Theo Dan Chim Viet - DCVOnline - 27-01-2006
DCVOnline: Bạn đọc DCVOnline đã quen thuộc với Vương Văn Quang qua nhiều tác phẩm
của anh viết cho Đàn Chim Việt và Nguyễn Quốc Chánh, với tập thơ “Ê,
tao đây” đăng trên DCVOnline trong tháng 09-10/2005.
Nguyễn Quốc Chánh đi dự hội nghị do “Nhà Văn Hoá Thế Giới” của CHLB Đức mời trong tháng 10/2005 và vừa qua anh có viết bài “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”,
trong đó phần kết anh có ý tưởng biến đổi Lăng Hồ Chí Minh thành “LĂNG
NHỮNG NẠN NHÂN CỦA CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN VIỆT NAM”. (Xem hình về ý tưởng
cải tạo trong bài viết).
Bài của anh đã làm không ít kẻ cầm cân nảy mực trong ngành văn hoá và
những văn nô theo đóm an tàn vô cùng tức tối. Họ muốn chửi Nguyễn Quốc
Chánh, mạ lỵ anh, nhưng không biết bằng cách nào. Gửi đến Talawas ư?
Không được rồi! Ai đi đăng ba cái lời chửi rủa hạ cấp đó! Đành chơi đòn
“ném đá dấu tay”, với nặc danh “MĐS” gửi thư cho Vương Văn Quang: “Kính
gửi anh Vương Văn Quang, tui là một luật sư ở Hà Nội, là học sinh miền
nam xưa, ba má tui đều hy sinh vì cách mạng, nên tui đọc bài thằng
Chánh trên Talawas, tui hỏi bạn bè bên văn chương xem ai có biết địa
chỉ của thằng Chánh không, một người nói anh biết và họ cho tôi cái
email của anh nên mới có thư này, tui nhờ anh gởi bài viết cho thằng
Chánh, xin cám ơn nhiều. Rất xin lỗi vì sự đường đột này”. Kèm theo thư
là bài viết: “Hãy chặn con chó điên”.
Sau khi trao đổi, được biết Vương Văn Quang và Nguyễn Quốc Chánh phần
nào đã nhận diện được kẻ tấn công là ai nên cả hai người cùng đề nghị
DCVOnline công bố bức thư này.
Vương Văn Quang viết cho DCVOnline như sau:
“Bài viết nặc danh, đương nhiên không có chỗ trên những diễn đàn
nghiêm túc. DCVOnline không nằm ngoài nguyên tắc này; nhất là bài viết
nặc danh với mục đích thóa mạ cá nhân.
Sáng ngày 26/01/2006, tôi nhận được bài viết sau đây - người viết bài
tự xưng là một luật sư – bởi vậy, tôi nghĩ rằng, cũng nên công bố bài
viết này cho độc giả DCV đọc để rộng đường dư luận và suy ngẫm về cái
gọi là “tri thức” ở Việt Nam.
Kèm theo bài viết của tác giả nặc danh kia, tôi cũng xin công bố nguyên
văn nội dung lá thư tác giả đó gửi cho riêng tôi, và bài viết của nhà
thơ Nguyễn Quốc Chánh (đã đăng trên talawas)”.
Thiết nghĩ, là một diễn đàn dân chủ và công tâm, DCVOnline quyết định
thực hiện đề nghị của 2 tác giả Vương Văn Quang và Nguyễn Quốc Chánh.
Ít nhất cũng để bạn đọc có cái nhìn và nhận định công bằng trước tư
chất, trình độ của một “trí thức XHCN” nước CHXHCN Việt Nam.
A. Nguyễn Quốc Chánh viết gì?
ĐI MỘT NGÀY ĐÀNG HỌC MỘT SÀNG KHÔN
Nguyễn Quốc Chánh
1.
Xưa Cao Bá Quát mới tới Singapore (Tân Gia Ba) đã tức khí mắng thơ rồi
(Giật mình khi ở xó nhà/ Văn chương chữ nghĩa khéo là trò chơi). Và sau
khi ở Singaporevề, chả uất khí thành con người khác.
