Nhiều
nhà văn Việt Nam họ Nguyễn, song nói đến chàng Nguyễn, cụ Nguyễn, nhiều
người nghĩ ngay đến Nguyễn Tuân. Chính tác giả góp phần tạo ra thói
quen đó. Bởi một trong những cuốn tuỳ bút hay nhất của ông mang tên Nguyễn và nhân vật chính ở đó được gọi là Nguyễn.
Nhưng nhà văn này còn sống với một cái tên nữa là Bạch, cái tên ông
dùng để gọi nhân vật chính của cuốn truyện dài duy nhất của mình là Thiếu quê hương (1940).
Khoảng 1955 - 1956, mấy năm Hà Nội trong vùng Pháp chiếm mới trở về
với các lực lượng cách mạng (tiếng hồi ấy gọi là tiếp quản), - cũng là
đoạn cuối Nguyễn Tuân đảm nhận vai trò Tổng thư ký Hội văn nghệ Việt
Nam -, trên tờ Văn nghệ chuyển từ tạp chí ra hàng tháng sang
thể tuần báo, Nguyễn Tuân đã viết nhiều bài ký tên là Bạch. Hồi còn
Liên Xô, Nguyễn Tuân có một người bạn là nhà văn xô-viết M. Tkachev,
ông này khi tỏ ra thân mật thường hay gọi Nguyễn Tuân là cụ Bạch.
Trong tùy bút Trang hoa viết những năm sáu mươi, cũng có dẫn lời một người lấy tên là Bạch. Bạch với Nguyễn tuy hai mà một.
Sau nữa, Thiếu quê hương đáng để chúng ta quan tâm còn ở
những lý do sâu xa hơn. Nếu trong các bài tùy bút nhỏ (lúc đầu rải rác
in báo sau tập hợp lại thành các tập Tùy bút I , II và Nguyễn),
nhà văn này đã rất tài trong việc khai thác mọi ngóc ngách tâm hồn các
nhân vật, từ đấy giúp người đọc nhận ra bóng dáng thời đại thì đến Thiếu quê hương
những yếu tố thời đại lại được ngưng kết trong một con người lãng tử cụ
thể. Bạch cùng lúc tập trung trong mình những mối quan hệ xã hội khác
nhau. Nhất là Bạch được đặt trong một không gian rộng lớn và hết sức đa
dạng. Hai chữ quê hương hiện ngay trên tên sách không
chỉ có nghĩa cụ thể nơi chôn rau cắt rốn. Mà nó còn là môi trường tồn
tại, là xứ sở, cái hoàn cảnh thân thiện cần có cho sự phát triển hết
tầm vóc của con người. Có thể nói ngay trong văn học tiền chiến cũng
hiếm thấy một nhân vật có đời sống tinh thần phong phú và cao đẹp như
Bạch.
Những kinh nghiệm sống mới mẻ và một tầm suy nghĩ rộng rãi
Nét đặc biệt đầu tiên làm thay đổi ấn tượng về nhiều nhân vật trong
Nguyễn Tuân cũng như của chính ông thời tiền chiến là những mối quan hệ
xã hội. So với con người xã hội Việt Nam trung đại, họ hiện ra khá mới
mẻ.
Người Việt vốn ít đi xa. Cô Mai trong Nửa chừng xuân và Thị Mịch trong Giông tố
giống nhau ở một điểm: họ đều mới từ quê ra Hà Nội; chị Dậu còn ít có
may mắn hơn họ: chị chỉ lên tới phủ, đúng hơn là vào sống làm vú nuôi ở
dinh quan phủ. Ông giáo Thứ của Nam Cao trong cuộc kiếm sống tạm thời
một chân đặt lên Hà Nội chân kia vẫn để quê nhà; ngay Tô Hoài cũng chỉ
biết một Hà Nội ngoại ô trong khi khá xa lạ với đô thị Hà Nội chính
cống, Hà Nội trung tâm của mọi vấn đề sôi động của cả đất nước.
