Người dân được gì từ một xã hội dân chủ?

Theo Điện Thư Câu Lạc Bộ Dân Chủ Việt Nam - Việt Cường - 25-01-2006

Một nhiệm vụ quan trọng nhất hiện nay mà mỗi người dân phải có trách nhiệm tham gia đó là tranh đấu cho một nước Việt nam dân chủ. Đây có lẽ là cuộc đấu tranh cam go và lâu dài nhất mà nhân dân ta phải đương đầu.

“Kẻ thù” của chúng ta không phải là quân xâm lược ngoại bang, chúng ta cũng không tiêu diệt hay đập phá bất một cái gì, cũng không có một cuộc bạo lọan nào cả mà chỉ có sự thay đổi những tư suy, suy nghĩ lạc hậu bằng những giá trị của thời đại. Chúng ta muốn cho Việt nam cũng sẽ như bao nước khác trên thế giới, là một xã hội có dân chủ và tự do.

Xin khẳng định ngay một điều là Dân chủ và Tự do là những giá trị của thời đại, của nhân loại mà loài người đã phải tranh đấu mới có được. Dân chủ và tự do không phải của riêng Mỹ hay Pháp mà là của cả thế giới. Những giá trị đó đã được cụ thể thông qua bản Tuyên Ngôn về Nhân Quyền của Liên Hợp Quốc và đã được cả thế giới thừa nhận, trong đó có Việt nam.

Việt nam chúng ta đã có một lịch sử cận đại (trong khoảng 100 năm nay) đáng buồn. Đó là lịch sử của những cuộc chiến. Hết với Pháp, đến Mỹ, rồi Campuchia, Trung Quốc. Trong chiến tranh người ta đã hy sinh mọi quyền lợi của bản thân với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, “tất cả cho tiền tuyến”…Vì vậy một nhà nước Pháp quyền và một xã hội dân chủ chưa có điều kiện để thực thi.

Lẽ ra sau khi chiến tranh kết thúc, đảng cộng sản cần nhanh chóng bắt tay vào việc xây dựng một xã hội dân sự, một nhà nước Pháp quyền. Vì nhiều lí do như chúng ta đã biết, chính quyền đã không làm việc đó mà vẫn duy trì một không khí thời chiến, vẫn phân biệt ta-địch, xây dựng một chế độ toàn trị. Đến ngày hôm nay thì Việt nam cùng với ba nước “XHCN anh em” khác là Trung Quốc, Cuba, Bắc Triều Tiên vẫn là một trong những quốc gia có ít dân chủ và tự do nhất trên thế giới.

Sau khi ra khỏi những cuộc chiến tranh vô cùng tàn khốc đó, sức lực và tinh thần của người Việt nam đã cạn kiệt. Bây giờ chỉ cần có đủ ăn và đủ mặc là người dân đã cảm thấy đủ và hạnh phúc rồi, họ không cần quan tâm đế những giá trị khác mà họ cũng chưa hiểu nó ra làm sao? Cho nên để mỗi người dân chủ động tham gia vào công việc dân chủ hóa đất nước là một điều không hề dễ dàng. Chỉ có một bộ phận, ưu tú trong xã hội là dám đứng lên gánh vác trách nhiệm cao cả này, mà chúng ta vẫn quen gọi họ là những nhà dân chủ.

Tuy vậy trong bài viết này tôi sẽ cố gắng trình bày những “thành quả” của một xã hội có tự do-dân chủ. Một nhà nước Pháp quyền và một xã hội công dân. Một xã hội Việt nam trong tương lai. Tôi viết bài này với mong muốn “trả lời” cho những thắc mắc của người dân ít thời gian và kiên nhẫn để đọc và “nghiên cứu” những bài viết về dân chủ. Họ cần có ngay câu trả lời là: Dân chủ đem lại cho chúng tôi những gì? Cụ thể và thiết thực ra sao đối với cuộc sống của chúng tôi?

Điều mà tôi khẳng định ngay là: dân chủ sẽ mang lại một cuộc sống tốt đẹp hơn cho tất cả chúng ta, tất cả mọi người, mọi thành phần trong xã hội.

Bây giờ tôi sẽ đi vào cụ thể với những nhóm người (tầng lớp) khác nhau. Trước hết chúng ta phải thừa nhận rằng bất cứ trong một xã hội nào cũng có sự phân chia giai cấp, hoặc hiểu đơn giản là luôn có kẻ giàu, người nghèo trong một xã hội (kể cả ở xã hội Mỹ hay Pháp). Việc đấu tranh để xóa bỏ giai cấp như học thuyết của chủ nghĩa cộng sản là hòan toàn không tưởng. Sẽ không bao giờ có điều đó xảy ra. Nếu điều đó xảy ra thì cũng đồng nghĩa là ngày tận thế đã đến. Cuộc sống của loài người sẽ kết thúc. Đơn giản là vì khi tất cả mọi người trên thế giới này đều nghèo hoặc giàu như nhau, thì lí do (hay động lực) để họ làm việc sẽ không còn nữa. Khi không còn ai làm việc nữa thì cuộc sống tất nhiên sẽ chấm dứt.

1.Với giai cấp tư sản.

Giai cấp Tư sản là kẻ thù của chủ nghĩa xã hội, thế nhưng với một xã hội dân chủ thì giai cấp này sẽ là trụ cột, là xương sống để phát triển kinh tế đất nước.
Giai cấp tư sản bao gồm tất cả những ai đang kinh doanh, buôn bán, sản xuất, đầu tư…những người có nhiều tiền. Với một xã hội dân chủ họ sẽ có nhiều cơ hội, nhiều tự do hơn. Cụ thể họ sẽ có thể tiếp cận với các nguồn vốn vay từ rất nhiều ngân hàng trong và ngoài nước một cách dễ dàng, nhất là với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hiện tại tuy có chủ trương từ phía nhà nước nhưng để vay được những khoản tín dụng ưu đãi các doanh nghiệp phải qua rất nhiều “cầu cửa” và phải biết chạy chọt. Vì vậy không thể mở rộng sản xuất hay kinh doanh được. Một bức xúc từ các doanh nghiệp sẽ không còn nữa là phải lo đối phó với các thủ tục hành chính nhiêu khê và phức tạp từ các cơ quan công quyền. Luật lệ sẽ rõ ràng và cởi mở, nhất là sẽ minh bạch. Sẽ không có chuyện thay đổi xoành xoạch về luật như hiện nay, đảm bảo sự ổn định lâu dài để các nhà đầu tư yên tâm hoạch định cho mình những kế hoạch dài hạn. (Chuyện như với công ty địa ốc Phú Mỹ Hưng sẽ không xảy ra). Một chính sách thuế nhẹ nhàng và phù hợp với tiêu chí “thu ít nhưng thu đủ”. Nhà nước sẽ từ bỏ sự độc quyền trong tất cả các lĩnh vực kể cả điện, viễn thông, hàng không, khai thác…Tất cả các cá nhân và doanh nghiệp đều có thể tham gia vào các lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước quản lí như hiện nay.
Giới kinh doanh và sản xuất sẽ có các đại diện thật sự của mình khi tham gia vào việc hình thành và sọan thảo các luật lệ liên quan đến lĩnh vực của mình, quyền lợi của họ cũng sẽ được bảo vệ tối đa bởi các đại diện đó, bằng các Hiệp hội hay các Nghị sĩ của mình trong Quốc hội.

