệm chuyên bán đồ ăn và vật dụng
phục vụ cho chó mèo, chim chóc. Và cả hai cái bệnh viện lớn chuyên chăm
sóc súc vật.
Hèn chi hồi mới qua, mấy ông bạn đi trước, truyền
cho tôi câu khẩu quyết quan trọng về việc phân chia giai cấp trong xã
hội Tây phương, dặn phải nhớ nằm lòng để dễ bề hội nhập xứ người là:
Thứ nhứt đàn bà, thứ hai trẻ con, thứ ba súc vật, thứ tư mới tới bọn đàn ông chúng mình.
Tôi
cứ cho là nói phét. Ma cũ bắt nạt ma mới. Mấy anh bị Mỹ hóa, ăn theo,
nói leo chứ mới có mấy năm, biết … chó gì mà cũng ra vẻ. Nhất định
không tin.
Hóa ra, càng ở lâu càng thấm đòn. Càng ở lâu càng sáng mắt, sáng lòng, mới biết thế nào là sông sâu, núi cao.
Nhưng
Mỹ là Mỹ. Việt là Việt. Đông Tây không bao giờ gặp nhau. Mấy Ngài Mỹ ăn
no rửng mỡ, cứ việc tốn tiền, tốn thời gian họp bàn làm ra luật này, lệ
nọ. Lập Hội to, Hội nhỏ để bảo vệ súc vật. Còn dân Việt Nam anh hùng
tôi, thì cứ thịt chó tì tì. Vàng, vện, đốm, nâu, đen, trắng gì cũng rựa
mận, chả chìa tuốt luốt. Nói chung con gì mà ngo ngoe, ngọ ngoạy là dân
tôi cứ chén tuốt.
Ở đó mà luật với lệ. Chỉ tổ rách việc.
Tôi
đố các Hội Bảo Vệ Súc vật trên thế giới sang nước tôi tìm cho ra được
các giống thú quí hiếm để bảo vệ tuyệt chủng và bảo tồn môi trường sinh
thái thiên nhiên.
Nếu có, tôi xin đi bằng đầu.
Tất cả
các giống ấy đều được săn bắt để làm món nhậu cao cấp hàng ngày cho các
“đầy tớ dân” “bồi dưỡng” cho đủ “calori” để phục vụ nhân dân đến hơi
thở cuối cùng.
Còn ba cái thứ chó mèo, rùa rắn, hươu nai, nhím
sóc, chim chuộc… là thứ đồ xèng, bình dân, bán theo lề đường dành cho
dân đen, ăn cho có sức để lao động vinh quang.
Nói nào ngay! Tôi
cũng chán ở cái “xứ phồn vinh giả tạo” thừa mứa vật chất, nhà lầu, xe
hơi này. (Đi mua mỗi chai nước mắm cũng lái xe hơi. Rõ chán mớ đời!)
Bởi cái tạng của tôi chỉ thích cá kho dưa giá, mắm nêm, mắm ruốc, chớ
không hợp với “bơ thừa sữa cặn đế quốc”. Và trong máu cũng còn chút
“gien” của Ông Trần bình Trọng: “Ta thà làm quĩ nước Nam chớ không thèm
làm Tổng Thống đất Mỹ” nên cứ đinh ninh trong bụng, ráng cầy cho đủ bốn
chục cái “coa tơ rờ đít”* là ôm trọn món tiền hưu bổng “Pho Ô Oanh
Cây”*, mặc áo gấm có in hình chữ thọ, xênh xang nón mũ về làng, làm
“Việt kiều yêu nước” theo lời kêu gọi của cái Nghị quyết 36 Đảng ta.
Nhưng
bất ngờ đọc được hai bài báo trong nước nói về “giá trị thăng hoa tột
đỉnh của chó” và “phẩm giá con người rẻ ngàn lần hơn chó” tứ chi bèn
bủn rủn. Đầu óc quay mòng mòng, mụ mẫm, lú lẫn ngay lập tức. Bao nhiêu
hỏa hầu công lực dành cho ngày “vinh qui bái tổ” phút chốc tiêu tan ráo
trọi.
Hai bài báo đó có sức mạnh y như môn “hấp tinh đại pháp”
của lão Nhậm Ngã Hành, Giáo chủ Ma Giáo, dùng để hút hết công lực của
gã giang hồ Lệnh Hồ Xung vậy.
Cũng bởi-tại-vì hai bài báo nói
trên, tôi mới chẳng đặng đừng có bài viết dài dòng nói tới chó trong
năm Tuất. Mà thật ra để nói tới cái chó má của đời hơn là đụng chạm tới
cái cái “địa vị cao sang của chó” hiện nay đang lên ngôi trong nước.
Xin trích vài đoạn ca tụng “tài đức” chó để quí vị thưởng lãm trước.
Nuôi chó thời @: nhan đề bài viết ở báo Khánh Hòa điện tử ngày 05/11/05. Tác giả: Nguyên Khôi.
“Nếu
cách đây 5-10 năm, ai đó sở hữu một con chó Nhật, chó Bắc Kinh đã thấy
“chảnh” lắm rồi. Còn bây giờ thì…”xưa rồi Diễm ơi”. Thời của chó Nhật,
chó Bắc Kinh đã qua, có người lỡ nuôi rồi như cục nợ. Cho cũng không ai
lấy…
Ngày nay, gần như tất cả giống chó cảnh trên thế giới đều có mặt ở Việt nam…
Một
con chó Chihuahua lúc trưởng thành có trọng lượng từ 800 gam đến 1ký là
đạt tiêu chuẩn, tương tự một con Fox càng ốc tiêu càng quí. Hiện nay ở
Nha Trang đang “sốt” chó Chihuahua vì đây là giống chó dễ nuôi, giá
cũng rẻ (2triệu đồng/con). Nếu gặp con đẹp thì người bán “hét” đến 5 –
7 triệu đồng…
Giống chó New Foundland gốc Canada có giá lên đến 25 triệu đồng/con.