Còn ở đây trước mắt chúng ta, trong Thiếu quê hương, Bạch
nổi lên như một nhân vật có tầm hoạt động rộng rãi. Bạch có một nghề lạ
là nghề thuỷ thủ viễn dương để đi nhiều nước. Nếu có điều gì khiến Bạch
tự hào nhất thì đó là niềm tự hào chân chính là mình chai sạn, lịch
lãm, từng trải, đã "ăn mòn bát thiên hạ". Tiếp bước chân Bạch còn có
Sương bạn Bạch, có Phối em Bạch. Trong văn học Việt Nam, kể cả văn học
hiện đại, ít thấy có những nhân vật nào có cái nghề thú vị và mới lạ
đến như vậy. Rồi việc nhân vật Hòa người quen của Bạch đi dự hội chợ và
mang hàng đi bán ở nước ngoài. Rồi việc cả làng Xuân Phả náo động chờ
ngày xuất cảnh mang tích trò của mình sang biểu diễn tận bên Cựu Kim
Sơn tức San Francisco (dù đến những ngày cuối, chuyến đi bị hoãn)... Có
khá nhiều sự kiện hợp cả lại chứng tỏ cái xã hội bé nhỏ ở Việt Nam đang
từng ngày từng giờ vận động để hòa nhập với thế giới.
Vả chăng, điều quan trọng không chỉ là câu chuyện thuộc nhiều bản
đồ địa dư cùng sự ham hố thăm thú đi lại. Cũng như ở các tùy bút lẻ,
trong Thiếu quê hương người ta bắt gặp một nếp sống hiện đại.
Con người không chỉ làm việc mà còn nhận thức, suy nghĩ và không quên
hưởng thụ đời sống. So với nếp sống trì trệ vốn ngự trị lâu bền ở xã
hội thì đó là một cuộc đảo lộn ghê gớm. Giữa đội quân đông đảo của các
nhân vật nông thôn trong văn học tiền chiến, Bạch nổi cộm lên và gây
khó chịu một phần vì đây là một nhân vật thành thị thứ thiệt. Trước mắt
Bạch không có cái ám ảnh về miếng cơm manh áo như phần lớn các nhân vật
của nền văn học bình dân hiện đại (mà ta quen gọi là vănhọc hiện thực).
Thậm chí cả cái gò bó của kiếp sống công chức và những ràng buộc của
cuộc sống gia đình mà một số nhân vật Tự Lực văn đoàn giãy ra không
nổi, nhân vật của Nguyễn Tuân cũng vượt thoát. Bạch hình như không cần
làm gì mà cũng sống vương giả. Cái việc thường xuyên vào ga ngắm cảnh
người ta lên đường của Bạch thực ra cũng chỉ là một cách để chiêm
nghiệm và thưởng thức những khả năng của xã hội đương thời trong việc
tạo ra những mối quan hệ không gian chưa từng có và đẩy người ta nghĩ
về một thế giới rộng lớn. Ðang ở Hà Nội, thoắt cái Bạch lại có mặt ở
Hải Phòng Hồng Gai. Nhiều nếp sống mà đến cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ
XXI, người Hà Nội mới học theo, như thói quen du lịch, Bạch đã biết từ
lúc ấy. Trong lúc bực mình, Bạch lấy rượu ra uống rồi nghêu ngao hát
bằng tiếng ngoại quốc. Với một người bạn thân như Tần, khi có điều gì
sâu sắc, Bạch trao đổi riêng bằng tiếng Tây. Tóm lại Bạch chính là một
con người của hiện đại hóa, con người vượt qua mặc cảm để thay đổi và
sự thực đã thay đổi một cách hợp lý.
Thạch Lam từng có một thiên truyện mang tên Người lính cũ
trong đó nhân vật chính từng qua Pháp, lấy vợ đầm, ấy vậy mà rút cục
người lính này nghèo túng trở về quê, xa lạ ngay giữa những người dân
làng, đến mức phải ra ở tạm cái quán giữa đồng. Dù chỉ là một truyện
ngắn chưa đầy hai ngàn chữ song Người lính cũ mang trong nó hình ảnh khái quát một kiểu người không thích ứng được với Âu hóa, tình cảnh hoàn toàn bất lực và vô vọng.
Nhân vật Nguyễn Tuân ở trong tình thế ngược trở lại. Bạch có lúc
chán chường mệt mỏi song đó là do quá yêu mà chán, đi đã nhiều nên mệt.
Trong cái thế của một người sống cùng cái nhịp với tiến trình Âu hóa,
cũng tức là người đi tiên phong của thời đại, sự hào hứng thấm vào
trong mọi suy nghĩ hành động của Bạch: chàng chỉ sợ bỏ qua cái vận hội
mà trước đó xã hội Việt Nam chưa từng biết.
