''Nhà tù chung thân'' ở những Trung tâm cai nghiện
Theo Dan Chim Viet - Chính Vĩ - 10-01-2006
Lưu Vũ: Bức xúc trước thảm kịch hiện
nay trong các trại cai nghiện và sự bưng bít của chính quyền, nhà báo
Chính Vĩ gửi tới bạn đọc Đàn Chim Việt bài phóng sự viết từ Sài Gòn.
Gần vài tháng sau vụ tuyệt thực (diễn ra ngày 27, 28 tháng 10 năm 2005)
của hơn 500 trại viên tại Trung tâm Chữa bệnh Đức Hạnh, xã Đức Hạnh,
Phước Long, Bình Phước. Một đoàn Thanh tra của Sở Lao động và Thương
binh Xã hội (LĐTB & XH) và các ban ngành có liên quan của thành phố
được lập ra để xem xét lại sự việc (trong 2 ngày 22, 23 tháng 11); và
kết quả là: một tỷ lệ rất nhỏ khoảng 1,5% trại viên sẽ thoát được cảnh
tù chung thân để về nhà vào dịp Tết nguyên đán năm nay… Cái giây phút
hồi gia hiếm hoi ấy sẽ diễn ra lúc 8h ngày 12 tháng 1 năm 2006 tại
Trung tâm Bình Triệu.
Đau bụng bị nhốt tù chung thân…
Một cảnh lao động tại trại 4, Phú Giáo, Bình Dương
|
"Vừa phát hiện ra con mình đi theo một nhóm thanh
niên hư hỏng, tôi sợ có chuyện chẳng lành, nên xin nghỉ làm công sở một
tuần, bắt thằng nhóc ở nhà cùng mình 4 ngày, để quét dọn và sơn lại nội
thất nhà. Đến ngày thứ hai, vào buổi chiều, tôi thấy nó ngáp hoài, cứ
xin ra ngoài có chút việc, tôi không cho; đến ngày thứ ba thì mặt mày
tái nhợt. Tôi tra hỏi, nó không trả lời và chối loanh quanh, đành dẫn
đi xét nghiệm, kết quả heroin dương tính, HIV âm tính. Vậy là phải cho
nghỉ học lớp 10, đăng ký đi trường cai nghiện, định dứt cơn thì về đi
học bổ túc, nó học khá lắm. Vậy mà, từ đầu năm 2002 đến nay chưa được
về nhà và sẽ không bao giờ về được nữa". Anh Lê Sơn, nhà ở phường 6 quận Tân Bình nói trong nước mắt.
Số là con anh chỉ mới nghiện lần đầu, thuộc diện "tò te lính mới", nên
vào trường chỉ hai tuần là đã dứt cơn, 2 tháng là không còn vương vấn
gì chuyện ấy. Anh cũng nghĩ vậy nên mới đăng ký, đóng tiền cho con đi,
ai ngờ nhà nước có chính sách kiểu "chung thân" cho tất cả các trại
viên cai nghiện. Thấy đường về nhà (theo ngôn ngữ của các trường cai
nghiện là: hồi gia) quá mờ tối, và hết hi vọng, nên khi ở trong trại,
con của anh Sơn bắt đầu sa vào những trò đồng tính nên nhiễm HIV, và
trong một lần gần đây, tháng 2 năm 2005, khi về phép 3 ngày thăm gia
đình sau gần 3 năm biền biệt, con anh đã trốn địa bàn và tìm lại với
nàng heroin, sốc thuốc ngay lần tìm lại ấy, và chết dưới một gầm cầu,
cách thành phố gần 150km.
Chuyện trâu lành (không HIV) thành trâu què (nhiễm HIV) diễn ra trong
trại như cơm bữa. Khi đến phục kích bên ngoài trung tâm Đức Hạnh, tôi
nghe người dân ở đây kể rằng, có những vụ trốn trại tập thể ra ngoài,
chỉ để làm tình một đêm rồi trở vô. Trong trại thì chỉ có nam với nam,
nữ với nữ, ra được trại thì tha hồ. Cách đây gần 2 năm, bên Phú Giáo,
Bình Dương, trung tâm thuộc “Lực lượng Thanh niên Xung phong”, trại
viên trốn trại ra ngoài còn nhảy cả xuống sông, bị nước cuốn chết hàng
loạt. Theo dự đoán, anh Đ. V. C., nguyên là phó phòng, thì chẳng bao
lâu nữa (khoảng 2-3 năm thôi) trại viên sẽ chết như sung rụng, vì HIV
sẽ chuyển sai giai đoạn AIDS, mới đây, có những trại viên ngày hôm
trước còn hồng hào tươi tỉnh, ngày hôm sau sốt cao và hốc hác, chết
trong 48 tiếng sau đó. Bây giờ toàn thành phố, mỗi năm chết khoảng 1000
trại viên (1/30), trong những năm tới, con số này còn tăng nhanh, có
khi theo cấp luỹ thừa.