Tương truyền họ Cao hay tự đắc, thế gian có 4 bồ chữ, chả rủng rỉnh hết
2 bồ. Nhưng với truyền thống kẻ sĩ, ỷ vào chữ lên mặt với đám đầu chày
đít thớt, chả lập tức bị xì hơi ngay khi nhìn thấy tàu bè, xe cộ, đèn
đóm... khác lạ từ một xứ thuộc địa biết nằm ngoan trong vòng vây gay
cấn của thực dân Anh.
Nếu họ Cao tận mắt chứng kiến bản gốc hoành tráng của nền văn minh,
chắc nỗi cay đắng và sự ngậm ngùi của chả còn rực rỡ hơn nhiều. Bây giờ
thì tôi hoàn toàn chia sẻ với chả nỗi cay đắng và sự ngậm ngùi đậm đà
bản sắc đó.
Sự chới với của chả là sự chới với của những giá trị truyền thống khi
chạm trán với hiện thực của một truyền thống khác. Cao Bá Quát thấy
người liền ngẫm lại ta, và chợt thấy ta chẳng phải ở trong miếu đền, mà
thấy ta chẳng ra con ma gì ở giữa chợ.
Khi nổi loạn chống triều đình, chắc chắn Cao Bá Quát hiểu rằng, muốn
cải cách cái bộ tộc gà què ăn quẩn cối xay, trước hết phải tống bọn
thầy mo ngủ gật ra khỏi cấm thành, nên chả không thể không nổi điên với
đám mũ cánh chuồn, phe phẩy quạt giấy coi trời bằng vung.
Sự tuyệt vọng và hành vi liều lĩnh của Cao có ý nghĩa như một bài thơ
xưng tụng tự do, đồng thời cho thấy sự thất bại của truyền thống lấy
văn hoá phi vật thể làm nền, trước cái phiên bản của một nền văn minh
lấy vật thể làm gốc.
Ðến bây giờ, so với Singapore, Việt Nam dưới sự cai trị phè phỡn của
“đỉnh cao trí tuệ” khôi hài là Ðảng Cộng sản, vẫn nguyên xi là một quần
cư sình bụng, giẫy giụa tưng bừng trong mặc cảm mịt mù của sự thất bại
chắt cú đó. Cái chắt cú của một thảm trạng: nghèo, ngu và ác.
2.
Tôi không ngờ lại có một cơ hội ngọt ngào, nếu không nhờ cái phương
tiện kỳ diệu là internet. Từ ngày có internet, thế giới trở nên huyền
ảo hơn, từ đó tôi thấy trâu bò, đồng lúa bớt lãng mạn hẳn. Internet mới
thực sự lãng mạn.
Các nhà thơ thích làm thơ về trâu bò, đồng lúa, hãy quan sát thường
xuyên hơn cái máy tính, nó mới thực là cánh đồng bất tận, là nguồn cảm
hứng không phụ thuộc ngoại cảnh, thi tứ sẽ từ đó tự động tuôn trào,
khỏi mất công lên chùa cầu thánh để thỉnh bút thần hay bút mực.
Thử nghĩ nếu không có internet, hệ thống chuyên chính mặc sức mà rung
đùi cai trị. Internet đã giúp đám đối thủ (cuội) èo uột và manh mún một
cơ hội vàng để lưu thông khí huyết. Một khi khí huyết tự do lưu thông,
nó nhanh chóng phục hồi nhân phẩm, và một khi nhân phẩm nhúc nhích, nó
kết những mảnh vụn (cuội) thành những mũi nhọn sực mùi ý thức, chọc vào
cái giáp sắt (13 ly) của bộ sậu bất nhân toàn trị.
Có thể nói trong tình trạng đục nước béo cò ở Việt Nam hiện nay, và
trường hợp độc cô (không cầu bại) là tôi hiện tại, internet là một
phương tiện thông hơi tuyệt vời, hơn thế, nó còn là một cứu cánh tân
thời của dân chủ, và đôi khi cũng rất đỗi lãng mạn.
Tôi hỏi bà Lydia Haustein, giáo sư tiến sĩ lịch sử nghệ thuật, trưởng
ban Văn học-Xã hội-Khoa học của Nhà Văn hoá Thế giới ở Berlin, làm sao
mà tôi đến được đây, bà nói: internet. Nghĩa là có một lần tình cờ nào
đó, Lydia lướt mắt xanh qua màn hình máy tính, tôi và Linh, 2 thằng từ
2 phương trời bỗng gặp lại nhau ở Berlin.
