Nguoi Viet - Niall Ferguson (Hiền Minh dịch) - 01-01-2006
“Không
có sự phân biệt rõ ràng giữa điều có thật và không thật, giữa điều
phải, điều trái. Một việc không nhất thiết đúng hay sai; nó có thể vừa
đúng vừa sai.”
Ðó
không phải là câu trả lời nửa vời của ngoại trưởng Condoleezza Rice
trước các câu hỏi tại châu Âu tuần rồi về cáo buộc liên quan các trại
giam của CIA ở Ba Lan và Romania, và sự “thuyên chuyển bất thường”
những nghi phạm khủng bố đến những nước nơi họ có thể bị tra tấn. Ðó là lời của Harold Pinter, giải thích sự khác biệt giữa kịch nghệ và chính trị trong bài diễn văn nhận giải Nobel văn học.
Pinter
khẳng định rằng trong địa hạt kịch nghệ cao quý, không thể có một sự
thật tuyệt đối. Tuy nhiên, vấn đề lại khác khi ta nhắc tới chính sách
ngoại giao của Mỹ. Ở đó, sự phân biệt đúng sai rõ như ngày và đêm. Giản
dị lắm. Mọi thứ Hoa Kỳ nói đều sai, và mọi điều các nhà chỉ trích Mỹ
nói ra đều đúng.
Tôi
phải nói ngay rằng tôi sẽ không đưa ra biện hộ cho việc dùng nhục hình
đối với các nghi phạm khủng bố - mặc dù nếu có một ai khiêu khích tôi
phải làm điều này, thì đó sẽ là ông Pinter kiêu ngạo đến không chịu nổi
kia. Tôi hoàn toàn không quan tâm đến các vở kịch của Pinter; nếu Ủy
ban Nobel muốn nâng tài khoản ngân hàng và cái Tôi của ông ta, thì đó
là chuyện của họ. Mà cái Tôi của ông ta thì đã đủ lớn rồi. Lời kể của
Pinter về lúc viết vở The Homecoming quả xứng được giải Nobel về thói
khoa trương: “Ðó là khoảnh khắc kỳ lạ, khoảnh khắc tạo ra các nhân vật
mà cho đến trước giờ phút ấy chưa tồn tại”. Ui chà, nghe gần giống như
Thượng đế.
Ông
ta cũng có vẻ muốn nhận giải Nobel cho sự lâm ly: “Cuộc đời một nhà văn
vô cùng dễ tổn thương, gần như là hoạt động khỏa trần”, ông ta tuyên
bố. “Anh khỏa trần trước gió, trong đó có nhiều ngọn phong hàn. Anh
đứng một mình, chơi vơi. Anh không tìm được hang trú ẩn, không sự bảo
vệ”. Ui chà, nghe sao mà cảm động. Nhưng tôi không phản đối sự vị kỷ
của Pinter. Tôi phản đối cách ông dùng giải thưởng để đổ dầu ngôn từ
vào đám lửa bài Mỹ.
Trước
hết, ta nhắc đến một số sự thật về tra tấn. Nó xấu bởi vì việc làm đau
những người tù không thể tự vệ là điều sai trái. Nó xấu bởi vì nó vi
phạm công ước quốc tế. Và ngay cả nếu anh chẳng thèm quan tâm đến hai
điều trên, nó vẫn xấu vì cái giá phải trả cao hơn mọi lợi ích tình báo
mà việc tra tấn có thể lấy được.
Các
bản tin nói CIA đã “trấn nước” tù nhân khiến việc chính quyền Bush liên
tục lên án Saddam Hussein là kẻ ngược đãi trở thành nực cười. Chúng
cũng làm tăng nguy cơ bị tra tấn đối với những người Mỹ hoặc đồng minh
của Mỹ rơi vào tay al-Qaeda. Và các tường thuật đó đang làm xói mòn
những gì còn lại của liên minh xuyên Ðại Tây Dương - Viện nguyên lão
Anh đã phán quyết bằng chứng lấy từ việc bức cung sẽ không được tòa án
ở Anh chấp nhận. Tòa Bạch ốc cần ngậm
miệng và ủng hộ dự luật của Thượng Nghị sĩ John McCain, đưa ra để cấm
quân đội và tình báo Mỹ không được dùng nhục hình.
Sự
thật giản dị là ngay cả nếu tra tấn có hiệu quả, Hoa Kỳ cũng vẫn sẽ
phải lên án nó, vì CIA rất kém trong việc giữ kín những bí mật bẩn
thỉu. Và chính điểm này đưa tôi trở lại với bài nói rỗng tuếch của
Harold Pinter.
Ta
tạm bỏ qua cuộc xâm lấn Iraq mà ông ta lên án với những từ ngữ quen
thuộc. Ðáng chú ý hơn là sự mở rộng chỉ trích đối với chính sách - và
sự bí mật - của Mỹ trong Chiến tranh Lạnh.
Ðây là năm cáo buộc của Pinter:
1.
Hoa Kỳ đã dính líu vào những “cuộc xung đột cường độ thấp trên toàn thế
giới”, gây ra “hàng trăm ngàn” cái chết. Pinter trích dẫn trường hợp
Nicaragua, nơi Hoa Kỳ hỗ trợ giúp lật đổ chính phủ của nhóm Sandinista
“thông tuệ, biết lý lẽ và văn minh”.
2.
“Hoa Kỳ đã ủng hộ và trong nhiều trường hợp tạo nên chế độ độc tài cánh
hữu trên thế giới sau khi Thế Chiến Hai kết thúc”, đặc biệt tại Brazil,
Chile, El Salvador, Guatemala, Hy Lạp, Haiti, Indonesia, Paraguay,
Philippines, Thổ Nhĩ Kỳ và Uruguay. Cái chết của toàn bộ những người bị
các chính thể này hạ sát “có thể quy cho chính sách ngoại giao của Mỹ”.
3.
Những tội ác “có hệ thống, liên tục, xấu xa [và] tàn nhẫn” này có thể
so sánh với những tội ác của Liên Xô trong thời Chiến Tranh Lạnh (lưu
ý, không thấy nhắc đến Trung Quốc, Việt Nam hay Bắc Hàn).
4.
Nhưng những tội ác này “đã chỉ được ghi lại hời hợt, chứ chưa nói đến
việc được thừa nhận”. Cứ như thể nó “chưa từng xảy ra”, vì “một hành
động thôi miên rất thành công”.
5.
Sự thôi miên hàng loạt này đạt được nhờ việc liên tục dùng cụm từ “nhân
dân Mỹ”; cụm từ này “bóp nghẹt sự thông minh và khả năng phê phán” của
mọi người Mỹ - ngoại trừ “40 triệu người sống dưới mức nghèo khổ và hai
triệu đàn ông, phụ nữ bị giam cầm trong chuỗi dài các gulag nhà tù trên
khắp nước Mỹ”.
Rồi
thì đòi hỏi Tổng thống và các đồng minh bị xử như “những tội phạm chiến
tranh”. Rồi lên án “cơn điên ấu trĩ” của việc sở hữu vũ khí hạt nhân.
Ðừng lo, quý vị chưa bước vào cỗ máy quay ngược thời gian đâu. Ðây
không phải là thập niên 1970, và trước mặt không phải là Henry
Kissinger mặc áo phụ nữ, mà chỉ là Condi Rice. Thế nhưng, tôi e rằng
Harold Pinter thì vẫn thế, vẫn chồng chất những ngoa từ chống Mỹ y hệt
như ông hồi 30 năm trước.
Sự
thật và sai lạc quả là khó phân biệt trong kịch của Pinter, và bài diễn
từ Nobel của ông cũng không phải ngoại lệ. Trước tiên ta xem xét phần
có thật. Quả đúng là hàng ngàn người đã bị các chế độ độc tài được Mỹ
ủng hộ hạ sát, đặc biệt ở Trung và Nam Mỹ. Cái sai là khi nói bạo lực
này có thể so sánh về tầm mức với những gì các chính thể cộng sản gây
ra ở cùng thời điểm.
Ða
số nói chung đồng ý rằng Guatemala là chính thể tồi tệ nhất do Mỹ bảo
trợ trong giai đoạn Chiến Tranh Lạnh. Khi nội chiến tại đó được chấm
dứt vào thập niên 1990, toàn bộ số người chết có thể lên tới 200,000.
Nhưng không phải toàn bộ số người chết có thể được quy cho Mỹ. Phần lớn
bạo lực đã xảy ra từ sau cuộc đảo chính 1954, khi chính quyền tại đó
chưa rơi vào sự kiểm soát của CIA.
Ðể
so sánh, ước tính thấp nhất về số người bị giết với nguyên do chính trị
trong bảy năm cuối đời của Stalin là năm triệu người, và số trại gulag
- mà chỉ có kẻ lừa đảo hoặc tay khờ mới so sánh với trại tù của Mỹ ngày
nay - vẫn còn tiếp tục giết người cả sau khi Stalin đã qua đời. Trong
cuốn sách mới của mình, Jung Chang và Jon Halliday cho rằng Mao chịu
trách nhiệm cho gần 70 triệu cái chết ở Trung Quốc. Số người bị giết
hoặc bị chết đói vì chính quyền Bắc Hàn có thể ở khoảng 1.6 triệu.
Khmer Ðỏ ở Campuchia đã giết từ 1.5 đến hai triệu người. Ðể có thêm chi
tiết, mời ông Pinter đọc cuốn Hắc thư về Chủ nghĩa Cộng sản, ấn hành
năm 1997.
Về
cáo buộc rằng có âm mưu che giấu tội lỗi vi phạm nhân quyền thời Chiến
Tranh Lạnh của Mỹ, hẳn ông Pinter đang đùa. Ta không phải nhờ đến các
bài báo của Seymour Hersh mới biết những chuyện này. Có những trang web
dễ dàng truy cập, nơi bạn có thể tải về mọi tài liệu được giải mật về
mọi chế độ độc tài xấu xa mà CIA đã bảo trợ. Dựa trên những nguồn này
và các nguồn khác, đã có ít nhất năm tác phẩm chi tiết được in trong
mười năm qua chỉ riêng về Guatemala. Quả là một sự bưng bít đấy.
Không
ai giả ngơ bảo rằng Hoa Kỳ bước ra khỏi Chiến Tranh Lạnh với đôi tay
sạch. Nhưng nếu giả ngơ bảo tội ác của Hoa Kỳ cũng ngang với tội của
các đối thủ cộng sản - và rằng chúng bị bưng bít - thì đó là xóa nhòa
sự phân biệt giữa sự thật và sai trái. Ðiều đó có thể được phép trên
sân khấu. Tôi e rằng nó cũng là chuyện thường ngày trong ngoại giao.
Nhưng ta không thể chấp nhận nó trong việc thảo luận lịch sử nghiêm túc.
Vậy
nên thưa ông, hãy gắn bó với kịch và thôi tra tấn lịch sử. Ngay cả nếu
có giải Nobel cho sử học, ông cũng không có cơ may trúng đâu. Bởi vì
trong nghề của tôi, khác với của ông - và khác với nghề của Condi - quả
có tồn tại “những sự phân biệt rõ ràng... giữa điều phải điều trái”.
Tác giả Niall Ferguson hiện là giáo sư khoa Lịch sử, Ðại học Harvard.
Bản tiếng Việt, 2005 talawas.