Một vấn đề quan trọng sẽ được giải quyết dứt điểm và ngay lập tức đối với mọi tầng lớp trong xã hội, đó là quyền Sỡ hữu Tư nhân. Đây là quyền lợi tối thiểu và thiêng liêng của công dân mà một nhà nước dân chủ phải tôn trọng một cách rõ ràng. Ví dụ sẽ không có những qui định vô lí hiện nay như trong vấn đề đất đai, những qui định như kiểu “đất đai thuộc quyền sỡ hữu của toàn dân và do nhà nước thống nhất quản lí…” đã chối bỏ quyền sỡ hữu của người dân. Với qui định này, nhà nước có thể thu hồi đất bất cứ lúc nào lúc nào, nhiều khi với những mục đích không rõ ràng và thiếu minh bạch, đã và đang gây ra những bất bình rất lớn cho người dân và cả xã hội. Đất đai hiện đang là “miếng mồi” ngon để các quan chức chia chác và rửa tiền. Một trong những lí do khiến nhà đất Việt nam trở nên đắt nhất thế giới là do rửa tiền của các quan chức. Tiền tham nhũng không biết làm gì họ đành đầu tư vào đất, mà tiền bất chính đem đi “rửa” thì đâu cần nghĩ nhiều đến chuyện giá cả, điều này đã khiến giá đất Việt nam tăng rất nhanh, vượt ra khỏi tầm tay của đa số người dân.

2. Với giai cấp công nhân.

Giai cấp công nhân Việt nam ngày càng phát triển về số lượng và chất lượng. Thế nhưng đời sống của họ vô cùng khó khăn. Hãy nói về thu nhập của họ, với mức lương trên dưới một triệu đồng/ tháng, tại các khu Công nghiệp ở Hà Nội hay TP HCM thì họ cũng chỉ đủ sống và thuê nhà trọ. Vài ba năm mới về thăm nhà được một lần. Đời sống tinh thần chỉ là con số không. Họ chỉ biết đi làm và ngủ. Đồng lương ít ỏi không cho phép họ vào những nơi giải trí như nhà hàng hay vũ trường. Họ làm việc vất vả, phải tăng ca liên tục, mà quyền lợi của họ không có ai bảo vệ. Các công đoàn thì đứng về phía chủ hoặc nhà nước chứ không hề đứng về phía họ, bảo vệ cho họ.
Việc đầu tiên mà một chế độ dân chủ phải thực hiện ngay là cho phép các Công đoàn độc lập, thực sự do công nhân bầu ra và phải đại diện cho họ. Tất nhiên nhà nước không thể bắt buộc các công ty trả lương cao cho công nhân được, nhưng nhà nước phải khuyến khích, tạo mọi điều kiện để các công ty mới ra đời, tạo ra thật nhiều việc làm cho người dân, chỉ khi các nhà máy, các khu công nghiệp thiếu công nhân (cầu nhiều hơn cung) thì thu nhập của người công nhân mới được cải thiện, do sự cạnh tranh giữa các công ty. Nhất là với công nhân tay nghề cao, họ sẽ có cơ hội chọn lựa công việc với đồng lương thỏa đáng.