Lydia nói với Linh, có bữa thức dậy bà không biết là đang ở xứ nào. Bà
đã đi 40 quốc gia trên thế giới để nghiên cứu về những hình tượng của
nhiều nền văn hoá khác nhau. Trong cuốn sách Về cái đẹp do Nhà Văn hoá
Thế giới ấn hành, có một tiểu luận của Lydia, “Tính tức cười của những
giá trị biểu tượng khi chuyển dịch”. Tiểu luận phân tích tính nhiều vẻ
của cái đẹp là một điểm đồng quy những góc nhìn đan xen của hệ tư
tưởng, triết học và văn hoá. Ở phần cuối, Lydia viết: “Cái đẹp có thể
vượt qua nỗi sợ tức cười trong tiến trình thay đổi văn hoá, làm mủi
lòng mối quan hệ giữa văn hóa kiêu kỳ và văn hoá đại chúng bằng sức
mạnh vạm vỡ của văn hoá đại chúng”.
Từ góc nhìn hậu hiện đại đó, Nhà Văn hoá Thế giới không lấy tụ điểm là
nghệ thuật đương đại Tây Âu, mà dành trọng tâm giới thiệu nghệ thuật
đương đại của phần thế giới còn lại (cái phần thế giới có nhiều ân oán
giang hồ với trung tâm là Tây Âu cựu đế quốc), hiện đang đối diện với
những mặc cảm ngoại vi, triền miên lâm li trong chuỗi lịch sử bầm dập,
để qua đó, qua cái hiện trạng quái gở đó, hy vọng tìm thấy những tín
hiệu vui của nghệ thuật đương đại.
Không biết những hoạt động coi bộ tốn tiền này chứng minh được gì và
được bao nhiêu phần trăm nhận định khả ái kia của Lydia. Nhưng khi nhà
thơ Ðức Mario Wirz đọc những bài thơ của Ðinh Linh, những bài thơ nói
về sự phiền toái của thân thể, tôi thấy nhiều người và cả Lydia cười ha
hả, còn những bài thơ của tôi, nói về sự phiền toái (“Phỉnh” [1] ) của
xã hội Việt Nam, khi Mario Wirz đọc, tôi thấy có vài cái đầu gật gù và
Lydia thì ra dấu bằng cách chìa ngón tay cái lên. Tôi hiểu cử chỉ đó có
nghĩa là: ồ, tao thấy Việt Nam của mày phỉnh thiệt.
Sau buổi đọc, tôi muốn chụp hình với Lydia, bà giang hai tay choàng lên
cổ tôi và Linh thật thân ái. Tôi hiểu đây là thời điểm xuất hiện mối
quan hệ “mủi lòng” của tiến trình chuyển đổi văn hoá, giữa một bên là
cái đẹp của văn hoá kiêu kỳ (high culture) và một bên là hai cái đẹp
của sức mạnh vạm vỡ của văn hoá đại chúng (robust powers of popular
culture). Có thể nói hành vi đó tương ứng với nhận định trong tiểu luận
“Playfully Translating Symbolic Values” của Lydia.
Khi được yêu cầu nói lời cuối cùng trong buổi đọc, tôi nói thi sĩ là
một loài động vật quý hiếm, nếu không được bảo vệ thì sẽ bị tuyệt
chủng, và tối hôm nay, ở đây, trong khung cảnh này, tôi thấy mình được
bảo vệ. Sau đó ở hành lang, Lydia nói không những thi sĩ cần được bảo
vệ mà cả Lydia cũng cần được bảo vệ. Tôi tưởng bà nói chơi, nhưng có
một sự thật là, vì Lydia thích rước toàn cái đám trời ơi từ khắp nơi về
đây, nên cán bộ sứ quán các nước ở Berlin chắc cũng bực mình, và bộ
ngoại giao Ðức làm sao mà không nhăn mặt. Lydia nói có thể bà bị cho
thôi việc trong vòng 2 năm tới.