Con
Bulldog có khuôn mặt ngắn với những nếp nhăn chảy xệ trông rất ngầu và
luôn nhìn bạn với ánh mắt băng giá nhưng cái giá của nó không phải là
ít – 10 triệu đồng/con.
Giống Great Dane của Đan Mạch thì rất ngầu đời. Gía của nó dao động từ 10 – 15 triệu đồng/con.
Tuy
nhiên, điều khá bất ngờ là giống chó đang được săn lùng và có giá trị
hiên nay lại mang nhãn hiệu “Made in Việt Nam” đó chính là giống chó
Phú Quốc trứ danh…
Ở thành phố HCM cũng chỉ có khoảng 5 con chó Phú Quốc thuần chủng với cái giá ngất trời – 30 triệu đồng/con.”
Đó là sơ sơ giá vài loại chó. Còn chăm sóc chó thì sao?
Tác giả Nguyên Khôi cho biết:
“Hiện
nay, ở Nha Trang có khoảng 11.000 con chó, trong đó có khoảng 3.000 con
chó cảnh. Chính vì vậy, nhu cầu chăm sóc chó cảnh rất là cao. Trong
giới thú y, nổi tiếng mát tay là anh Hương, người chuyên môn thực hiện
các ca mổ đẻ khó. Riêng anh Khiêm, thạc sĩ thú y là chuyên gia về châm
cứu cho chó. Còn phải kể đến Bác sĩ Hạnh trên đường Trần quí Cáp. Ở
Vĩnh Hải có phòng khám thú y với khu điều trị nội trú, có phòng khám,
phòng mổ rất tươm tất.
Về phần quí ông, quí bà nuôi chó thì sao? Tác giả viết tiếp:
“Chuyện
ăn của chó cũng rất nhiêu khê. Theo các tài liệu thú y, chó có nhu cầu
về đạm cao gấp 4 lần và can xi cao gấp 10 lần so với nhu cầu của con
người. Chính vì vậy, nuôi chó không phải cho ăn cơm thừa canh cặn như
trước đây mà phải chọn khẩu phần ăn cho “cục cưng” giàu chất dinh
dưỡng, hợp khẩu vị…
Xong phần ăn uống, chữa bệnh thì chó
cũng cần được vui chơi, giải trí. Thậm chí để giảm stress cho chó vì bị
nhốt trong nhà, người ta phải đưa nó đi dạo, ngắm cảnh. Vì thế mà gần
đây xuất hiện nghề “quản thú”, chỉ với nhiệm vụ lo miếng ăn, giấc ngủ
và chăm sóc sắc đẹp cho chó. Một doanh nhân nước ngoài ở đường Trần Phú
thuê một người làm, trả lương 800.000 đồng/tháng chỉ để chăm sóc con
chó Pug của mình, trong đó nhiệm vụ quan trọng nhất là dắt chó đi dạo”.
Nhưng
đó là người nước ngoài, chỉ là chuyện nhỏ, lẻ tẻ, không nhằm nhò gì với
người Việt trong nước ta, “chảnh” hơn nhiều. Tác giả Nguyên Khôi cho
biết tiếp:
“Chị Hà ở Vĩnh Ngọc có con chó Bulldog mua với giá
12 triệu đồng. Mới tháng trước chị phải thay người giúp việc nhà vì
không biết chăm sóc chó, chị này khi tắm để cho nước vào tai khiến “cục
cưng” bị viêm tai giữa.
Chị Ánh ở đường Nguyễn Thiện
Thuật có một con Cocker giống Tây Ban Nha bị bệnh ghẻ lở phải chữa trị
qua hơn mười bác sĩ thú y. Chị phải thuê hẳn môt chiếc xe du lịch chở
chó vào thành phố HCM chữa chạy. Mất một năm trời, tốn trên 14 triệu
đồng nhưng vẫn chưa khỏi hẳn. Chị Ánh còn cử người vào thành phố HCM
học lớp trang điểm, cắt lông cho chó với học phí 1,5 triệu đồng/khóa để
về chăm sóc cho đàn chó của gia đình.
(Bài báo rất dài, còn nhiều chi tiết li kỳ hơn nữa. Ai muốn biết tường tận xin vào Web: khánhhòa.com đọc bài Nuôi chó thời @)
Ối! Trời thần, đất lở, thiên địa ơi!
Nha
Trang tôi không có nhà máy, công xưởng, kỹ nghệ chi cả, chỉ có biển
xanh cát trắng, một ít dân sống về nghề chài lưới, còn đại đa số sống
nhờ ruộng đồng ở thôn quê, ngày ngày bán mặt cho đất, bán lưng cho trời
vẫn kiếm không đủ cơm ngày hai bửa, sao lại nảy nòi ở đâu ra những kẻ
giàu có đột ngột quá vậy?
Mấy năm sau này, nhờ Đảng ta đổi mới,
li dị đoạn giao với cái thời bao cấp, học đòi theo “kinh tế thị trường”
của bọn tư bản đang giẫy chết, nhưng ta không dại gì giẫy theo chúng,
nhờ phát huy sáng kiến, đeo thêm cái đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa”
thần sầu qủi khốc, nên nền kinh tế ta khá ra, hô biến một cái, (giống
như tề Thiên Đại Thánh) lập tức có ba tỉ đô xanh từ “khúc ruột ngàn
dậm” ào ạt gửi về đều đặn hàng năm.
Nhờ vậy mà thành phố Nha Trang tôi rộ lên cái dịch xây Hô-Teo cho Tây Ba lô, mặc quần đùi áo thun, đến tham quan học tập.
Nhưng
trừ mấy cái khách sạn sang trọng 4 sao, 5 sao dọc theo bờ biển do ngoại
quốc đầu tư, đặc biệt dành cho “mấy ảnh trển” tiếp khách Hàn Quốc, Hồng
Kông, Singapore… để ký hợp đồng xuất khẩu lao động và gã chồng cho mấy
em gái quê muốn làm giàu tắt, còn kỳ dư là quán nhậu lềnh khênh. Chẳng
thấy cái gì có vẻ là thành phố du lịch hết.
Từ ngã ba Thành
chạy dài cho tới Chụt, rẽ sang tận Đồng Đế, Hòn Chồng, Bãi Tiên đâu đâu
cũng quán nhậu. Chổ nào cũng nem chua Ninh Hòa, Vịt nướng. Không đặc
biệt thịt rừng thì cũng đặc sản đồ biển.
Chỉ thấy ăn nhậu chớ không thấy làm lụng.
Vậy thì tiền ở đâu mà có để ngày nào cũng ăn nhậu?
Vẫn
theo báo Khánh Hòa điện tử cho biết, đạo quân bán vé số dạo, khắp hang
cùng ngõ hẽm ở Nha Trang lên đến con sổ hãi hùng là 2.500 người. Trong
khi đó, tổng số dân thành phố là 337.803 (theo thống kê năm 2000). Vậy
tính theo tỷ lệ cứ hơn một trăm người một chút là có một người sống
bằng nghề bán vé số dạo, thu nhập mỗi ngày chưa tới mười ngàn đồng.
Tác giả Xuân Thân, bài phóng sự: “Dưới mái nhà vé số” sau khi kể lại nhiều nỗi gian nan, đoạn trường, cay đắng cảnh cơ khổ của đoàn quân bán vé số dạo, chép miệng than:
“Nghề
bán vé số vốn khổ cực dầm mưa dãi nắng, vậy mà người bán vé số phải đối
mặt với nạn giật vé, tráo vé… Chia tay những NBVS, trong đầu tôi luôn
day dứt một câu hỏi: “Tại sao xã hội ngày càng phát triển, đời sống
người dân ngày càng nâng cao nhưng số người hành nghề bán vé số lại
càng ngày càng nhiều?Và tôi thầm mong, một ngày nào đó thần may mắn sẽ
đến với họ - những người chuyên đi bán vận may cho thiên hạ - giúp họ
thay đổi cuộc sống theo hướng tốt đẹp hơn.
Xuân Thân
Chắc
chắn cái anh Xuân Thân này sẽ không bao giờ tìm được câu trả lời và
điều thầm mong của anh ta chẳng bao giờ thành hiện thực bởi Đảng ta
theo chủ nghĩa vô thần thì làm gì có thần may mắn mà xuất hiện ra tay
cứu giúp.
Viết tới đây thì tôi nhận được cái E-Mail khẩn cấp của một người bạn từ quê nhà gửi sang cầu cứu: “Thằng
D. bạn học với bọn mình ngày xưa, đi cải tạo về, chuyên bán vé số dạo
hơn hai chục năm nay để nuôi con, đứa con gái bị bệnh tâm thần. Hôm qua
nó dựa chiếc xe đạp trành bên gốc cây để đi tiểu cạnh đó. Lúc quay lại
thì cái xe và toàn bộ vé số với mớ tiền bán được hôm đó biến mất. Nó
đang chới với vì không có tiền đền cho Đại lý và kiếm chiếc xe khác làm
ăn để nuôi con. Mấy bạn ở nước ngoài thương tình cảnh của nó mà quyên
góp kẻ ít người nhiều giúp dùm cho nó trong cảnh ngặt nghèo này”.
Đọc
xong cái “meo” lòng tôi cũng ngẩn ngơ. Cái câu than của anh chàng Xuân
Thân bỗng nhiên buột ra cửa miệng tôi lúc nào không hay.
Có phải dân tôi bỗng chốc giàu lên nhanh chóng là nhờ biết khai thác tài nguyên sau hè nhà mình chăng?
Nhớ
lại, thời gian đầu 75, cán bộ Đảng ta đêm nào cũng lùa dân ra trụ sở
Phường để học tập đường lối, chính sách Đảng, có cho biết:
- Sỡ
dĩ Đế quốc Mỹ xâm lược nước ta là vì chúng tham lam muốn chiếm lấy mỏ
dầu của ta. Trữ lượng dầu của ta nhiều vô cùng tận. Dầu của ta nhiều ví
như con voi. Dầu trên thế giới ví như con tem dán lên đít voi vậy. Đồng
bào cứ việc ra sau hè nhà bới lên vài bới là có dầu nấu bếp và thắp đèn.
Cán
bộ ta nói ngon lành. Nói rất ư là thành khẩn, y như chuyện có thật. Còn
dân ngu khu đen ngồi la lết dưới đất, ôm bụng cười gần chết.
Ba chục năm sau, lời cán bộ nọ lại trở thành sự thật chăng?
Ai
mà ngờ được lời tiên tri quàng xiên, láo toét như thế mà thiêng. Bỗng
dưng cái câu “rừng vàng biển bạc, đất kim cương” nói ví von cho vui vậy
mà lại thành sự thật.