3. Với giai cấp nông dân.

Giai cấp nông dân cùng với công nhân được xem như là hai giai cấp chính mà đảng cộng sản là người đại diện, thế nhưng người đai diện của họ (đảng cộng sản) đang ngày càng bỏ rơi họ. Cuộc sống của người dân rất khó khăn. Nhiều người cho rằng cuộc sống của người nông dân khá hơn trước rất nhiều, điều đó không sai. Sự so sánh với quá khứ, với chính mình là một sự ngụy biện và không thành thật. Muốn biết mình đang ở đâu so với thế giới xung quanh, thì phải so sánh, ít ra là cũng với những người, những quốc gia bên cạnh. Cuộc sống của người nông dân Việt nam mới chỉ dừng lại chổ đủ ăn, đủ mặc. Để họ có một chút của cải dư thừa thì vẫn còn xa. Một chiếc xe máy, một ngôi nhà khang trang, một chút vốn để cho con cái ăn học và phòng khi ốm đau vẫn là những ước mơ với nhiều người nông dânViệt nam.
Việt nam là một nước nông nghiệp và lạc hậu cho nên nông dân vẫn chiếm một tỉ lệ lớn. Nhà nước cần có những giải pháp cụ thể và rộng lớn cho người nông dân. Cần cung cấp kiến thức, dụng cụ lao động, vốn liếng…Phải chuyển đổi cơ cấu và qui hoạch trong sản xuất và nuôi trồng một cách hợp lí và lâu dài, chứ không thể để như hiện tại, mặc cho người dân tự “qui hoạch”, cứ thấy cái gì, cây gì có lợi là lao vào trồng, trong khi đó không hề biết vài năm sau thị trường có còn khan hiếm mặt hàng này nữa không? và vì thiếu kiến thức nên rất nhiều nông dân ở nhiều địa phương cùng lao vào trồng (hoặc nuôi) cùng một loại cây (hoặc giống), đến khi thu hoạch do quá nhiều nên không biết bán cho ai, hoặc phải bán lỗ. Khiến cho người nông dân đã nghèo lại càng nghèo thêm. Điển hình nhất là cây mía và cà phê ở Việt nam.
Sản xuất và xuất khẩu nông nghiệp vẫn đang là trong những ngành nghề mũi nhọn của Việt nam. Ngoài việc xuất khẩu hàng nguyên liệu thô và sơ phẩm, nhà nước sẽ khuyến khích cho các nhà đầu tư và nông dân mở các nhà máy và cơ sở chế biến nông sản thực phẩm, với các dây chuyền công nghệ hiện đại, đáp ứng các tiêu chuẩn về chất lượng và môi trường của thế giới. Như vậy thu nhập của người nông dân sẽ được tăng lên đáng kể. Nhà nước sẽ phải tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu để đưa hàng hóa Việt nam ra thị trường quốc tế.

4.Với giới công chức, hành chính…

Với cán bộ công nhân viên chức nhà nước thì việc đầu tiên để có thể nâng cao thu nhập của họ là phải thực hiện triệt để việc “tinh giảm biên chế”, giảm tối đa những người ăn lương từ ngân sách nhà nước. Công việc của họ sẽ được cụ thể hóa và không còn sự áp đặt của cấp trên, cơ hội thăng tiến sẽ minh bach và rõ ràng hơn. Bằng chính khả năng làm việc của họ chứ không phải vì các mối quan hệ với lãnh đạo, hay thâm niên công tác theo kiểu “sống lâu lên lão làng” bất chấp là có trình độ và hiệu quả trong công việc hay không.
Với giáo viên, bác sĩ, luật sư…Họ sẽ có nhiều cơ hội để khẳng định khả năng của mình. Việc giáo dục, y tế sẽ được “xã hội hóa” mạnh mẽ theo cách nói của chính quyền, mà thực tế chính là để tư nhân tham gia nhiều hơn. Sự xuất hiện nhiều cơ sở của tư nhân sẽ khiến nâng cao chất lượng phục vụ và một sự cạnh tranh lành mạnh. Sẽ xóa bỏ hoàn toàn sự bao cấp cũng như phân biệt giữa các cơ sở nhà nước và tư nhân. Ví dụ tiền thu được từ Bảo hiểm y tế cũng phải chia đều cho các cơ sở và bệnh viện tư nhân để họ có thể cùng tham gia vào công cuộc chăm sóc sức khỏe của cộng đồng.

Vai trò của luật sư, các tổ chức hoạt động xã hội, các tổ chức phi chính phủ sẽ được nhà nước tôn trọng và tạo mọi điều kiện để họ hoạt động tốt. Sẽ không có sự can thiệp vào công việc của họ. Các luật sư, họ chỉ phải tôn trọng và làm theo pháp luật. Cố gắng để bảo vệ quyền lợi tối đa của người dân. Cơ quan Tư pháp sẽ hoạt động độc lập, cùng với luật sư họ sẽ không bị các quan chức chi phối như hiện nay nữa.
Để một xã hội phát triển nhanh và có dân chủ thì không thể không có sự tự do cho các cơ quan báo chí. Tiêu chí của giới truyền thông là trung thực, khách quan và chính xác. Các nhà báo sẽ được tự do hành nghề, giúp người dân nâng cao dân trí, và thực hiện trách nhiệm của mình đối với xã hội. Sẽ không có sự kiểm duyệt đối với báo chí. Tuy vậy mỗi nhà báo, nhà văn cũng cần phải có trách nhiệm với xã hội. Mọi hành động vu khống, vụ lợi sẽ bị trừng phạt theo đúng pháp luật.