Từ thời còn mồ ma cụ Tú Xương, người ta đã bắt gặp những nét tâm lý
thuở giao thời nó bắt rễ trong những con người Việt những năm cuối thế
kỷ XIX đầu XX. Họ vừa sợ hãi những ảnh hưởng ngoại nhập, vì nó làm mất
đi ở mình khá nhiều nếp cũ, vừa khao khát thèm muốn cách sống hiện đại
vì nó hứa hẹn với mình rất nhiều thú vị. Nay cả xã hội đã vượt qua cái
giai đoạn xấu hổ đó, tự thành thực với cái nguyện vọng muốn thay đổi
của chính mình. Không phải ai cũng có dịp vượt đại dương như Bạch, song
nhiều người đã đi Tây mà không cần xuất cảnh, đi Tây ngay trên quê
hương, để mình cuốn theo cái nếp sống phương Tây một cách hào hứng.
Ðây là một công thức ngắn gọn mà trong tùy bút Ðẹp lòng
Nguyễn Tuân dùng để diễn tả niềm vui của mình: "Tôi huýt sáo. Tôi hát
nhạc Tây. Tôi ngâm thơ Tàu cổ". Ðây nữa, một chi tiết nhỏ trích ra ở
chương XXVIII của Thiếu quê hương . Sau câu chào của Hòa: "Anh
Bạch, trận gió nào đưa anh lại?", tác giả bỏ nhỏ một câu bình luận:
"Câu chào nghe Tây quá và thân quá". Rồi khi nhận ra cái nếp sống đầm
ấm hiện đại trong gia đình mình, nhân vật lập tức liên tưởng "cách sống
như một gia đình bên Pháp".
Tức là những gì liên quan đến Tây, vốn là của Tây, theo lối Tây đã không còn gắn liền với nhố nhăng xa lạ học đòi, không mang lại khó chịu phản cảm, mà ngược lại được coi là một giá trị.
Từ đây cả quan niệm của Bạch về cuộc đời đã hình thành. Bạch từng
định nghĩa Hoà (một kẻ phân thân của mình) là “người của một cuộc đời
lớn”. Chính Bạch cũng là con người như vậy. Bạch biết rằng mình không
chỉ là công dân của một xứ sở thuộc địa mà còn là một thành viên của
thế giới rộng lớn (mượn chính chữ của Bạch, “không chỉ ở ngòi mà còn ở
biển”). Nhân vật hay xục xặc và có lúc được gán cho đích danh một thứ
hoài cổ bảo thủ này, thực ra lại là người trong thâm tâm chào đón cái
mới một cách hết lòng. Dưới tác động của Bạch, cả những con người thuộc
loại “sáng vác ô đi tối vác về” như nhân vật Tần cũng cảm thấy không
thể chịu được cuộc sống tù túng và luôn tự nhủ “lẽ ra mình phải sống
khác”.
Qua Bạch, người ta nhận ra sức sống của tư tưởng hiện đại trong
lòng lớp trẻ Việt Nam nửa đầu thế kỷ. Khả năng con người ta nhập vào
thời đại, tự đào tạo mình theo khuôn mẫu thời đại. Và trước tiên là cái
nhìn khác đi về mình cũng như về thế giới… Ðó là những yếu tố khiến ta
không thể lẫn họ với con người của các thế kỷ trước.
Trở lại với những nhận xét đã làm nên một thành kiến về Nguyễn Tuân
(rằng ông bất mãn, ông quay lưng lại xã hội chung quanh). Ðiều thú vị
là ở chỗ sở dĩ cái huyền thoại đó về ông kéo dài một phần chính vì ông
cũng tham gia vào việc xây dựng nó. Trên các trang viết ông tự khuếch
trương tô đậm, tức tự tố cái chất cá nhân ở mình lên một cách quá đáng,
tự xỉ vả tự chỉ trích quá nhiều. Song tình yêu với "cuộc sống mới" vừa
hình thành đã nằm rất sâu trong tâm tình con người khinh bạc này và mặc
dầu có thể chính ông cũng không biết là mình có song nó vẫn len lỏi
trong tâm tình ông, tha thiết nồng nàn đến độ chi phối mọi suy nghĩ
tình cảm của ông. Không nên cường điệu những bực bội khó chịu nơi ông
Nguyễn mà nên ghi nhận nó như một dấu hiệu tích cực đơn giản là bởi chỉ
ở những người có mối liên hệ rộng lớn với thời đại mới có thể có những
đay nghiến giày vò nó cãi cọ nó như Nguyễn đã tự miêu tả.