Mỹ quan tổng quát của nghệ thuật đương đại Ðông Nam Á ở Liên hoan này,
có một điểm chung trong tư duy nghệ thuật là: phê phán và chế giễu. Phê
phán nạn xâm hại môi trường của ngành kinh doanh du lịch ở Philipiness
(Phi Luật Tân); chế giễu tính dân chủ giả cầy ở Indonesia; phê phán chế
độ chính trị độc tài của Myanmar (Miến Ðiện)... Và hai tác giả tiêu
biểu của tinh thần phê phán và chế giễu đó là Ðinh Linh (Việt Nam) và
Prabda Yoon (Thái Lan).
Trong một truyện ngắn xuất sắc có tên “!”, Ðinh Linh đã điểm đúng huyệt
cái xã hội Việt Nam đương thời không gì khác là một xã hội của những
thứ đồ dỏm. Trong cái làng phúng dụ có tên là Kỳ Ðồng, tờ báo Công nhân
ở đó mấy bữa lại khui ra một bác sĩ dỏm, một luật sư dỏm, một doanh
nhân dỏm, một đại biểu quốc hội dỏm... Nghĩa là ở làng Kỳ Ðồng cái gì
cũng có, từ nghệ sĩ (phá cách) đến nhà giáo (dân nhân), nhưng một khi
bị khui ra, không thứ gì trong đó có thể xài được.
Trong cái lũ dỏm đó, có một thầy giáo tiếng Anh dỏm tên là Hồ Mười.
Trong 25 năm Hồ Mười dạy cho sinh viên 1 triệu từ vựng, thậm chí Hồ
Mười còn cho sinh viên đọc truyện ngắn, thơ bằng tiếng Anh của hắn,
nhưng khi bị công an hù, Hồ Mười không biết trong tiếng Anh có thì quá
khứ, động từ “to be”, “to do” và chưa bao giờ nghe tên Shakespeare,
cũng không biết người Anh và Úc nói cùng một thứ tiếng.
Với kinh nghiệm của một tên sống sót dưới chệ độ cộng sản, sống sót có
nghĩa là vẫn chưa bị ngu và ác hết thuốc chữa, tôi khẳng định cái dỏm
trong xã hội Việt Nam mà Ðinh Linh đặt ra trong truyện ngắn “!” đúng
đến một trăm lẻ một phần trăm, không những đúng bây giờ mà còn đúng cho
cả mai sau. Vì không đủ thời gian, truyện “!” không kịp đọc, nhưng nó
được coi là một tác phẩm bao quát chủ đề: “Không gian và Bóng tối” -
một thông điệp của Liên hoan về Nghệ thuật đương đại Ðông Nam Á, diễn
ra ở Berlin từ 29/09 – 20/11/2005.
Và cuốn phim Cuộc đời mạt kiếp trên trần thế, dựng từ truyện ngắn của
Prabda Yoon, nói về một khoảng đời của ả điếm Thái với một gã du đãng
Nhật. Ðặc tính của ả điếm Thái là bày hày, và đặc tính của gã du đãng
Nhật là trật tự. Ả Bày Hày và gã Trật Tự cù cưa nhau trong một căn nhà
cũng rất bày hày trên đất Thái. Họ vừa cù cưa vừa xung khắc, vừa xung
khắc vừa tò mò và đến gần cuối phim, họ phải lòng nhau. Sau đó gã Trật
Tự và ả Bày Hày kéo về Nhật, nhưng khán giả chưa kịp thấy họ yên thân
một ngày trên đất Nhật thì gã Trật Tự bị bắt, ả Bày Hày không biết ở
đâu, chắc là đang kéo lê va li ở một nhà ga nào đó, loay hoay rồi lại
phải vô nhà thổ nữa thôi.
Hai tính cách trái ngược như hai đối cực trong một thực thể không thể
tách rời, chúng giao động giữa 2 cấp độ phát triển xã hội khác nhau.
Nước Nhật ai cũng biết là biểu tượng cực thịnh của một châu Á chậm
tiến, và Thái nổi tiếng với ngành du lịch và sex của một châu Á đang
phát triển. Sự thái quá của tính trật tự và bày hày là những nét đặc
trưng của một khu vực cực thịnh và nhiều khu vực đang phát triển đã trở
thành một vấn đề của xã hội và đối tượng chế giễu của nghệ thuật đương
đại.
