Phạm Đỉnh: Tập san Thế Kỷ 21 Xuân Bính Tuất 2006 có bài viết của Gs Tôn Thất Thiện mang tựa đề: “Vài suy tư về ý niệmTrời
trước thềm một năm mới”. Một phần của bài viết có nhắc lại một số đánh
giá của một vài nhà hoạt động và nghiên cứu về cá tính dân tộc. Trước
thềm năm mới, chúng tôi cũng trân trọng mời bạn đọc cùng thưởng lãm
những suy ngẫm của các tác giả liên quan, trong bài viết này.
Muốn
hiện đại hoá để phát triển để tiến, người Việt phải làm một cuộc cách
mạng văn hoá rộng và sâu, nghĩa là cương quyết và dứt khoát rũ bỏ một
số nết tật nay rõ ràng là những chướng ngại cản trở sự hiện đại hoá xã
hội Việt Nam. Những nết tật đó khá nhiều. Vì tự ái cá nhân và tự hào
dân tộc người Việt ít muốn nói đến khía cạnh không đẹp đó. Vả lại ít ai
ý thức được rằng chính mình có những nết tật đó. Cho nên Nguyễn Gia
Kiểng và ông Thái Việt đã làm một việc rất có ích là: thẳng thắn và
khách quan cứu xét khía cạnh đó.
Chủ đích bài này không phải là bàn về tác phẩm của hai tác giả nói trên (tôi đã làm việc này ở một trong Tuyển Tập Nhớ Huế)
nhưng tưởng cũng nên biết rõ ràng người Việt có những nết tật xấu gì
cần rũ bỏ nếu chúng ta muốn hiện đại hoá để thoát khỏi tình trạng lụn
bại hiện nay. Những nết tật đó đã được ông Nguyễn Gia Kiểng và ông Thái
Việt thâu góp như trong hai bản liệt kê dưới đây:
Tật xấu của người Việt
(Theo Tổ Quốc Ăn Năn của Nguyễn Gia Kiểng)
1. lòng yêu nước mờ nhạt, không quan tâm lắm về đất nước của mình, thiếu tự hào dân tộc, trọng ngoại khinh nội;
2. có tâm lý tôn thờ bạo lực, phân đẳng cấp, trên nói dưới nghe, tâm lý
nô lệ, bạc nhược, chấp nhận lệ “được làm vua, thua làm giặc”;
3. Không biết rõ lịch sử của mình, còn bị tiêm nhiễm những nhận định rất sai lầm;
4. thích làm quan và công chức, thù ghét làm giàu (thích an bần), trọng văn khinh nghề (trọng sĩ khinh thương);
5. thiếu óc phát minh và sáng tạo, chỉ là học trò giỏi, thiếu sự dài hơi;
6. trọng bằng cấp và ham bằng cấp, nhưng không chú trọng kiến thức;
7. không có khả năng làm việc chung, không muốn ngồi chung với nhau, chỉ muốn ngồi trên đầu nhau, không chấp nhận ai hơn mình;
8. thiếu gắn bó, không tìm kiếm đồng thuận, chỉ đòi thực hiện cho được
ý kiến của mình, chỉ muốn giải quyết những vấn đề cá nhân bằng giải
pháp cá nhân;
9. không quí mến nhau, xuyên tạc nhau, độc ác với nhau, bản năng thù
ghét nhau rất mạnh; trong tiềm thức không ưa nhau, có sẵn một bản năng
tiêu diệt lẫn nhau, buộc tội lên án nhau, thiếu hảo tâm, thiếu đùm bọc
nhau;
10. thiếu phương pháp, ý niệm đi rất sau thực tiễn, hành động đi trước
ý thức, cứ làm mà không cần suy nghĩ về tinh thần và cái trở thành của
việc đang làm; thụ động, không biết nghĩ và không dám nghĩ, không có óc
nhìn xa, thiếu tầm nhìn để thấy cái vĩ đại quanh mình, thiếu tư tưởng,
không biết truyền thông, phát ngôn vung vít, bừa bãi;
11. (dưới chế độ CS) trở thành vị kỉ, lưu manh, thô lỗ.
Các tính xấu của người Việt
(Theo Gánh Nặng Di Sản Của Thái Việt)
1. thích hư danh
2. an phận, ỷ lại
3. chịu đựng
4. không biết hợp quần
5. không có cá nhân
6. thể diện
7. bới lông tìm vết
8. không biết pháp luật
9. bệnh giả dối
10. chửi
11. nói xéo
12. nói ngoa
13. không ngoan thế gian
14. bảo thủ
Theo hai ông Nguyễn Gia Kiểng và Thái Việt những nết tật trên đây thuộc
di sản văn hoá “cổ truyền” của người Việt. Mà cốt lõi của văn hoá này
là quan niệm “Thiên Mệnh-Thiên Định” : mọi việc do trời định. Như vậy
chúng ta khỏi phải làm gì cả, chỉ ngồi chờ? Đây là một thái độ cực kỳ
nguy hiểm, vì hiện nay dân Việt Nam đang sống dưới chế độ cộng sản. Chế
độ này là một chế độ chuyên chế tuyệt đối. Về căn bản, nó chỉ khác Nho
Giáo ở một điểm: thay vì “Tôn Quân”, nó áp dụng nguyên tắc “Tôn Đảng”.
Đảng là vua. Theo quan niệm “Thiên Mệnh-Thiên Định”, nó do Trời chọn,
chỉ có Trời là cất nó được.
Tâm lý trên đây là giải thích tại sao trong quá khứ dân Việt Nam đã
phải sống dưới những chế độ độc tài- quân chủ chuyên chế, rồi bảo hộ
Pháp, rồi cộng sản – và chìm đắm trong tình trạng lạc hậu và nghèo nàn.
Và tình trạng này vẫn kéo dài từ 30 năm nay, dù rằng Việt Nam đã lấy
lại được độc lập và đã thống nhất. Đó là trời muốn chăng? Nghĩ như vậy
là quan niệm sai lầm về “Thiên Mệnh-Thiên Định”.
Thực chất của “Thiên Định- Thiên Mệnh” là Trời lựa môt người nào đó và
trao cho người đó trách nhiệm lo cho dân được bình yên, no ấm. Đó là
một sứ mạng nặng nề. Giữa Trời và người đó có một hợp đồng tinh thần,
Trời ban cho người đó chức vị, quyền hành, tiện nghi vô hạn để làm tròn
một sứ mạng lớn, không phải là một đặc ân để thụ hưởng. Nhưng điều này
thường bị các kẻ cầm quyềnquên đi. Sau môt thời gian ngắn sự lạm quyền
xảy ra vì, như một nhà triết gia Tây Phương nói: quyền hành tuyệt đối
dẫn đến hủ hoá tuyệt đối.
Hợp đồng không được tôn trọng thì tất nhiên Trời phải thâu hồi “Thiên
Mệnh” – địa vị, quyền hành đã giao cho đương sự. Trong tín ngưỡng Việt
nam, Sự thâu hồi Thiên Mệnh thể hiện dưới nhiều hình thức. Truớc hết,
Trời thông báo sự bất mãn của mình qua những “điềm” như thiên tai, bão
lụt, hạn hán, ác mộng. Nhưng rốt cục Trời dành cho dân nhiệm vụ chấm
dứt bạo quyền. Bằng cách nào? Một cách êm thấm, qua lá phiếu, hay qua
một cuộc bạo động? Điều này tuỳ phản ứng của kẻ cầm quyền trước thời
cuộc. Dù sao, trong việc này, trái với tháo độ “chờ sung rụng” của
nhiều người, Trời chỉ giúp những người tự giúp mình!
Những tư duy lông bông trên đây dẫn đến một kết luận là: nếu người Việt
không cương quyết và mạnh dạn làm một cuộc cách mạng lớn về văn hóa –
chấp nhận một số giá trị mới và gạt bỏ một số giá trị cũ, những tật xấu
cản trở sự phát triển của Việt Nam trong điều kiện hiện đại của nhân
loại, và nhất là quan niệm sai lầm về “Thiên Mệnh”, thì không hy vọng
có thể thoát khỏi tình trạng tụt hậu nhục nhã và bắt kịp những nước
trong vùng, chớ khỏi cần nói đến các nước tiền tiến Tây phương.
Tôn Thất Thiện
(trích: “Vài suy tư về ý niệm "Trời" trước thềm một năm mới”.
Thế Kỳ 21 số 201 & 202, tr.13-14.)