Hiểu rõ “kẻ khác” để trở về với dân tộc
Theo như cách nói của Octavio Paz (Ðặng Anh Ðào dẫn lại trong Tài năng và người thưởng thức),
thì "tấn bi kịch của những dân tộc Mỹ la tinh trước giai đoạn
Christophe Colomb đó là họ không có ý niệm gì về kẻ khác”. Hoàn cảnh
của người Việt thế kỷ XIX về trước, có chút gì đó tương tự. Sống ở nước
mình, song các cụ ta thuộc lòng lịch sử địa lý con người Trung Hoa. Có
điều Trung Hoa lúc ấy bên cạnh vai trò kẻ thù đe doạ sự tồn tại, lại có
vai trò một thứ cội nguồn mà người ta mơ ước trở về và do đó chưa bao
giờ tách mình ra khỏi hoàn toàn. Tức là Trung Hoa có cái tình thế nước
đôi, vừa là kẻ khác vừa không phải. Chỉ sang thời hiện đại, mặc dù vai trò thực dân làm cho vai trò kẻ khác bị
lu mờ, song cuối cùng sứ mệnh của người Pháp như một nhân tố bên ngoài
thúc đẩy sự phát triển xã hội vẫn được khẳng định và nhờ vậy ý niệm về
kẻ khác trong lòng dân ta lần đầu tiên mới được hình thành một cách
trọn vẹn.
Cái tình hình có thực này đã được văn học phản ánh như thế nào?
Trong cuộc đời và tác phẩm của những Thạch Lam Nguyễn Tuân Xuân Diệu
Ðoàn Phú Tứ... sự có mặt cuả người Pháp như một nét đặc biệt của xã hội
Việt Nam từ sau 1884 đã trở nên một nhân tố khách quan hợp lý. Trường
hợp Người đầm của Thạch Lam là một ghi nhận chắc chắn. Không hẹn mà nên, ở chỗ này, Nguyễn Tuân cũng lại gặp Thạch Lam. Ngay trong chương đầu của Thiếu quê hương,
người ta đã thấy sự hiện diện của mấy người da trắng xa lạ ấy, từ người
chủ cửa hàng mà Bạch làm thuê tới một người lính ngẫu nhiên đến chia sẻ
tâm sự với Bạch như một kẻ tri âm tri kỷ. Hoặc ở đoạn cuối, nhân có một
việc cần tác động vào quan chức địa phương, mà không biết làm cách nào,
Bạch liền tìm đến nhà viên công sứ đầu tỉnh. Thì ra đây là một người
quen cũ của Bạch, họ hiểu nhau nhân cùng đi trên một chuyến tàu biển từ
Pháp sang Việt Nam và cái chính là viên quan cai trị này thuộc loại
biết người biết của, lại sống có tình.
So với sự có mặt của những người Pháp trong các tác tác phẩm của
Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng… thì đây đã là cả một sự thay
đổi rõ rệt.
Một điều còn quan trọng hơn: nếu bảo cách nhìn của tác giả trong Bước đường cùng, Tắt đèn
là hiện thực thì cũng phải nhận Nguyễn Tuân Thạch Lam có cái lý riêng
của mình. Ðó là một phương diện của đời sống xã hội trước 1945. Và các
ông cũng hiện thực.
Một sự lo ngại chính đáng thường xảy ra khi nghe nói đến Âu hoá: sợ
rằng nói thế rồi dễ sinh ra nông nổi mất gốc. Nhưng nếu hiểu Âu hoá là
hiện đại hoá và nhìn lại lịch sử thì thấy ngược lại. Hiện đại hoá đòi
hỏi các cộng đồng cũng như các cá nhân phải nghĩ về mình, chính trong
hiện đại hoá mà các chủ thể đó trở lại với bản thân để tiến hành công
cuộc tự phát hiện đầy thú vị. Tức hiện đại hoá không đẩy người ta đi xa
dân tộc mà càng trở về với dân tộc. Ðây chính là một nghịch lý vốn đã
được chứng minh ở các nước châu Âu, nay đến phương Ðông vẫn đúng. Nhìn
vào học thuật (học thuật với nghĩa cái phần tự ý thức của dân tộc): chỉ
từ thế kỷ XX, chúng ta mới có những sự kiểm kê di sản nghiêm túc để rồi
làm nên những bộ sách cơ bản Việt Nam sử lược (Trần Trọng Kim), Việt Nam văn hóa sử cương (Ðào Duy Anh) Văn minh Việt Nam (Nguyễn Văn Huyên) Việt Nam văn học sử yếu
(Dương Quảng Hàm). Ðiều này càng thấy rõ hơn trong sáng tác thơ văn.