Nhà Văn hoá Thế giới là một hội quán toạ lạc trong một toà nhà có lịch
sử và kiến trúc đặc biệt. Nó là một biểu tượng về tự do triệt để trong
kiến trúc thời bấy giờ (1957). Ở trên nhìn xuống nó giống như một con
bướm giơ cánh, nhìn từ đằng trước nó là một nụ cười rạng rỡ, nhằm
truyền đi bức thông điệp về sự đối lập giữa hai hệ thống xã hội trong
thời chiến tranh lạnh. Nó là quà tặng của chính phủ Mỹ cho phía Tây
thành phố Berlin.
Hội quán hoạt động quanh năm, là cái cửa sổ để công chúng Berlin thấy
toàn cảnh nghệ thuật đương đại thế giới. Nghệ thuật có thể nảy sinh ở
khắp mọi nơi, nhưng nghệ thuật là một loại hàng xa xỉ phẩm, chỉ những
quốc gia thịnh vượng và dân chủ mới có cơ hội thụ hưởng.
3.
Bức tường chia đôi Berlin nổi tiếng trong thời chiến tranh lạnh, giờ
chỉ còn chừng 100 thước, làm chứng cho cái mưu đồ dùng tư tưởng cải tạo
thế giới của Marx. Tuy đã sụp nhưng bức tường vẫn tồn tại vô hình, và
tiếp tục ngăn cách người dân hai miền Ðông và Tây Berlin. Ông tiến sĩ
Sven Arnold, điều phối viên chương trình của Nhà Văn hoá Thế giới nói
với Linh và tôi, người dân của Ðông và Tây Berlin vẫn khó ngồi chung
với nhau, giữa họ vẫn còn một vết hằn lịch sử. Khi nhà văn Phạm Thị
Hoài chở chúng tôi đi chơi, chị cũng nói, người Việt ở Berlin chia làm
2 khu, người Việt miền Bắc chủ yếu ở bên Ðông và người Việt miền Nam
chủ yếu ở bên Tây, bên nào treo cờ bên nấy. Mới thấy học thuyết đấu
tranh giai cấp đã để lại hậu quả ghê gớm như thế nào. Nó là một loại
thặng dư, (dĩ nhiên không làm tăng tích lũy tư bản, không làm mồ chôn
đế quốc), một thứ virus hủy hoại tinh thần của chính những kẻ thiết kế
nó và những người bị nó cuốn theo.
Tôi không thể không liên tưởng đến tình trạng Việt Nam. Một Việt Nam
với những khẩu hiệu tràn ngập, lải nhải suốt 30 năm là thống nhất, giải
phóng... nhưng trên thực tế, chỉ có tàu xe và máy bay là thống nhất,
còn lòng người, vết hằn ý thức hệ thì vẫn còn nguyên. Nước Ðức thống
nhất, nhưng không thống nhất theo kiểu ba trợn là kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, mà thống nhất theo “định hướng” từ phía tư
bản Tây Ðức. Ði chơi tôi không thấy bối rối vì túi ít tiền, mặc dù ít
tiền ở đâu chắc cũng bất tiện, nhưng thật sự nhục vì biết rõ mình đang
là một thứ nửa người nửa ngợm, chui ra từ một cái địa ngục toàn là ma
với qủy.
Ngoài bức tường Berlin, tôi có đến khu tưởng niệm những người Do Thái
bị giết hại. Khu này có hàng ngàn khối đá màu đen không cùng kích cỡ,
dựng đứng, nằm ngang tạo thành một nghĩa địa nhấp nhô rất ấn tượng. Nó
là một kết hợp giữa ý thức sám hối và nguyên nhân gây ra sự sám hối đó,
hai sự thật rất khó dung hòa lại được lồng vào nhau. Những khối đá màu
đen, mỗi khối vừa như biểu thị cho một linh hồn, vừa như khẳng định một
hành vi tội ác. Ý tưởng sám hối lồng trong ý tưởng khôi hài, vì dưới
những khối đá biểu trưng cho sự sám hối, lại chính là nơi Hitler tử
nạn. Ở đây tồn tại cùng lúc hai sự thật: nơi chôn chặt một kẻ vì nước
Ðức mà gieo tội ác, và tội ác đó được sám hối bởi chính những người Ðức
đương thời.
![]() |
| Ước vọng : Lăng nạn nhân CSVN - Ba Đình, Hà Nội |