Anh L. C. T., một chuyên viên của trung tâm Phú Văn nói với tôi tại Chi
cục Phòng chống Tệ nạn xã hội, số 153 Xô Viết Nghệ Tĩnh, phường 17,
quận Bình Thạnh, khi anh đưa trại viên về thăm nhà trong tháng 11 này: "Gần
1000 trại viên (cả nam lẫn nữ) của Trung tâm Chữa bệnh Đức Hạnh tuyệt
thực vì phản đối sự chung thân ấy. Họ lý luận rằng, kiểu như một người
bị bệnh đau bụng ỉa chảy đến nỗi phải đưa vào bệnh viện, hết bệnh và
bình phục sau một tuần, nhưng bệnh viện cưỡng chế không cho về vì nghĩ
rằng sau trước gì cũng bị đau bụng ỉa chảy nữa, thôi thì nằm vĩnh viễn
trong bệnh viện đi, nếu có đau thì bệnh viện cứu chữa nữa. Dù nghiện ma
tuý và đau bụng là khác nhau, nhưng chẳng lẽ cứ nghiện ma tuý là bị
nhốt chung thân trong trại đến chết, và nhiễm tùm lum thứ bệnh, cũng
như tật. Trong khi những kẻ buôn bán thì vẫn nhởn nhơ ngoài xã hội, có
những kẻ buôn bán số lượng nhỏ (ma tuý chuyền tay, hai ba trăm gram
phân ra tép) thì chỉ bị ở tù có 5-10 năm, ít hơn cả người mới nghiện có
vài tép (vài chục gram), mà đã bị nhốt chung thân vào trại".
Câu chuyện của những người Đức Hạnh…
Khi tôi nhiều lần điện thoại đến văn phòng để xin gặp ông Nguyễn Văn
Minh, phó giám đốc Sở Lao động Thương binh và Xã hội thành phố Hồ Chí
Minh, nhằm xác minh thông tin cũng như hỏi ý kiến của ông về chuyện
tuyệt thực gây xôn xao dư luận, nhưng báo chí thì không được phép đưa
tin này. Một nhân viên muốn giấu tên, làm việc dưới quyền, tiết lộ cho
tôi biết về chuyện tuyệt thực của hơn 500 trại viên (con số gần đúng
nhất) của Đức Hạnh trong 2 ngày 27, 28 tháng 10 năm 2005 là hoàn toàn
có thực, và sở đang ráo riết tìm phương sách để đối phó. Nhân viên này
cũng cho biết quan điểm của mình: "Vấn
đề là chúng ta phải làm trong sạch địa bàn cơ sở, chứ cứ để bọn buôn
bán trá hình trà trộn, thì làm sao triệt để được. Nói rằng không biết
bọn buôn bán ở đâu là vô lý, bởi thành phố gần 10 triệu người chỉ có 30
ngàn con nghiện, vậy mà 30 ngàn con nghiện ấy lại tìm ra chỗ bán để
mua, trong khi ấy phần đông còn lại (có cả công an, chuyên viên ma tuý
và dân phòng khu vực) thì lại không biết, làm sao tin được. Tôi cho
rằng có nhiều người vì cái lợi, cái sợ trước mắt mà làm lơ thôi".
Còn lãnh đạo trung tâm cai nghiện Đức Hạnh, một nơi mà theo nhiều trại
viên và gia đình trại viên là có lối làm việc tương đối dễ chịu hơn so
với những nơi khác, thì im lặng trước sự kiện này. Ngày 22 và 23 tháng
11 vừa qua, đại diện của các ban ngành liên quan, cùng Sở Lao động
Thương binh và Xã hội đã lập một đoàn Thanh tra đặc biệt (không có báo
chí và giám sát đi theo) đến làm việc tại Đức Hạnh, và kết quả bí mật
của hai ngày làm việc này thì khó có ai biết được. Với lối làm việc như
một trại tù đặc biệt, ngay nhân viên ra vào cũng khó khăn, chỉ một lần
trong ngày, với đầy đủ lý do. Đại diện của Sở (cơ quan chủ quản) hay
báo chí đến, nếu không có lệnh, thì có khi cũng phải đợi cả ngày mới
được trả lời, ngay cả đó là lời từ chối tiếp xúc.