5. Với lực lượng công an và quân đội.

Sẽ trả họ về đúng vai trò của mình là bảo vệ nhân dân (chứ không phải bảo vệ đảng như hiện nay). Lực lượng công an cần hiểu rõ rằng công việc của mình cũng như bao nhiêu công việc khác trong xã hội, là một mắt xích trong chuỗi xích của cả xã hội. Họ cần cư xử tử tế với người dân theo đúng bổn phận và trách nhiệm của mình, đổi lại họ sẽ được sự kính trọng của cộng đồng. Hiện tại người dân phần lớn là ghét và sợ công an hơn là kính trọng họ. Đây là một nét xấu của văn hóa Việt nam thời cộng sản. Do đồng lương ít ỏi cho nên giới công chức thường kiếm thêm bằng cách “hành dân” để tăng thu nhập. Cứ công chức thuộc lãnh vực nào thì hành dân (và cả các công chức khác ngạch) ở lĩnh vực đó, chứ không riêng gì công an. Ví dụ nếu cần giấy tờ gì đó ở ủy ban thì người dân (và cả giới công chức) sẽ bị ủy ban “hành”. Đến khi những viên chức (của ủy ban) này phải đến bệnh viên chẳng hạn thì họ cũng lại bị các viên chức ở đây “hành” lại. Và cứ thế, nó thành một cái lệ trong mọi ngành, mọi cấp, mọi nơi. Tạo ra một không khí căng thẳng và lo lắng cho tất cả mọi người khi có việc phải đi đến các cơ sở của nhà nước. Theo tôi thì “dễ cho người thì người sẽ dễ cho ta, khó cho người người sẽ khó cho ta” sẽ giúp chúng ta suy nghĩ lại và đối xử với nhau văn minh hơn, công bằng hơn, tình người hơn.

Với lực lượng vũ trang chuyên nghiệp thì cần chất lượng hơn số lượng. Mọi người dân cần đến tuổi phải thực hiện nghĩa vụ quân sự 2 năm. Nâng cao đời sống cho người lính cũng bằng cách tinh giảm tối đa lực lượng. Chính quyền sẽ cố gắng bằng các con đường ngoại giao để giải quyết các xung đột và mâu thuẫn quốc tế. Tuy nhiên người lính chuyên nghiệp phải được huấn luyện và trang bị đầy đủ để sẵn sàng bảo vệ tổ quốc. Hiện nay các lực lượng vũ trang và công an rất được chính quyền ưu đãi (vì họ đang bảo vệ đảng), một Thiếu tá quân đội về hưu lương khoảng 1,5-2 triệu đồng/tháng, trong khi công nhân đang đi làm chỉ được 600-700 ngàn/ tháng. Đây là một sự vô lí, vô ví không phải vì lương bộ đội quá cao mà là lương của công nhân quá thấp.