Có nhà ra sau hè đào lên thấy toàn là kim
cương. Hốt một mớ xây nhà lầu hai ba “mê”*. Mua xe hơi xịn Mẹc xê đì.
Sắm chó Phú Quốc 25 triệu một con.
Có nhà đào lỗ trước sân trồng
hoa, hốt lên toàn là vàng khối, chở cả xe tải. Lại lật đật xây khách
sạn Muôn sao. Mua xe BMW kẻo trễ.
Dân đánh cá ngoài biển, kéo
lưới lên được toàn bạc nén, sáng trưng chớ không phải cá. Nhiều ghe chở
bạc khẳm be, suýt chút nữa bị chìm. Biển bạc mà.
Mấy cái vũng
sình trồng rau muống dọc theo hai bên lề đường, đoạn từ Mã Vồng lên Phú
Vinh bây giờ cũng phọt lên dầu lửa ngày đêm. Dân ở đó cứ đem thùng
hứng, đi bán thả ga. Giàu lên vùn vụt. Tiền đô tươi vô không kịp đếm.
Mấy
trăm mẫu rừng quanh tỉnh bị chặt trụi lũi tưởng đâu đất bị sói mòn trơ
ra đá sỏi nào ngờ đá sỏi lại biến thành vàng cục. Dân tha hồ đi lượm
mỏi tay. Rừng vàng mà. Khỏi cần tới cái nhà ông Hoàng trung Thông xúi
trẻ ăn cứt gà nữa:
“Bàn tay ta làm nên tất cả,
Với sức người sỏi đá cũng thành cơm.”
Thế
kỷ thứ hai mươi mốt rồi. Ông Thông mơ ngủ ơi! Người dân đâu còn sức
nữa. Bây giờ là thời đại “a còng (tay)”. Người ta chỉ dùng mấy ngón tay
là đủ có cơm. Chẳng hạn mấy ông có chức, có quyền chỉ cần mấy ngón tay
nguấy ngoằn ngoèo cái chữ ký để phân phối “cô ta” hay quệt cái chữ
thập, ra lệnh trưng thu đất của dân rồi đem phân lô bán lại cho ngoại
quốc là có bạc tỉ đô rồi.
Còn dân đen thì chỉ cần bới bới, moi moi sau hè nhà như nói ở trên cũng là triệu triệu phú rồi.
Cám ơn Đảng. Cám ơn Nhà nước lắm lắm. Bây giờ thì “khúc ruột ngàn dậm” khỏi phải rót máu về tiếp cho thân nhân nữa rồi.
Chưa hết chuyện chó. Xin xem thêm một trích đoạn nữa trong Tuổi Trẻ Online để cho đủ bộ lệ: Chó má!
Trích báo Tuổi Trẻ
ttp://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=109249&ChannelID=
Chợ… người!
(Phóng sự của Thế Anh, Trần Huỳnh, Ngọc Diện)
Tôi đi mua… người!
TT:
Khi mùa lũ tràn về phủ trắng ruộng đồng miền Tây cũng là lúc những phận
người mưu sinh ồ ạt kéo lên thành phố. Có người may mắn kiếm được việc
làm, như không ít người trôi dạt vào những phiên “chợ người” mà nơi đó
phận người được mua bán, trả giá như những món hàng vô tri vô giác.
“ Cần người bế em bé hay bế người lớn?”
“Chẳng
biết tự bao giờ, đoạn đưòng Ba tháng Hai thuộc Q.10, TP.HCM đã hình
thành một phiên chợ mà nhiều người gọi là “chợ người”!
Đến
đó, khi tôi mới nói cần tìm một bé gái chừng 14-15 tuổi biết bế trẻ con
thì được giới xe ôm nơi này chào mời ngay: “Loại nào cũng có. Cần người
bế em bé hay bế cả người lớn cũng được, ngồi lên tôi chở đi.”…
Mấy
anh cò cho tôi một tấm danh thiếp rất ấn tượng: “D.- chuyên giới thiệu
nữ giúp việc nhà, bán cà phê, bia, cơm, phở, may…”. Tôi tìm gặp chủ
nhân tấm danh thiếp ghi trong hẻm 1099 đường Ba tháng Hai. Chủ nhân
đang ngồi giữa, xung quanh là mấy người đàn ông đang nhìn bốn cô gái
vừa đưa từ quê lên.
Mấy gã đàn ông vừa bình phẩm, cười
cợt một cách khiếm nhã. Các cô gái không dấu được vẻ sợ hãi. Tôi nói
với D. là mới mở quán cà phê đèn mờ, cần khoảng mười em. Không một chút
đắn đo, D. nói ngay: “Cà phê ôm chứ gì? Nói toẹt ra để dễ làm ăn với
nhau. Mấy quán cà phê ôm bên Q.7, Q.9, thậm chí trên Bình Dương điện
nhờ tôi kiếm người hoài… Mà nói trước nha, hàng này khác giá ôsin nha…
“Bao nhiêu?”- tôi hỏi. “ Ba trăm một đứa”.
Điện
thoại của ông chủ cứ réo vang liên tục, người gọi “đặt hàng” tới tấp:
“Mấy đứa?…Mười sáu, mười bảy tuổi hả, mai có người đưa lên liền, tui
chặt cò mỗi đứa ba trăm, cho tháng lương đầu tiên…”
…
Theo tìm hiểu của chúng tôi thì đứng sau những “vựa người” trên đường
Ba tháng Hai là cả một đường dây chăn dắt được nối mạng từ các miền quê
có nhiều người thất nghiệp như Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Đồng
Tháp…l ên TP. HCM.
Mỗi đường dây đều có những người
chuyên dắt mối để bán đi từng số phận mà cay nghiệt hơn là còn “cắn cò”
vào thẳng tiền lương tháng của người lao động mà không cần biết công
việc ổn định được bao lâu…
Những cuộc mua bán không… văn tự
“Cái
con đen đen kia giá bao nhiêu?” Một ông phốp pháp đậu chiếc Dylan đỏ
chói giữa đường chỉ vào nhóm thiếu nữ tay xách, tay bị lấm lem bên lề
đường. Một người đàn bà nhanh chân bước xuống đường: “ Ba trăm rưởi,
lương bao cơm tám trăm, tết không cần về quê…” Cô bé da ngăm đen bước
tới phân bua: ”Bảy trăm con cũng làm nhưng tết con về lo mồ mả cha mẹ,
con nói với dì rối mà!”.
Bà “cò” chống nạnh quát: “Mày
biết gì mà nói? Muốn kiếm việc mà còn eo xách! Hai vợ chồng đi xe hơi
trờ tới. Người đàn bà ăn mặc sang trọng bước xuống nói với bà “cò”:
“Hai con đen rửa chén bốn trăm, năm thằng trắng chạy bàn năm trăm,
chiều có được không bà?”. Bà “cò” nhỏ nhẹ: “Hai chục đứa cũng có, nhưng
dạo này tụi đen hút hàng lắm, chị cho năm trăm nghe, còn mấy thằng
trắng em lấy chị giá cũ năm trăm…”.
Tôi ngạc nhiên với
những tên gọi “trắng trắng, đen đen…”, anh Năm xe ôm giải thích: “Ở cái
chợ này mấy tay “cò” gọi những người lao động gốc dân tộc thiểu số là
“hàng đen” còn mấy cô cậu nông dân là “hàng trắng”. Trước đây “hàng
đen” rẻ như bèo nhưng được cái rất siêng năng và khoẻ mạnh nên giờ
người ta chuộng “hàng đen” hơn nên mấy tay “cò” mặc sức làm giá để ăn
chênh lệch đồng lương của họ.
Hôm tôi trở lại chợ người
tìm một cô bé giúp việc, bà “cò” mau mắn đưa ra một cô bé đen nhẻm
khoảng 14-15 tuổi và bảo: “Xấu xí vậy mà siêng lắm nghen, lấy đi tui để
cho một trăm!”.
Trong lúc bà “cò” quay sang tiếp mấy lượt
khách khác vào xem “hàng”, tôi kéo cô bé ra hỏi chuyện. Em tên Trị, mới
14 tuổi, từ Sóc Trăng lên. Em cho biết đã từng đi làm cho một gia đình
ở Cần Thơ, người ta trả 300.000 đồng, bao cơm. Có người bảo lên TP.HCM
được trả giá cao hơn nên theo mấy anh “cò” ra bến xe và được đưa lên
đây. Đã ba ngày trời người ta trả giá tới trả giá lui. Với em, chỉ cần
trả 400.000 đồng là em làm ngay. Nhưng bà chủ vẫn chưa cho đi. Bà đang
chờ giá cao hơn để ăn chênh lệch…
Thiên phóng sự rất dài,
đăng những hai kỳ liên tiếp, nhưng tôi chỉ trích lại đôi chút để các
bạn coi chơi cho biết cái “chó má” của sự đời. Nếu tôi trích nhiều thêm
một chút nữa thì e rằng các bạn sẽ “lạc đường vào mê hồn trận” của cái
cảnh đấu giá nô lệ da đen ở thế kỷ 15. Các bạn sẽ hoảng loạn tinh thần
rồi tự véo vào bắp vế mình để biết đang tỉnh hay mê. Rồi hốt hoảng hô
toáng lên rằng: - Sao lại có cuộc buôn bán nô lệ mọi rợ ngay trên đất
nước ta giữa thế kỷ 21 này?
Và tôi đoan chắc rằng bạn sẽ dụi mắt
mấy chục lần mà vẫn không tin mình đang sống thực giữa cái xã hội
“triệu lần dân chủ” có cái tên mỹ miều là Xã Hội Chủ Nghĩa này. Bạn cứ
đinh ninh mình đang nằm mơ sống giữa thời Trung cổ, người ăn thịt người.
Tôi
định viết một bài vui vui để các bạn đọc chơi ba ngày Xuân, nhưng khi
đắm chìm vào hai bài báo trên, thật sự tôi không còn thiết tha gì nữa
cả. Tôi cũng không còn lời nào để gọi là lời bàn Mao Tôn Cương hay lời
bình Kim Thánh Thán được. Hai bài báo ấy đã nói lên hết cái “ưu việt”
của cái xã hội hôm nay rồi.
Tôi chỉ muốn nhắc lại cho các bạn
“nắm” các con số thôi, để khi nào có dịp “áo gấm về làng” thì bạn sẽ dễ
dàng hội nhập vào cái xã hội ưu việt ấy. Và nhất là khỏi bị “hớ” giá.
Cái con đen đen: giá 100.000$. So với Con Chihuahua giá 2.000.000$
Cái thằng trắng trắng: giá 500.000$. So với Con Phú Quốc: giá 30 triệu.
Người bán vé số dạo: thu nhập 10 ngàn đồng một ngày. So với Chợ người: Chặt “cò” mỗi đứa 300.000 đồng.
Đọc chuyện ta rồi ngẫm ra chuyện người. Thấy rằng:
-
Ở xứ Mỹ có nhiều Bà, nhiều Cô, cả nhiều Ông nữa, sáng sáng, chiều chiều
thong thả, nhàn nhã dắt chó đi dạo thật. Nhưng chưa từng thấy ai “lemon
question”* như Việt Nam ta. Thỉnh thoảng lại thấy có Cô hay Bà vừa bù
lu, bù loa khóc như cha chết, mẹ chết, vừa đi dán mấy tờ giấy lên mấy
cây cột đèn ở ngã ba, ngã tư rao thưởng cho ai tìm được con chó cưng
hay con mèo cưng vừa thất lạc. Chứ chưa hề thấy có ai “mướn nguyên một
chiếc xe du lịch để chở con chó đi chữa bệnh cả năm trời tốn 14 triệu
bao giờ”.
Ôi cái xứ sở ta sao mà khốn khổ như thế không biết.
Đã
hơn 70 năm, “Bác” du nhập cái Thiên đường Cộng Sản vào nước ta để cho
nhân dân được ấm no, hạnh phúc, bình đẳng, người không bóc lột người,
ai ai cũng như nhau. Cớ sao càng xây dựng đất nước, càng đi lên Xã Hội
Chủ Nghĩa mà giá trị con người lại tụt xuống, thua xa giá trị một con
chó cả ngàn lần vậy?
Cái khoảng cách giàu nghèo trong xã hội ngày càng khoét rộng ra, không còn cách gì vá víu lại được.
Kẻ ăn không hết, người lần không ra?
Lại
lẩn thẩn nghĩ rằng nước ta lắm tai trời, ách nước. Bão tố, lụt lội xảy
ra liên miên. Dân chúng chịu cảnh lầm than, gió mưa lạnh lẽo, đói khát
triền miên, sao mấy ông lãnh đạo từ Tổng Bí Thư xuống hàng Bộ Trưởng,
không tỏ lòng nhân, véo bớt chút tiền lẻ trong số triệu triệu đô la gửi
ngân hàng ngoại quốc để giúp cho đám con dân nghèo khổ?
Và quí
Ông quí Bà bỏ hằng mấy chục triệu ra chơi chó sao nở nhẫn tâm ôm “cục
cưng” của mình vào lòng mà đứng nhìn kẻ cơ hàn lê la đầu đường xó chợ
xin ăn?
Rồi lại hết phái đoàn này tới phái đoàn kia kéo nhau đi ra nước ngoài ngửa tay xin tiền cứu trợ.
Không biết nhục quốc thể hay sao?
Để
giữ quốc sỉ, tôi xin hiến kế mọn, nhất cử mà có đến tam, tứ, ngũ, lục
(đại) tiện, giúp cho nuớc ta giàu mạnh cấp kỳ, chẳng cần phải bị gậy ăn
mày, đi xin (thằng chó) tư bản nào hết.
Cái kế này cũng chẳng
phải tôi nghĩ ra hay mới mẻ gì, nó đã được áp dụng nhiều lần trong quá
khứ rồi. Mà lần nào kế cũng thành công, đại thành công. Nói theo kiểu
lưỡi gỗ tên lưu manh Vi tiểu Bảo trong Lộc Đỉnh ký thì là “đại công cáo
thành”.
Tôi chỉ xin nhắc lại để Đảng ta nhớ ra thôi, vì có “một
bộ phận không nhỏ” thối mồm cứ nói láo toét rằng “Đảng ta ngủ quên trên
chiến thắng” nên để nước nhà tụt hậu về thời đồ đểu.Thiệt là bậy bạ quá
chừng!
Kế sách đó được trích một chương trong mười hai cuốn
thiên thư của ông Tư Lành (miền Trung Nam bộ hay gọi Tư là Bốn, tức Bốn
Lành) tên tộc của ông Tố Hữu, thời ông còn ở truồng ở căn nhà tranh,
đằng trước có trồng cây táo). Sau lên chức Thượng Thư (bộ hạ), ở nhà
cao cửa rộng, có chó Berger canh cổng ngày đêm. Lúc còn tại vị, ông đưa
ra nhiều kế sách an dân, nhất là về phần văn chương chữ nghĩa, danh từ
thời thượng gọi là “văn học”. Ông đi trước giơ cao “tấm bảng chỉ đường
dòng văn học phục vụ Đảng”, đám sĩ phu Bắc Hà lóp ngóp đi theo. Ai đi
“chệch hướng” ngón tay chỉ của ông, ông bắt “đi thực tế” và cho ăn hạng
C mút chỉ cà tha. Mấy cái anh mắt bị quáng gà đi trật đường rầy bậy bạ
như Hữu Loan, Phùng Quán, Phùng Cung… bị “đi thực tế” từ cái dạo Nhân
văn Giai phẩm đến nay, tha hồ nhai củ mì (sắn) với muối hột mệt nghỉ.
Nhưng đó là cái chuyện vớ vẩn của mấy anh “văn nhân” chuyên đấu láo
bằng mồm, sức trói gà không chặt, chả nên tích sự gì trong việc “dựng
nước và giữ nước của Bác cháu ta”. Y như tướng võ biền Huỳnh Cái quắt
mắt nạt đám nho sĩ Giang Đông đang tìm cách vặn vẹo, đấu khẩu với Khổng
Minh, khi ông này đơn thương độc mã sang giúp Tôn Quyền phá Tào trong
trận Xích Bích thuở xưa.
Cái chương được trích từ “Thập nhị chân
kinh” của ông Bốn Lành chỉ có bốn câu khẩu quyết, mà tướng Đỗ Mười đã
triển khai thành thiên biến vạn hóa, giống như thiên la địa võng, mờ
trời mịt đất, một con mén cũng không chạy thoát. Trước khi chép bốn câu
khẩu quyết để nhắc nhở Nhà nước ta, cũng nên có vài nét về tiểu sử của
tướng Đỗ Mười, gọi theo cách nói bây giờ là “lý lịch trích ngang”.
-
Đỗ Mười thuở nhỏ con nhà nghèo nhưng rất thông minh, học giỏi hơn hẳn
những đứa trẻ trong làng, nhất là môn toán. Có lần ông đố bạn cùng lớp
: Đố chúng mày bảy cộng bảy là mấy? Cái đám bạn ngu đần đều nói một
rập, trả lời là mười bốn. Đỗ Mười cười khẩy khinh bỉ rồi thủng thẳng
giải đáp, mà giải bằng thơ nữa nhé:
Nhớ rằng hai bảy mười ba (!)
Còn cái hai bảy mười bốn, người ta thiếu gì!!!
Bọn bạn học cứ cho là Đỗ Mười thông minh quá thành ra khùng, mát giây, chập điện, té giếng…
Đỗ Mười bị bạn bè chế diễu đâm ra uất ức, bỏ học theo bố làm nghề hoạn lợn. (trong Nam gọi là nghề thiến heo).
Buổi
đầu theo bố, Mười ta chỉ cầm cái ống sáo thổi toe toe, toét toét để cho
nhà ai có heo muốn thiến thì kêu vào. Mười thấy bố hành nghề bao nhiêu
năm mà tay chân cứ quờ quạng, chậm chạp rất tức mình. Mấy hôm sau, nhờ
theo dõi cách bố làm, Mười đòi bố cho làm thử.
Ông bố không ngờ
thằng con có sức mạnh lạ thường, con heo bị Mười kẹp cứng giữa háng
không cựa quậy vào đâu được, Mười, tay trái giở hỏng đít con heo lên,
tay phải lia ngọn dao bầu ngọn xớt, hai viên ngọc trư đã nằm gọn trong
tay Mười rồi. Từ đó Mười nổi tiếng là tay sát thủ… heo vang khắp thiên
hạ. Năm đó Mười học chưa xong lớp ba trường làng. Tiếng lành đốn xa,
Bác Hồ tuy ở trong hang Pác Bó, rừng sâu núi thẳm mà cũng nghe tiếng.
Bèn cho người đi mời Mười ra giúp nước. Từ đó Mười trở thành bộ hạ đắc
lực cho Bác trong việc “thiến” những ai có ý kiến khác Bác.
Nhưng
Đỗ Mười được cả nước nghe danh đã vỡ mật, tiếng tăm lừng lẫy bốn phương
trời là nhờ đúng vào dịp Bác Hồ phát động chiến dịch Cải cách ruộng đất
và đánh Tư sản mại bản. Đúng nghề của chàng.
Trước khi ra tay,
Tố Hữu biết Đỗ Mười là tay võ biền, vai u thịt bắp, mồ hôi dầu, đầu óc
đặc sịt, không mưu lược gì, nên kêu lại, đưa cho túi cẩm nang, kề tai
nói nhỏ mấy câu:
- Cứ y như vầy… như vầy mà làm!
Về nhà, đóng cửa, Đỗ Mười giở cẩm nang soi vào đèn lẩm nhẩm đánh vần:
Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ,
Cho ruộng đồng lúa tốt thuế mau xong.
Cho Đảng bền lâu cùng rập bước chung lòng.
Thờ Mao Chủ tịch, thờ Xít Ta Lin bất diệt.
Đọc xong, Đỗ Mười chửi thề:
-
Mẹ kiếp! Tưởng gì hay ho! Té ra chỉ bảo ta đi giết. Giết là nghề của ta
từ bé. Cái thằng Bốn Lành này bố láo muốn tranh công đây!
Nhưng Mười chỉ cười thầm : - Có ngày tao cũng thiến luôn mầy đó con ạ! Thằng Bốn Lành chuyên nâng bi Bác!
Phải
công nhận tay nghề Đỗ Mười ác chiến thật. Bây giờ đồ nghề cửa Mười
không còn là cái dao bầu thô sơ quê mùa nữa. Cái thứ đó chỉ để dành
thiến heo thôi. Bây giờ Mười có cả cái “tàn chi quái đao” do Bác Mao
Xếnh Xáng ưu ái riêng tẳng. Cái đao này uy lực ghê gớm lắm. Mỗi lần
vung lên, tiếng bảy cái vòng trên sóng đao rung vào nhau, kêu loảng
xoảng lạnh mình. Lưỡi đao bén ngót tỏa hơi lạnh. Thả sợi tóc trên lưỡi
đao, chưa kịp chạm vào, sợi tóc đã đứt. Mấy tên địa chủ, cường hào, ác
bá, tư sản mại bản thấy Đỗ Mười vung đao lên, ánh đao sáng loáng, chưa
kịp đái trong quần, thì thân đã bị phân thành bảy đoạn. Mà nạn nhân bị
chém một lượt bảy người chứ không phải một người như cái anh đao phủ
thủ cà xèng “chém treo ngành” của Nguyễn Tuân đâu.
Những năm đó Đỗ Mười vang danh là “anh hùng một đao chém bảy mạng”.
Sau
năm 1975, Đỗ Mười mang đao vào Nam, bổn cũ soạn lại. Ngoài cái chiêu
“đánh tư sản mại bản” ra còn thêm cái chiêu đà đao “đánh công thương
nghiệp” nữa.
Chỉ trong vòng có mấy tháng, máu chảy đỏ sông Đồng
Nai loang ra tận biển Đông. Dân miền Nam, số thật sự giàu đếm chưa hết
mấy đầu ngón tay, nhưng cứ lùa cho đủ chỉ tiêu “mấy ảnh” giao, nên hàng
hà sa số giới có ăn có để đôi chút bị liên lụy hết. Danh sách đưa lên
“trên” đóng dấu, ký duyệt gọi là “nhất trí diệt gọn” nghe nói dài hơn
ba cây số.
Tội nghiệp mấy anh Ba Tàu, nhất là ở Chợ Lớn, hí
hửng, tưởng bở rằng mình có Bác Mao chống lưng, đàn em Bác Hồ không dám
động lông chân. Ai dè đâu có ngờ rằng người An Nam ta “Hễ có hơi đồng
thì ham” quên mẹ nó cái “tình hữu nghị Trung Việt đời đời bền vững”.
Khi cái tàn chi quái đao của Đỗ Mười tiến vào khu bất khả xâm phạm
“tiểu Trung Hoa Chợ Lớn” thì mấy chú Ba cuống cuồng chạy té đái, vãi
cứt ra biển Đông, dẫm lên nhau, chìm ghe chết vô số kể.
Năm 1979, Bác Mao giận thằng em phản phúc, bèn kéo quân xuống Nam dạy cho một bài học nhớ đời.
Chuyện này lại thuộc về chương khác, không nói ở đây.
Trở lại cái kế sách mà tôi nhắc nhở Đảng ta, thi hành để khỏi bị gậy đi ăn xin, nhục quốc thể.
Bây
giờ Bác Mười đã thành Thái Thượng Hoàng rồi. Bác sẽ không đích thân cầm
đao nữa. Nhưng “minh sư tất hữu cao đồ” Bác ngồi trên cao làm cố vấn,
học trò Bác có thể là Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân cũng xuất
sắc lắm. Chỉ có mấy ngày Tết Mậu Thận (1968) mà đám này đã chôn sống ba
ngàn dân vô tội ở Huế thì xưa nay chưa ai qua mặt được.
Nhưng
tùy Bác chọn ai là người kế thừa để truyền “tàn chi quái đao”. Chắc
chắn phải là đại đệ tử tâm đắc vừa giỏi đao pháp vừa tàn độc hơn thầy
mới xứng danh môn, kế thừa y bát.
Tôi chỉ hiến kế, cứ ba niên
mần một quắn. Đừng để năm năm theo kế hoạch ngũ niên như lâu nay thì
hơi chậm. Cứ ba năm đem đao ra làm một lần, chỉ cần mười lần, tức ba
mươi năm sau, năm 2035, bảo đảm Việt Nam sẽ giàu có vượt bực, đứng đầu
Đông Nam Á. Và lúc đó, bọn đế quốc mới biết gờm Việt Nam ta. Lúc đó thì
hai cửa khẩu Nội Bài và Tân sơn Nhứt sẽ không đủ thì giờ và đủ chỗ để
cho máy bay AirBus, Boeing tấp nập lên xuống xin làm quen với ta.
Ôi tương lai xán lạn biết là chừng nào. Nói không hết được. Chấm “on bon phi nan” ở đây.
Năm
con gà chưa hết. Con gà bị nạn dịch từ năm Thân cho tới gần hết năm Dậu
mà vẫn cứ bùng phát mãi. Đến nay đã lan ra đến 17 tỉnh rồi.. Gà chết,
người chăn nuôi chết theo vì tán gia bại sản chứ không chết vì cái con
vi rút H5N1 gì gì đó. Đền bù 5000$ cho một con gà không đủ để thuê
người mang đi chôn hay thiêu hủy. Nên nạn dịch cứ còn hoài.
Hiện
nay bệnh dịch đã lây sang người, đã chết khá bộn, không biết con vi rút
H5N1 này có lây lan sang chó hay không? E rằng sang năm Tuất, H5N1 biến
dạng thành H6N2, nhiễm vào chó thành dịch chó dại không biết chừng.
Lúc ấy đại hoạ sẽ khôn lường.
Nhưng
biết đâu lại là điều may! Chó dại sẽ quay lại cắn chết chủ nó để xã hội
bớt đi những kẻ làm giàu bất chính trên mồ hôi nước mắt dân đen. Bớt đi
những kẻ cậy quyền thế trong tay cướp đoạt tài sản đất nước làm giàu
trên xương máu nhân dân.
Mong lắm thay.
Và để chấm hết
chuyện năm Tuất nói chuyện chó, theo lệ xưa chúc xì xằng mấy câu: đa
phước, đa lộc, đa tử, đa tôn đa phú quí, xin bắt chước cụ Tú Xương chúc
rằng:
Lẳng lặng mà nghe nó chúc sang,
Chúc nhau từ chó tiến lên quan.
Phen này ông quyết đi buôn chó,
Vừa bán vừa xua cũng đắt hàng.
Mùa Đông 2005
Thanh Thanh
* “coa tờ rờ đít”: quarter
credit: 4 tín chỉ cần có trong 1 năm làm việc. Tối thiểu phải làm việc
10 năm, có đủ 40 quarter mới được hưởng hưu trí khi quá 65 tuổi.
*
“ Pho ô oanh cây” 401 K: chương trình đặc biệt dành cho công nhân gửi
tiền Hưu được miễn thuế và được Công ty cho thêm phần trăm trên số tiền
lương trích gửi hàng tuần.
* “Lemon question”: tiếng lóng trong nước: chanh + hỏi= chảnh.
* “mê”: tiếng chuyên môn trong giới xây cất. 1 “mê” là một tầng.