Một nữ trại viên trại 4 đang làm việc
|
Ông Dương Hữu Đức, nhà ở quận 4 trên chuyến xe đi thăm
trại viên lúc 5 giờ sáng do cơ quan chủ quản tổ chức, có mua vé giá
cao, mà tôi cũng ẩn mình vào danh nghĩa đại diện gia đình đi thăm một
đứa em cô cậu, nói rằng: "Mỗi tháng ngoài tiền trường, tôi còn phải
cho nó thêm khoảng 300 ngàn tiêu xài, gần 5 năm nay, tháng nào tôi cũng
đi, đến thuộc từng cây cột điện. Nó đã dứt cơn từ rất lâu rồi cậu nghe,
lại là một trong số ít những trại viên đã có quá trình chữa bệnh quá 48
tháng, hạnh kiểm tốt, không chơi đồng tính, và một lần về thăm nhà gần
đây, tôi có dẫn nó đi xét nghiệm, không bị nhiễm HIV từ trại, đáng lẽ
phải được về nhà theo luật, vậy mà vẫn không biết ngày nào về. Tôi chỉ
sợ, vài năm nữa tôi chết, không biết ai đi thăm nó, nó buồn rồi sinh
tật. Nhà tôi chỉ có con một, mẹ nó chết vì nhồi máu cơ tim do buồn rầu
cách đây hai năm… Có lần nó nói với tôi rằng, biết vậy bố cứ xích con
vào cầu thang, ngày nào cũng đánh đập, dội nước và cho uống dược thảo
như bố đã có ý định làm… con còn thấy sướng và có hi vọng hơn. Nếu con
được hồi gia đợt này, con xin thề sẽ ăn chay suốt đời để trả ơn bố mẹ,
và cảm ơn thánh thần đã lôi con ra khỏi chốn địa ngục trần gian mà mọi
người làm ngơ này".
Những người có tâm sự như ông Đức, con trao ông Đức thật không ít.
Nhưng những người biết được thông tin về chuyện chung thân khi đi cai
nghiện thì càng nhiều hơn, bởi vậy, những con nghiện gnoài xã hội sẽ
tinh vi hơn, những gia đình có con nghiện vì thương con nên giấu biệt,
bởi đằng nào cũng chết, ở nhà chết sướng hơn. Với lại, theo khảo soát
xã hội học của một nhóm nghiên cứu tự do trường Đại Học Khoa học xã hội
và Nhân văn Tp. HCM trong 5 năm qua thì hơn 50% không có HIV khi vào
trại, nhưng gần 90% có HIV khi rời trại, theo một xét nghiệm không đầy
đủ với những trại viên về thăm nhà, một con số khủng khiếp.
Con đường hồi gia vô vọng…
"Cách mạng tuyệt thực" diễn ra tại trung tâm Đức Hạnh,
nhìn dưới góc độ dân chủ, nhân quyền và nhân đạo, thì là một tín hiệu
đáng mừng. Bởi nó nói lên được tiếng nói công dân của những con người
chưa mất quyền công dân; nó chống lại sự bất nhân của lối quản lý thô
bạo ở các trại; chống lại những âm mưu bất chính như việc lợi dụng sức
lao động của trại viên để thi công những công trình công cộng nhằm trục
lợi; chống lại việc duy trì những trung tâm với bộ máy cồng kềnh, tốn
kém, nhằm tham ô, móc ngoặc tiền của nhân dân.
Nhưng cuộc cách mạng tự phát này đã được trả lời và bị đối xử như thế
nào? Việc đối xử, trừng trị thì không cách nào biết được, vì đây là
chuyện bí mật tầm cỡ quốc gia, thậm chí quốc tế. Còn chuyện trả lời, Sở
Lao động Thương binh và Xã hội Tp. HCM đã nhanh chóng công bố một bảng
kế hoạch hồi gia áp dụng cho riêng các trung tâm và nhân viên của họ,
với một số tiêu chuẩn sau:
1. Đi cai nghiện lần đầu.