6. Với sinh viên và học sinh.

Sinh viên được hỗ trợ tối đa và giảm học phí đến mức thấp nhất. Các sinh viên thay vì ngồi nghe “rao giảng”, họ phải có quyền chất vấn, trao đổi một cách thoải mái. Họ có quyền tiếp cận với tất cả các thông tin trên thế giới qua mạng internet, sẽ không còn “tường lửa” nữa. Họ có quyền chọn cho mình giáo viên giảng dạy. Họ không phải học những môn học mang tính tuyên truyền và thiếu thực tế như chủ nghĩa Mác-Lênin chẳng hạn. Họ được tự do tìm kiếm các cơ hội để làm thêm, nâng cao kiến thức, thu nhập. Họ cần được tiếp xúc và giao lưu nhiều với thế giới bên ngoài. Khi ra trường họ cần được thi tuyển công chức một cách rõ ràng và minh bạch để họ có cơ hội vào làm việc ở các cơ quan nhà nước.
Sinh viên cần được tự do và khuyến khích từ phía nhà nước để tham gia vào các công việc và hoạt động xã hội. Vừa để các em có cái nhìn thực thế và đồng cảm với cuộc sống của nhân dân vừa để các em có được một đời sống tinh thần lành mạnh và có ích. Tạo điều kiện để sinh viên cọ xát với thực tế của cuộc sống, qua các buổi làm việc hoặc thực tập trong các công ty, cơ quan nhà nước. Ngân sách nhà nước phải trích ra để xây dựng chổ ăn, ở cho sinh viên. Không thể để sinh viên sống tạm bợ trong các nhà trọ rẻ tiện và thiếu tiện nghi sinh hoạt như hiện nay.

Học sinh từ tiểu học đến trung học cũng cần quan tâm hơn bằng cách thay đổi tư duy từ các nhà giáo là học sinh chỉ biết “nghe” chứ không được thắc mắc, hỏi han. Tạo cho các em một thói quen suy nghĩ độc lập và tự tin. Học phí của học sinh phải được dẹp bỏ ngay, nhà nước phải lo chuyện này. Chấm dứt mọi sự thu phí với học sinh trong với bất cứ lí do gì. Học thêm phải là tự nguyện và giới hạn với các em học sinh đặc biệt, chứ không tràn lan như bây giờ. Nhân cách của nhiều người hình thành là do ảnh hưởng của thầy cô giáo, cho nên các “kỹ sư tâm hồn” cần được quan tâm một cách thỏa đáng và đầy đủ.

7. Với Việt kiều.

Đây là một lực lượng tuy ít về số lượng nhưng rất mạnh về chất. Chất ở đây không đơn thuần là kinh tế mà còn là chất xám. Tuy nhiên do họ đã sống lâu và ổn định ở nước ngoài nên việc để họ về nước làm việc và cống hiến không phải chuyện dễ. Nhưng cũng không phải là quá khó với một chế độ dân chủ. Ngoài việc cần giải tỏa và xóa bỏ đi những bất đồng, thành kiến trong quá khứ về chính trị (đây không phải việc dễ, cần có thời gian và tấm lòng thành thật) nhà nước cần phải tôn trọng họ thật sự. Họ có thể tham gia vào bất cứ lãnh vực gì, kể cả việc hoạt động chính trị. Họ hoàn toàn có quyền thành lập các đảng phái và tham gia vào cấp chính quyền. Sự trung thực hay giả dối của một con người, một đảng phái trước sau gì rồi cũng bị người dân phát hiện và sẽ ghi nhận hoặc tẩy chay. Người Phương Đông nói chung và người Việt nói riêng rất quyến luyến và có tình cảm sâu đậm với mảnh đất nơi mình đã sinh ra và lớn lên. Cho nên rất nhiều Việt kiều muốn quay lại quê hương, muốn làm một cái gì đó cho quê hương! Thế nhưng nhà nước phải biết tôn trọng và đối xử với họ sòng phẳng. Nếu không thì quyền lợi sẽ lấn át đi tình cảm.

8. Với các Tôn giáo.

Tôn giáo sẽ không bao giờ là “thuốc phiện ru ngủ quần chúng” như lời Lênin nói được. Đời sống tâm linh của con người cũng quan trọng không kém gì việc ăn uống hàng ngày. Càng nghèo khổ, càng tuyệt vọng thì con người càng cần có đức tin. Đức tin vào một ngày mai tươi sáng sẽ khiến cho con người vượt lên những khổ cực và đắng cay trước mắt để mà sống. Khi con người giàu có và no đủ thì đức tin của họ, có thể sẽ yếu đi (như ở Mỹ và Châu Âu), Kinh Thánh cũng nói rằng để thuyết phục một kẻ giàu có đi theo Chúa khó như chuyện con lạc đà chui qua lỗ kim vậy. Nhưng với một xã hội bị khủng hoảng nhân cách và niềm tin như xã hội Việt nam thì Tôn giáo sẽ là cứu cánh. Vì thiếu đức tin (vô thần) cộng với cuộc sống nghèo khổ mà người Việt sãn sàng làm mọi việc xấu bất chấp hậu quả và đạo lí. Nạn buôn bán ma túy, mại dâm, buôn bán trẻ em phụ nữ, cướp giật, giết người, sống buông thả không cần biết đến ngay mai, cư xử thô lỗ với đồng loại (giết người chỉ vì nhìn đểu, bán cả anh em sang Trung quốc hay Canpuchia làm gái điếm), quan chức thì vô cảm, tham nhũng ngày càng nhiều, mặc cho cuộc sống người dân ra sao thì ra…đã và đang làm băng hoại các giá trị đạo đức, tinh thần của con người và xã hội Việt nam.

Các Tôn giáo sẽ được nhà nước tôn trọng, tự do Tôn giáo sẽ được thực thi ở mức cao nhất. Các tổ chức Tôn giáo được tự do hành đạo và tham gia vào các hoạt động cứu trợ xã hội. Tôn giáo có quyền ra Báo, Đài riêng cho mình. Chính quyền sẽ không can thiệp vào các hoạt động của các Giáo hội, ngược lại sẽ hỗ trợ và tạo mọi điều kiện tối đa để các Giáo hội hoạt động. Các Tôn giáo sẽ cùng với các tổ chức xã hội, các cơ quan chuyên trách (văn hóa, giáo dục…) xây dựng lại niềm tin cho con người, hướng con người vào một cuộc sống Chân Thiên Mỹ, với đức tin trong sáng rằng Tốt Đời, Đẹp Đạo.

Chắc chắn rằng sẽ còn bao nhiều điều để nói, bao nhiêu thân phận con người cần phải đề cập. Một bài viết không thể nào nói lên tất cả mọi điều cần nói. Những điều tôi vừa trình bày chỉ là một phần nho nhỏ trong bức tranh toàn cảnh của một xã hội dân chủ trong tương lai.

Đây chắc chắn không phải là “bánh vẽ” mà tôi cố tình vẽ ra để lòe bịp mọi người. Tôi tin rằng một xã hội tự do và dân chủ chí ít ra cũng phải làm được như vậy. Tôi cũng chỉ là một công dân bình thường như bao nhiêu người công dân khác, nên mơ ước của tôi về một xã hội dân chủ cũng chỉ có bấy nhiêu đó thôi. Tôi cũng mong các nhà dân chủ bổ sung và đính chính thêm nếu có gì thiếu sót. Cũng mong rằng đồng bào của mình ở Hải ngoại hãy nói cho người dân trong quốc nội biết rõ hơn, nhiều hơn về cách vận hành của một xã hội tự do và dân chủ, cái hay cũng như cái chưa được của họ để cùng nhau xây dựng một xã hội dân chủ khi nó đến. Bằng những dẫn chứng cụ thể, gần gũi và dễ hiểu để mọi người đều thấy được và cùng chia sẽ.


In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè:

     http://tudovis.com/kktd/binh_luan_2/bl_nguoi_dan_duoc_gi_tu_1_xa_hoi.htm

Người gửi:

Địa chỉ email: *


Người nhận:

Có thể gửi cho nhiều địa chỉ, nhớ bỏ dấu phẩy trước khi bắt đầu địa chỉ mới.
Địa chỉ email: *
Lời nhắn:
Quí vị có thể copy hết cái bài ở trên và bỏ vào trong hộp Lời nhắn
 
* Thông tin bắt buộc        
Note: Chi tiết bạn điền vào trang này sẽ không được dùng để gửi thư không mời, hoặc bán cho nơi khác.