Trong việc tạo ra mối thân tình với con người, văn học tiền chiến có
một sự gần gũi hơn hẳn so với văn học cổ điển. Ðiều đó một phần là nhờ
ở cái bút pháp tả thực mà các nhà văn lúc này có được qua học hỏi
nguyên tắc sáng tác khoa học của văn học phương Tây. Họ viết ngay về
cảnh vật làng xóm quê hương cũng như các thành thị mới hình thành. Họ
viết ngay về những con người họ gặp hàng ngày.
Ở chỗ này Nguyễn Tuân cũng là một minh chứng đắc lực. Trong khi nét
đặc sắc của nhiều nhà văn tiền chiến xuất sắc là phong cảnh con người
nông thôn thì Nguyễn Tuân tập trung nhiều hơn vào đời sống thị thành từ
Hà Nội tới Hải Phòng Hòn Gai. Rồi theo bước chân của Nguyễn, chúng ta
còn có dịp đến với Huế, Cửa Ðại và vào tận Sài Gòn. Có thể nói, trước
1945, không có một nhà văn nào làm được cái việc có mặt trên khắp ba
miền đất nước và sống với nhiều miền quê, nhiều đô thị như ông Nguyễn.
Người ta không thể chăm chú cực tả phong cảnh một vùng đất nước nếu
người ta không yêu. Tình yêu của Nguyễn Tuân lại hai lần độc đáo vì đó
không phải là sự luyến tiếc quá khứ mà là tình yêu một quê hương đã đổi
mới trong xu thế của một xã hội công nghiệp.
"Lạ hóa" những gì quen thuộc
Người ta thường lên án cái việc ham đi nơi Nguyễn cũng như Bạch,
xem đó là một hành động hưởng thụ cá nhân của kẻ vô công rồi nghề.
Nhưng mọi chuyện có thể được nghĩ khác. Quê hương là cả đất nước chứ
không phải cái xóm nhỏ đầu làng; ham xê dịch chẳng những không phải là
xấu mà nên coi là một thói quen cần được khuyến khích.
Xê dịch một cách lành mạnh như Bạch còn mang lại cho nhân vật cả
những mới mẻ trong cách nghĩ. Bạch thường lấy quan niệm về sự xê dịch
làm tiêu chuẩn gốc để đánh giá con người. Từ đó, Bạch tỏ ra đặc biệt dị
ứng với thói quẩn quanh xó nhà ở những người bình thường. Ði với
người dân thường là một điều khốn cực, là một cục gạch ném vào hạnh
phúc, và cái đời yên nhàn. Về việc đi, trong ngôn ngữ dân gian có những
thành ngữ đê tiện, đại để như những câu sểnh nhà ra thất nghiệp, ăn mày xuất tàu, chạy tiền ăn đường. Người động ra tàu là có bao nhiêu người than khóc ầm lên chạy theo như chạy theo linh cữu …
Thói ngại đi của người Việt được Bạch "gọi mặt chỉ tên" không thương
tiếc như vậy. Cách nói có phần quá quắt. Nhưng đằng sau đó là gì nếu
không phải là tình yêu tha thiết với đồng bào xứ sở, muốn cho người
mình xứ mình tiến nhanh lên để đạt tới nếp sống nếp nghĩ hiện đại.
Từ chuyện xê dịch nhìn rộng ra, con người xem xét đánh giá lại tất cả. Có chỗ, một nhân vật trong Thiếu quê hương
bảo: xứ mình tẻ lắm ngài nhỉ; có chỗ nhân vật khác lại thoáng nghĩ đại
khái trình độ đương thời là trình độ bán khai. Ðến Hòn Gai, Bạch thấy ở
đây đất đen mà lòng người thì trắng. Ở Hải Phòng, Bạch thấy "cái gì mà
người ta sống như ăn cướp và nhà gạch mọi phố thì cái nào cũng giống
cái nào”. Trong một đoạn văn ngắn ở cuối sách, dự một buổi việc làng
Bạch đã nhận ngay ra chân tướng những người nông dân, vừa tham lam vừa
thiển cận, lúc ngồi giữa đám đông bài bây làm bậy đấy rồi lại khóc lóc
hèn hạ ngay đấy.
Cùng phụ họa với Bạch, nhân vật Hòa cũng thấy chung quanh quá tầm thường. Ðây là một đoạn Hòa nghĩ khi đi bên cạnh Bạch:
"Nàng ngắm mình, ngắm trộm Bạch, tự cảm thấy rằng hôm nay có hai
người đại lữ khách đang đi qua thành phố Hà Nội nhỏ bé. Một nỗi kiêu
căng ngập lòng Hoà, tràn lan ra ngoài. Rồi nàng lại chỉ muốn làm một cô
gái rất bé nhỏ bên cạnh một người anh tên là Bạch rất ngang tàng trong
điềm đạm đang có bước đi bộ bất chấp cả đến tất cả chung quanh, từ một
cái ô tô rẽ ngoặt bóp liền hai ba thứ còi cho đến một cái tàu điện lù
lù và nghênh ngang mãi ở giữa phố. Không hiểu anh Bạch anh ấy đang nghĩ
gì chứ trong lòng Hoà thì Hoà thấy khinh bỉ Hà Nội quá chừng. Hà Nội
trông xấu quá. Có đi sang đến bên kia một cái cái bờ Thái Bình Dương
rồi khi trở về mới thấy cái kinh thành sinh trưởng của mình là bủn xỉn"
(cuối chương XXVIII).
Ðể hiểu cái tâm lý thúc đẩy một ngòi bút sáng suốt như Nguyễn Tuân
viết ra những đoạn văn như thế này, chúng tôi muốn tham khảo cách nhìn
một nhà văn đầu thế kỷ XXI .
Vidiadhar S. Naipaul đoạt giải Nobel văn chương 2001. Ông viết bằng
tiếng Anh mặc dù vốn là người Trinidad, một hòn đảo nhỏ trên Ấn Ðộ
Dương. Ðây là một đoạn ông trả lời phỏng vấn:
Hỏi: Trong lời đáp từ sau khi nhận giải Nobel, ông đã cảm ơn
nước Anh ngôi nhà của tôi và Ấn Ðộ đất nước của tổ tiên ông. Vì sao ông
không nhắc tới Trinidad, nơi ông sinh ra và sống đến 18 tuổi, và cũng
là nơi tạo hậu cảnh như những tiểu thuyết đầu tiên của ông?
Trả lời: Vì sao tôi lại phải làm điều đó? Những cuốn sách đó
là do tôi viết, chứ không phải Trinidad... Triniad chỉ là nơi cung cấp
tư liệu cho tôi. Nếu không có nước Anh tôi cũng không thể hiểu được
những gì mà tôi đã trải nghiệm tại Trinidad. Ở đó người ta không được
học gì về nguồn gốc lịch sử của hòn đảo này.
Ở nhiều nước cũng vậy mà ở ta cũng vậy, lòng yêu nước thường có hai
nghĩa chính: một là lòng yêu những gì thuộc về làng xóm quê hương với
nghĩa một không gian hẹp. Và hai là lòng căm thù những thế lực ngoại
bang đến xâm lược đất nước. (Bởi hiểu như thế nên giờ đây người ta
thường chỉ tìm thấy lòng yêu nước rõ rệt trong văn học Việt Nam từ 1932
về trước. Còn đối với văn học tiền chiến, mặc dầu coi đây là một giai
đoạn chín đẹp bậc nhất của văn học dân tộc, song khía cạnh này ít được
nói tới). Câu chuyện của Naipaul cho thấy những gì đã xảy ra trong tâm
lý con người hiện đại. Tính công dân thế giới mang lại cho họ một cách
suy nghĩ mới. Và bởi lẽ Naipaul được tặng giải Nobel nên có thể nghĩ
đây là cách nghĩ được thế giới đương đại chấp nhận. Về phần Nguyễn
Tuân, thời ấy mà ông đã có được cái cách nghĩ tương tự. Khả năng tự ý
thức chính xác về mình, về cộng đồng mình, kèm theo đó là óc phê phán,
là một cái gì đến nay chúng ta vẫn phải bảo nhau bồi đắp.
Hai cách đóng góp của hai mảng văn học lớn
Với tư cách là là một sự kiện đóng vai trò chi phối lịch sử Việt
Nam, công cuộc hiện đại hoá nửa đầu thế kỷ XX được phản ánh thànhhai
mảng sáng tối khác nhau. Mảng thứ nhất là dòng của Ngô Tất Tố, Nguyễn
Công Hoan, Vũ Trọng Phụng… Theo họ, hiện đại hoá làm hỏng xã hội làm
hỏng con người. Nó cần bị kết án. Ðây là một thứ vô thức tập thể cùng
lúc chi phối nhiều nhà văn lúc ấy. Trong khi đó, Tự Lực văn đoàn và
phong trào Thơ mới toát lên một cách nhìn nhận có xu hướng khác. “Dịch”
ra ngôn ngữ thông thường tức là hiện đại hoá là tốt là khiến cho xã hội
và con người tốt hơn, cần được ca ngợi. Từ Xuân Diệu tới Hàn Mặc Tử, và
ngay cả ở Nguyễn Bính nữa, người ta đều bắt gặp nỗi ham hố của con
người muốn nhập vào những biến chuyển đang xảy ra trên thế giới rộng
lớn và sẵn sàng sống khác với những gì hôm qua mình đã sống. Gọi họ là
lãng mạn cũng được nhưng chớ nên quên đó là một thứ lãng mạn tích cực,
và có ý nghĩa hiện thực, hiện thực trong việc nắm bắt cái tinh thần cơ
bản của cuộc sống chứ không phải những chi tiết bé nhỏ lặt vặt. Cách
nhìn của Nguyễn Tuân là một bộ phận tiếp tục của cái mảng thứ hai này.
Trong Vang bóng một thời, lần đầu tiên quá khứ của xã hội Việt
Nam được xem xét và ghi chép từ một cái nhìn hiện đại. Quá khứ có đẹp
nhưng là một vẻ đẹp tàn tạ, một vẻ đẹp một đi không trở lại . Còn trong
Thiếu quê hương và các tuỳ bút, trước mắt chúng ta là một cuộc
sống đang phát triển với tất cả cái năng động có thể có của một cuộc
vận động hợp quy luật. Tác phẩm có sự vượt lên lối mòn bảo thủ để khai
thông về mặt tư tưởng.
Cố nhiên, đọc xong Thiếu quê hương cảm giác còn lại trong
nhiều người có thể là những ngổn ngang dang dở. Dang dở trong xã hội:
dù có sự vận động tiến lên, bóng tối của quá khứ còn dầy đặc. Dang dở
trong kiếp người, các nhân vật chính vừa là cũ vừa mới, mọi thứ ở họ
chồng chéo lên nhau, chẳng cái gì thắng mà cũng chẳng cái gì thua. Ðoạn
cuối Thiếu quê hương gợi ra cảm giác của một sự bế tắc, hình
như viết đến đấy tác giả không biết cho câu chuyện kết thúc ra làm sao,
đành gượng gạo cài vào một tình thế bất ngờ rồi viết quấy quá vài câu
cho xong. Nhưng đây không phải chỉ là vấn đề của nghệ thuật. Sự bế tắc
ở đây có nguyên nhân sâu xa là ở tình thế của xã hội. Xã hội không cung
cấp giải pháp cho câu chuyện. Nhưng khách quan mà xét điều này một lần
nữa lại xác minh cái nhận xét của chúng tôi rằng đằng sau câu chuyện xê
dịch, Thiếu quê hương đã phác họa khá chính xác chân dung con
người thời đại. Nguyễn Tuân rất hiểu xứ sở của mình, và tác phẩm của
ông là một bằng chứng mà người ta còn có thể khai thác khi muốn tìm
hiểu xã hội trước 1945, từ đó mà tìm hiểu cái quá trình lớn diễn ra
trên đất nước này trong cả thế kỷ XX. Tôi muốn nói rằng nay là lúc bạn
đọc chúng ta nên đọc lại Nguyễn Tuân tiền chiến; trong thời điểm của
không khí giải phóng được mở ra từ thời mở cửa, chúng ta sẽ thoát khỏi
những định kiến mấy chục năm nay về tác giả để tìm thấy sự gần gũi dễ
dàng với các nhân vật và nhận ra sâu xa đâu là đóng góp của nhà văn
trong việc ghi chép lịch sử.