Một vấn đề cho Việt Nam là yêu cầu hội nhập vào luồng trao đổi kinh tế
toàn cầu mà một biểu hiện là việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới
WTO.
Tuy
nhiên, Diễn đàn Kinh tế đài RFA kỳ này sẽ nói về một yêu cầu tiên
quyết, đó là hội nhập ngay trong nội bộ quốc gia, qua phần trao đổi
cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa do Việt Long thực hiện sau đây.
Hỏi:
Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, để tiếp tục loạt bài tổng kết về kinh tế
Việt Nam trong năm 2005 vừa kết thúc và cũng để nêu ra những vấn đề đặt
ra cho giai đoạn trước mặt, kỳ này xin đề nghị với ông là chúng ta sẽ
đề cập tới yêu cầu hội nhập.
- Nói đến yêu cầu này, người ta
đều nghĩ đến việc hội nhập vào luồng trao đổi toàn cầu, trong đó có mục
tiêu gia nhập Tổ chức Mậu dịch Thế giới WTO mà năm qua Việt Nam đã bị
hụt mất. Xin ông nêu nhận xét sơ khởi về vấn đề này trước khi ta đi sâu
vào chi tiết cụ thể.
Chẳng những Việt Nam không kịp gia nhập
WTO mà tuần qua, nhật báo Wall Street Journal và sáng viện nghiên cứu
The Heritage Foundation tại Hoa Kỳ đã công bố báo cáo hàng năm của họ
về Chỉ số Tự do Kinh tế. Họ xếp các nước vào bốn loại, 1) có tự do, 2)
cơ bản là có tự do, 3) cơ bản là thiếu tự do, và 4) bị đàn áp. Trên
danh mục 157 quốc gia được khảo sát, Việt Nam đứng hàng thứ 142, thuộc
loại thấp nhất trong các nước bị liệt vào danh sách "cơ bản là thiếu tự
do". So với năm ngoái thì còn tụt năm hạng, tức là đi ngược với trào
lưu của thế giới.
Hỏi: Kết quả khảo sát ấy gây ngạc nhiên vì
giờ đây mọi người trong nước đều đồng ý với thế giới rằng tự do kinh tế
là một điều kiện tất yếu của thịnh vượng và năm qua, kinh tế Việt Nam
có tăng trưởng khả quan vậy mà vì sao mức độ tự do lại sút giảm?
-
Năm qua, mức độ tự do đo lường ở chính sách ngoại thương của Việt Nam
có tăng tiến được chút đỉnh như lại giảm trong nhiều lãnh vực khác như
sự can thiệp của chính quyền, chính sách tiền tệ, đầu tư nước ngoài,
tài chính và ngân hàng, quyền tư hữu của tư nhân, luật lệ cho tư doanh,
v.v… Nếu phân tích cho kỹ, ta thấy ra một nguyên nhân chính của tình
trạng tụt hậu ấy là hệ thống quản lý chính sách và lãnh đạo.
Vì
vậy mà trước khi nói đến việc hội nhập với thế giới bên ngoài, tôi nghĩ
rằng Việt Nam cần giải quyết một ách tắc là hội nhập nội bộ. Nôm na là
guồng máy công quyền phải tự hội nhập vào mục tiêu chung của cả quốc
gia, là điều thực ra vẫn chưa có tại Việt Nam.
Hỏi: Đây là một
vấn đề hơi ngược đời vì người ta thường cho rằng thứ nhất, chính quyền
Việt Nam ý thức được yêu cầu hội nhập, thứ hai, chính quyền ấy có quá
nhiều quyền hạn. Khi muốn hội nhập vào luồng trao đổi toàn cầu thì
chính quyền chỉ việc ra lệnh, các cấp đều phải chấp hành nhằm đạt mục
tiêu chung, chứ vì sao ông lại cho rằng chưa có sự hội nhập của guồng
máy công quyền vào mục tiêu ấy?
- Tôi thiển nghĩ rằng đây là
một sự hiểu lầm lớn nhất trong rất nhiều hiểu lầm của cả dư luận lẫn
giới lãnh đạo Việt Nam. Ngườt ta cứ tưởng rằng dưới sự lãnh đạo và cầm
quyền thực tế của đảng Cộng sản Việt Nam, đảng cứ ra nghị quyết, rồi
chính quyền căn cứ trên đó mà làm luật hoặc ra nghị định là mọi cấp ở
dưới đều thống nhất chấp hành. Sự thật lại không như vậy.
Thứ
nhất, quyền lực của đảng từ trung ương lại không được cấp đảng ở địa
phương thống nhất chấp hành. Người ta cứ tưởng đấy là biểu hiện của
nguyên tắc phân quyền hay tản quyền. Thức ra, đấy là biểu hiện của
nguyên tắc "phép vua thua lệ làng" về chính sách quốc gia. Thứ hai, về
trình độ, chính quyền trung ương, từ Quốc hội, Thủ tướng đến các Bộ cứ
nghĩ là chỉ cần ban hành luật lệ là mọi nơi đều áp dụng đồng bộ. Thực
ra, chuyện ấy không có vì mỗi nơi lại tùy tiện suy diễn một cách và
cùng một đạo luật, người ta có những kết quả bất nhất.
Hỏi: Vì
sao lại có hiện tượng nghịch thường là quyền tự do của người dân bị thu
hẹp trong khi đảng viên hay viên chức nhà nước lại có quyền tự do suy
diễn hay áp dụng mỗi nơi một khác?
- Tôi cho rằng đấy là thuộc
tính của đảng Cộng sản, với thứ nhất, quyền hạn rất lớn dành cho các
địa phương và thứ hai, trung ương không nắm vững tình hình thực tế ở
mọi nơi. Lý do thứ hai là viên chức nhà nước thường cũng là đảng viên
và nhờ hệ thống đảng nên không nhất thiết chấp hành chỉ thị ở trên mà
thượng cấp cũng khó áp dụng kỷ luật. Sự chòng chéo về quyền lực chính
trị và trách nhiệm quản lý là một lý do chính. Đã vậy, và đây là lý do
thứ ba, người dân và báo chí chưa có đầy đủ quyền hạn để lên tiếng hoặc
phê bình những bất nhất tùy tiện trong bộ máy công quyền. Hậu quả chung
là cùng một chính sách kinh tế tài chính hay luật lệ, mỗi nơi lại đạt
một kết quả khác. Nói chung, đó là vấn đề về khả năng cai trị, thuật
ngữ của giới kinh tế gọi là "governance quality."
Hỏi: Đấy là những nguyên tắc hay giải thích chung, chứ ông có thể đơn cử vài thí dụ cụ thể về hiện tượng ấy không?
-
Suốt năm qua, chúng ta đã nghe thấy nhiều cuộc thảo luận trong Quốc hội
về Luật doanh nghiệp chung, hoặc Luật đầu tư chung. Đấy là một nỗ lực
hội nhập chính sách và áp dụng vào một mục tiêu thống nhất. Xuyên qua
các văn bản và tranh luận, ta thấy ngay một hiện tượng nổi bật là mỗi
nơi suy diễn một cách với hậu quả là thay vì giản lược hóa tiến trình
quyết định bằng luật lệ thống nhất, có nơi lại lập ra nhiều cửa ải mới,
tạo ra cơ hội tham nhũng mới. Một thí dụ là việc lập ra 'dịch vụ một
cửa', về nguyên tắc là để đơn giản hóa thủ tục đăng ký kinh doanh, khai
thuế và có con dấu hành nghề. Thực tế thì một số tỉnh, như Lào Kay có
dồn được ba việc vào một khâu, nhưng Dak Lak lại không được như vậy.
Một
thí dụ rộng lớn hơn đã được nêu ra trong báo cáo mới nhất của Ngân hàng
Thế giới là dù luật lệ được ban hành trên cả nước thống nhất, mỗi nơi
lại đạt kết quả một khác. Nói chung, các tỉnh trong Nam, từ thành phố
Đà Nẵng đến tỉnh Long An hay Bình Dương đã áp dụng luật lệ thông thoáng
và minh bạch hơn nên thu hút đầu tư nhiều hơn, cấp giấy phép kinh doanh
và giải thích luật lệ nhanh hơn. Hậu quả là tính bình quân trên dân số
từng tỉnh thì Bình Dương chẳng hạn tiếp nhận đầu tư nước ngoài cao hơn
13 lần tỉnh Hà Tây là nơi mà tư doanh không được chính quyền khuyến
khích nâng đỡ như ở nhiều nơi khác. Ngay ở trong Nam, thành phố Đà Nẵng
cũng hơn hẳn thành phố Huế.
Hỏi: Những địa phương ông nêu làm
thí dụ đều có vị trí địa dư hay tiềm năng khác nhau thì đâu có thể
chứng minh là nguyên do nằm ở những yếu tố khác?
- Tình hình
nói trên là do cuộc khảo sát của Ban Quản lý Kinh tế Trung ương và Cơ
quan Viện trợ Đức cùng thực hiện tại bảy tỉnh. Tiêu chí đặt ra cho các
tỉnh là phải cấp giấy phép trong thời hạn 15 ngày thì 67% các doanh
nghiệp tại Hà Tây cho biết họ nhận giấy phép sau thời hạn. Vấn đề vì
vậy không nằm ở tài nguyên hay vị trí địa dư. Nói chung, ta có nhiều
cuộc khảo sát của Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển Châu Á cho
thấy có sự cao thấp trong khả năng phục vụ của các tỉnh.
Hỏi: Vậy thì nguyên nhân là ở chỗ khả năng chuyên môn cao thấp khác nhau của từng địa phương hay còn vì lý do gì khác?
-
Trình độ chuyên môn có thể là một vấn đề khiến mức độ cạnh tranh trong
nội bộ mỗi nơi lại mỗi khác để cải thiện môi trường sinh hoạt cho dân
chúng. Nhưng ngoài lý do khả năng thì còn phải kể đến nhiều lý do khác.
Thứ nhất là mức độ minh bạch trong chính sách luật lệ hay về
tiến trình quyết định của bộ máy địa phương cũng có khác nên người dân
không được bảo vệ đồng đều. Có minh bạch thì trách nhiệm mới được phân
giải rõ ràng.
Một lý do thứ ba tôi thiển nghĩ là còn quan
trọng hơn đó là ý thức của các giới chức địa phương về vai trò của tư
doanh, hoặc rộng lớn hơn, về quyền dân. Những nơi mà bộ máy công quyền
có vẻ thông thoáng hữu hiệu nhất cũng là những nơi mà viên chức nhà
nước biết nâng đỡ tư doanh thay vì nghi ngờ tư doanh hoặc còn giữ thái
độ quan liêu cửa quyền.
Hỏi: Bây giờ mình sẽ chuyển qua phần
giải pháp cho vấn đề. Theo ông nghĩ, nếu như chính quyền Việt Nam thực
tâm muốn cải cách để hội nhập guồng máy hành chính của mình vào mục
tiêu chung thì họ có thể làm những gì?
- Các tổ chức quốc tế
có nêu ra nhiều giải pháp cho loại vấn đề ấy. Một việc mà Việt Nam đã
nói đến và đã được viện trợ để tiến hành từ hơn 10 năm nay là cải cách
hành chính. Đây là một trách nhiệm của Ban Tổ chức Chính quyền Trung
ương. Việc cải cách này có được tiến hành nhưng vẫn quá chậm và gần như
năm nào cũng được khuyến cáo.
Ngay trước mắt, vấn đề đặt ra là
làm sao cho chính các viên chức công quyền muốn thi hành việc đó. Đây
không phải là chuyện đơn giản vì nhiều người thấy rằng việc chấp hành
và suy diễn luật lệ lại thu hẹp quyền hạn và khả năng của họ, kể cả khả
năng tham nhũng.
Hỏi: Quả thật như vậy, nếu ai ai cũng phải
chấp hành luật lệ như nhau thì nhiều người sẽ mất cơ hội kiếm chác và
đấy cũng là một nguyên do vì sao tham nhũng mới dễ nảy sinh. Như vậy,
làm sao các cấp chính quyền lại chịu thi hành một việc họ cho là bất
lợi cho bản thân?
- Minh bạch hóa luật lệ và tiến trình quyết
định để mọi người đều biết rõ trách nhiệm và quyền hạn là một việc cần
có thể đáp ứng yêu cầu đó. Rộng lớn hơn, người ta cần công khai hóa mọi
chuyện, thí dụ như thứ bậc cao thấp của từng địa phương, từng ngành
trong việc yểm trợ dân chúng và chấp hành luật lệ hầu người dân biết rõ
và có quyền lên tiếng về tình trạng ấy. Tức là mọi người đều phải có
quyền tự do thông tin và phát biểu. Tự do thông tin, tự do báo chí và
tự do tiếp cận mọi nguồn thông tin là một bước cần thiết của việc minh
bạch hóa.
Hỏi: Tuy nhiên, khách quan mà nói thì cũng có những
địa phương yếu kém nghèo nàn và cần được chính quyền trợ giúp qua ngân
sách quốc gia. Ông có nghĩ rằng đấy cũng là một giải pháp thực tế hay
không?
- Trong cải cách hành chính, ta có một khâu quan trọng
chính là thủ tục ngân sách, chuẩn chi và thanh toán để san xẻ tài
nguyên từ các tỉnh giàu có đến các tỉnh nghèo. Tuy nhiên, ta phải thực
tế nhìn ra phản tác dụng nếu các tỉnh nghèo được tài trợ nhiều hơn hầu
cải tiến hạ tầng vật chất và xã hội cho địa phương mình. Phản tác dụng
là vì càng được trợ giúp, người ta càng chậm thay đổi. Cho nên, dư luận
người dân và báo chí phải được biết về tình hình ấy hầu tạo ra áp lực
thay đổi.
Kết luận ở đây là không thể chỉ trông chờ vào thiện
chí cải cách của chính quyền mà phải cho người dân có quyền phê phán để
giới hữu trách phải chịu trách nhiệm trước quốc dân.
Và nếu
nhớ đến bàn tay vô hình của đảng trong các quyết định về chính sách và
nhân sự, thì việc minh bạch hóa tiến trình chính trị trong đảng cũng là
một yêu cầu thực tế, là điều nhiều đảng viên chờ đợi từ Đại hội đảng
khóa X trong năm nay.