2. Thời gian nghiện dưới 2 năm.
3. Phải được đi phép thưởng (ý nói về thăm nhà).
4. Có địa chỉ, hộ khẩu rõ ràng.
5. Phải được xoá mù chữ.
6. Phải học được nghề.
7. Được địa bàn công nhận, và có cơ sở tiếp nhận để làm việc.
Ngoài ra còn có một số điều kiện không bắt buộc nhưng ưu tiên như:
1. Đi cai nghiện tốt trên 48 tháng.
2. Được địa bàn tiếp nhận.
3. Có cơ sở hay cơ quan bảo lãnh.
Với chừng ấy tiêu chuẩn, thì trong 30 ngàn trại viên mà thành phố đương
quản chung thân, may mắn lắm thì có được 300 người hồi gia. Riêng trung
tâm Đức Hạnh, có hơn 2000 trại viên, trong đó có 400 nữ, độ tuổi trung
bình của trại viên từ 25 đến 35, trong đợt hồi gia lần đầu, chỉ có 11
hồ sơ được chấp nhận. Tại sao có con số khiêm tốn này? Có thể trả lời
bằng 2 lý do: Thứ nhất, trong 7 điều kiện cơ bản và bắt buộc, thì điều
kiện thứ 3 và thứ 7 là khó đáp ứng nhất, không muốn nói là gần như vô
vọng, bởi với đa số trại viên, ai không phạm một lần trốn trại ra
ngoài. Gần 90% sinh viên tại Việt Nam ra trường còn bị làm trái nghề
(thất nghiệp trá hình), vậy mà bảo một người bị nghiện phải có cơ sở
tiếp nhận làm việc, thì quả là ảo tưởng. Không nói chuyện gia đình có
cơ sở, hoặc mua chuộc, thuê mướn được các cơ sở bảo lãnh, mua chuộc
được các nhân viên y tế của trại để làm chứng nhận khống, thì với con
mắt ghê tởm và miệt thị của mọi người ở địa bàn cơ sở, người về từ trại
cai nghiện sẽ bị ghẻ lạnh. Có nhiều trại viên được về thăm nhà 4 ngày,
nhưng mới 2 ngày đã trở lên, vì sự xa lánh ấy, sự xa lánh ngay cả của
gia đình mình. Thứ hai, do trình độ quản lí xã hội còn quá non yếu,
quan liêu, lạc hậu và nhiều công chức bị sa ngã trước cám dỗ, nên những
tiêu chuẩn trên được lập ra là nhằm để xoa dịu trại viên lúc tức thời,
và qua đó tìm cách cầm tù trại viên càng lâu càng tốt. Việc cầm tù này,
vừa có lợi cho bộ mặt văn minh, trật tự giả tạo của xã hội; vừa đem lại
lợi nhuận khá lớn cho chính các trung tâm và các cơ quan có liên đới.
Nếu các cơ quan, các trung tâm này đóng cửa, thì rất nhiều nhân viên
trong ấy, những người cũng làm trái nghề thôi, sẽ bị thất nghiệp thất
nghiệp chính thức, chứ không còn trá hình như hiện nay nữa.
Rõ ràng, ma tuý đang là vấn nạn của toàn cầu; và đang là công cụ phi
nhân tính của các nước giàu, của những kẻ có quyền lực đang tìm cách áp
đặt xuống các nước nghèo, xuống loài người. Nhưng cách ứng xử và đối
phó với nó, thì mỗi nơi mỗi khác. Tốt xấu, đúng sai đều có… nhưng việc
nhốt vĩnh viễn trại viên [những nạn nhân] thì không thể chấp nhận được.
Từ tiếng kêu yếu ớt của những con người, những nạn nhân ở Đức Hạnh,
chúng ta cùng kêu gọi những con người đức hạnh ở khắp mọi nơi trên hành
tinh hãy nhìn lại hành vi và cuộc sống đang bếp bênh ở xung quanh chúng
ta, chỉ có vậy thì chúng ta mới có hi vọng chống lại được các thế lực
độc quyền, hắc ám và phản động đang tồn tại ở khắp mọi nơi. Và Việt
Nam, trước ngưỡng cửa toàn cầu hoá, trước hiệp thương thương mãi quốc
tế (WTO), cũng phải giải quyết dứt điểm được những vấn đề như thế này,
nếu không, Việt Nam sẽ mãi còn là nạn nhân, mãi còn là kẻ tội đồ của
dân chúng.
Sài gòn những ngày cuối năm 2005
Copyright © 2006 by DCVOnline
In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè: