Những Chiến Sĩ Dân Chủ Thời Đại – Phần I

Theo Câu Lạc Bộ Dân Chủ Việt Nam - Hoàng Bách Việt (Đảng DCND) - 25-01-2006

Thế giới tin học đã mở ra một kỉ nguyên mới cho nhân loại. Phương tiện tin học, Internet có ý nghĩa quyết định để đưa đến một nền dân chủ thật sự trên toàn cầu. Trong cuộc chính biến ở Liên Sô (cũ) năm 1991, trong khi các đường dây điện thoại bị cắt, báo chí bị cấm không được đưa tin tức, nhờ một nhà cung cấp Internet nhỏ là Relcom có mối nối kết với Phần Lan đã cung cấp các thông tin và nhờ đó mà thông tin đến được với phần còn lại của Thế giới. Nhân dân các nước trong cộng đồng các quốc gia độc lập đã nối tiếp nhau được đón nhận một nền dân chủ thật sự.
Ngày nay, những tin tức bí mật và những điện tin mã hóa được gửi qua đường bưu điện, những mật thư dấu kín ở các hộp thư chết v.v... hầu như đã dần dần biến mất. Các phương thức lạc hậu này đã nhường chỗ cho các điện thư, mật thư đang chuyển vận vùn vụt qua thiết bị viễn thông, qua phương tiện Internet bất kể ở đâu, đến bất cứ nơi nào.

Điều kiện thay đổi thì phương thức thay đổi và kĩ thuật cũng phải thay đổi. Trước đây, người chiến sĩ dân chủ đã phải vật lộn với bút mực, dùng hóa chất để mã hoá các điện thư, phải tìm cách dấu diếm trong các hộp thư chết. Ngày nay, mỗi chiến sĩ dân chủ đều phải biết sử dụng thành thạo máy vi tính, phải có ít nhất dăm ba cái nickname để lên lưới nhận và gửi tin. Phải nắm được một số kĩ năng đảm bảo an toàn thông tin trên mạng, hầu bảo vệ mình và những người có liên quan.

Trong điều kiện công nghệ phát triển, việc học hỏi, thu nhận các kiến thức để vượt qua những thử thách mới và tự trang bị vũ khí đấu tranh, nâng cao năng lực là một đòi hỏi tất yếu đối với các chiến sĩ dân chủ thời đại.

Sẽ thật đáng lo ngại khi mà hầu hết các chiến sĩ dân chủ đều sử dụng máy vi tính, Internet là phương tiện đấu tranh chính, nhưng một số nào đó lại không hề biết đến những thao tác rất cơ bản để tẩy xóa dấu vết, tránh sự theo dõi của các phương tiện quản lí mạng, đối phó với các loại Virus, Spy, Hacker, Cracker ... Công nghệ tin học phát triển cũng đồng nghĩa với những loại Virus, Worm và Trojan Horse gia tăng càng ngày càng lớn hơn về số lượng và tính chất càng nguy hiểm hơn. Các phần mềm gián điệp (Spyware) ra đời và đang trở thành những nỗi lo chính của những người phải bảo mật các thông tin. Rồi cả các tay Cracker (bẻ mã khoá) chuyên phá phách, lật tẩy những bí mật của người khác. Đấy là chưa nói đến việc kiểm soát tại các cổng Proxy, kiểm soát trên đường truyền dữ liệu ... rất rất nhiều mối đe dọa và các biện pháp (vi phạm quyền tự do, dân chủ) của chính quyền có thể gây ra những nguy hiểm về bảo mật nhưng người sử dụng lại không hề biết gì. Có nghĩa là nếu bạn phải sử dụng máy tính và phương tiện Internet cho công việc đấu tranh dân chủ, bạn sẽ cần phải biết một số những thao tác bảo mật cơ bản và đáp ứng những yêu cầu an toàn thiết yếu.

Khi sử dụng máy vi tính để soạn thảo những tin tức và văn bản nào đó, bạn phải luôn đảm bảo máy tính của mình được “sạch sẽ”. Trước hết, khi bạn cài đặt các phần mềm cho máy tính, cần thiết phải có những phần mềm diệt Virus và Anti-Spyware (điều này sẽ nói ở dưới đây). Để luôn đảm bảo máy tính tránh được những vị khách “không mời mà đến” đó, bạn phải thường xuyên dùng những chương trình này kiểm tra máy tính khi có các trao đổi thông tin bằng các ổ đĩa mềm, ổ USB (Flash Drive), và khi xem các tin tức trên Internet. Đây mới chỉ là việc làm sạch “rác môi trường”, là những loại rác từ bên ngoài xâm nhập vào máy tính của bạn.

Muốn đảm bảo hoàn toàn “sạch sẽ”, bạn còn phải dọn sạch tất cả những rác rưởi khác mà tự bạn tạo ra trong quá trình làm việc trên máy. Việc xóa hết các dấu vết này đòi hỏi bạn phải bỏ ra chút ít thời gian, cần phải cẩn thận tỉ mỉ. Nên lập tức quét dọn ngay sau khi bạn soạn một văn bản nào đó trên máy tính của bạn, hay lướt trên những trang web tại các địa điểm Dịch vụ Internet. Có một số những thao tác phải thực hiện sau đây:
- Khi sử dụng Internet bạn sẽ dễ nhận thấy rằng tất cả các thông tin nào mà bạn mở ra sẽ đều lưu lại ở thư mục C:\WINDOWS\Temporary Internet Files\. Tên tất cả các trang Web và các files nào bạn đã sử dụng đến lại được lưu lại một lần nữa ở thư mục C:\WINDOWS\History\. Cần phải xóa sạch hai địa chỉ này (cũng có thể vào trình đơn Toolbar của Internet Explorer và xóa trong hộp thoại Internet Options). Trong Internet Options, bạn có thể bấm chuột vào Clear History để xóa sạch địa chỉ những trang Web mà bạn đã sử dụng hiện ra trên cửa sổ Address.
- Khi tiến hành soạn thảo một văn bản nào đó trong chương trình Word thì những “dấu vết” của các văn bản được lưu lại trong thư mục C:\WINDOWS\Application Data\Microsoft\Office\Recent\. Cần phải xóa sạch.
- Các dữ liệu của văn bản vừa được soạn thảo cũng dễ được tìm thấy ở file C:\WINDOWS\Application Data\Microsoft\Templates\Normal.dot, và các file dạng ~WRA trong C:\WINDOWS\Application Data\Microsoft\Word\ do vậy cũng cần phải xóa các file này.
- Nhưng dù đã xoá hết cả những file đó, khi bạn bấm vào Start menu trên thanh Taskbar, vẫn dễ dàng nhận thấy tên tất cả các file mà bạn đã sử dụng (cả trong chương trình Word và các chương trình khác) đều được lưu lại ở mục My Recent Documents, để những tên files này biến mất bạn lại phải xoá sạch các dữ liệu còn lưu ở trong thư mục C:\WINDOWS\Recent\. (Để nhìn thấy thư mục này bạn phải kích hoạt hộp thoại Folder Options, sẽ nói ở dưới đây)
- Còn một nơi nữa cũng gây ra nhiều khó chịu, đấy là trên trình đơn File của chương trình soạn thảo văn bản Word. Nếu click chuột (mouse) vào trình đơn File trên thanh trình đơn (menu bar), bạn sẽ dễ dàng nhìn thấy tên những tập tin mà mình đã sử dụng (gần nhất) nằm chình ình trên đó. Mặc dù tập tin đó đã không còn tồn tại trong máy tính của bạn và bạn click chuột vào nó thì cũng không thể mở được tập tin, thế nhưng nó vẫn thông báo cho mọi người lục soát trong máy tính của bạn biết rằng bạn đã sử dụng một tập tin có cái tên như vậy. Vậy muốn xóa nó đi phải làm thế nào? Rất đơn giản! Bạn chỉ cần bấm tổ hợp phím Ctr+Alt+(dấu trừ), biểu tượng con trỏ chuột sẽ biến thành dấu trừ và bạn đưa dấu trừ đó vào tên tập tin ở trong trình đơn File, click chuột và tên tập tin sẽ biến mất.
- Một điều cần hết sức lưu ý là với các cách xóa thông thường thì cơ quan an ninh đều có thể phục hồi lại tất cả các thông tin mà người sử dụng tưởng rằng đã xóa bỏ hết. Cần nhớ rằng trong môi trường hệ điều hành Windows hầu hết các thông tin đều có thể phục hồi lại qua một số chức năng sẵn có của Windows và các phần mềm Un Delete chuyên dụng của cơ quan nghiệp vụ. Nếu bạn không có chuyên môn về tin học và không có các phần mềm hỗ trợ nào khác để xóa “tuyệt đối” các file đó, có một phương pháp đơn giản có thể giúp bạn. Bạn mở tập tin đó ra dùng con chuột bôi đen toàn bộ nội dung tập tin, ấn nút Delete. Sau đó bạn copy một nội dung vô thưởng vô phạt khác, tốt nhất là những tập tin phức tạp như một trang web chẳng hạn, paste vào tập tin vừa xóa (nên paste nhiều lần để chắc chắn đã lấp đầy tập tin cũ). Cuối cùng vào Windows Explorer để Delete toàn bộ tập tin. Như vậy những số liệu đã bị chồng lên và không thể phục hồi lại số liệu cũ.
- Nếu sử dụng một số chương trình khác như Excel, Power Point, Corel Draw hay các chương trình nghe nhìn khác, các việc làm của bạn đều bị lưu giữ lại ở các tập tin trong C:\WINDOWS\Temp\ hoặc các files có đuôi “.tmp”, “.cdt”, “.bak” nằm trong các thư mục Program, History, Temp của các chương trình đó (Corel, Real Player, Windows Media Player ...), cần phải tìm ra và xóa sạch (bạn vào công cụ Windows Explorer, bấm Ctrl +F để tìm tên file).
- Tất cả những thứ rác rưởi này không phải là chương trình của hệ điều hành, bạn cứ mạnh dạn xóa bỏ. Nên dùng tổ hợp phím Shift+Delete để xóa thì các files cần xóa sẽ không bị lưu lại trong thùng rác Recycle Bin.

Chỉ nói sơ qua như vậy cũng đã thấy rằng việc xóa hết các “dấu vết” ở trong máy tính là rất phức tạp và đòi hỏi phải hết sức tỉ mỉ, cẩn thận. Thế nhưng, như trên đây đã nói, tất cả các thông tin xóa trong môi trường Windows, cơ quan nghiệp vụ đều có thể dùng các biện pháp chuyên môn để phục hồi lại được các số liệu. Trong chương trình Windows có một thư mục được ẩn giấu là C:\_RESTORE\. Bạn chỉ có thể nhìn thấy thư mục này khi kích hoạt hộp thoại: Tools\Folder Options trên trình đơn Toolbar trong chương trình quản lý Windows Explorer, sau đó mở View và chọn Show hidden files and folder-ON. Đúng như tên gọi của nó, thư mục này là nơi lưu giữ lại những thông tin đã được sử dụng hoặc đã bị xóa, đặc biệt là để bảo vệ nó người viết chương trình đã không cho phép xóa bỏ nó trong môi trường Windows (có nghĩa là bạn sẽ không thể xóa được nó bằng các nút Delete, hoặc Shift+Delete, hoặc biểu tượng gạch chéo màu đỏ, hoặc biểu tượng cái kéo ở trên thanh công cụ). Đây là điều phiền phức nhưng rất quan trọng trong việc bảo mật, do vậy đòi hỏi bạn phải có một chút am hiểu về tin học, phải sử dụng môi trường DOS để xóa bỏ những files được lưu trong thư mục C:\_Restore\.
(Lưu ý: tất cả những thao tác trên đây sử dụng với hệ điều hành Windows Me trở về trước, riêng Windows XP và NT tất cả những tập tin đó được lưu giữ trong thư mục C:\Documents and settings\User (và All User)\Local Settings\, nhưng muốn nhìn thấy các tập tin đó trước hết bạn phải kích hoạt hộp thoại trong Tools/Folder Options ở chương trình quản lý Windows Explorer).

Trên lí thuyết, việc liên lạc Internet ở những địa chỉ cá nhân là sẽ đảm bảo an toàn hơn ở những nơi công cộng, song nếu bạn để sơ xẩy, các thông tin của bạn bị cơ quan an ninh chặn bắt và họ tìm ra IP của bạn thì coi như bạn đã nằm trong rọ. Vì vậy tốt nhất là không nên sử dụng mạng Internet tại nhà riêng của bạn hoặc những chỗ nào có thể lần tìm ra lai lịch của bạn. Điều này cũng sẽ đảm bảo cho máy tính của bạn được “sạch sẽ” hơn. Bạn sẽ phần nào tránh được nguy cơ lây nhiễm Virus và các Spyware hơn.

Ngoài việc phải cài đặt một số phần mềm chống Virus như Norton-AntiVirus, AVG AntiVirus, D32 ... cho máy tính, bạn còn phải rất lưu tâm đến việc ngăn chặn các “tên gián điệp”.
Hiện nay, các phần mềm gián điệp đã trở thành mối lo ngại chung của tất cả những người sử dụng vi tính, Internet để làm việc. Các Spyware càng ngày càng phát triển nhiều hơn, tinh xảo hơn. Các phần mềm gián điệp có thể hoạt động với nhiều mục đích khác nhau, đa số là để ghi nhớ và đánh cắp các thông tin trên máy tính của bạn. Có phần mềm do chính hệ điều hành Windows soạn ra để ghi lại những thói quen của người sử dụng (được lưu lại trong các files của thư mục Cookies, cũng cần thiết phải xóa bỏ trong C:\WINDOWS\Cookies\). Có những phần mềm tự động báo cáo những thông tin đến địa chỉ người sử dụng nó. Có những phần mềm lại được viết theo dạng có thể điều khiển được từ xa, họ sẽ dễ dàng lục tìm trong máy tính của bạn những điều cần thiết và chuyển ra ngoài, tẩy xóa hoặc làm biến đổi các thông tin. Có những phần mềm chuyên ghi lại các thao tác trên bàn phím, phần mềm này sẽ ghi nhớ được những nội dung bạn gõ phím, ăn cắp địa chỉ e-mail và password (như Key Logger là phần mềm được an ninh Việt Nam dùng khá phổ biến). Để đối phó với “tên gián điệp” này, bạn có thể đánh tên hộp thư và mật mã của mình trong chương trình Word, Notepad hay một cửa sổ Text nào đó, khi đánh những nội dung này bạn sẽ đánh kèm theo thật nhiều những kí tự lằng nhằng khác trước và sau đó, rồi dùng phím phải của con chuột để copy và paste những chữ cần sử dụng trong số đó vào các khung (box) địa chỉ (ID) và password của chương trình thư điện tử. Tuy nhiên, tốt nhất bạn nên tìm và loại bỏ những tên Key Logger này, bởi vì chúng có thể ghi lại toàn bộ những thao tác khác khi bạn đang làm việc trên máy tính.

Điều rất nguy hiểm là các phần mềm gián điệp khi đã lọt được vào trong máy tính của bạn thì sẽ hoạt động âm thầm mà bạn lại không hề biết. Hơn nữa, có một số phần mềm gián điệp lại có khả năng bám rễ chắc chắn vào các file HKEY, nếu bạn không có chuyên môn sẽ không thể tìm ra và cũng không thể xóa bỏ được. Để biết được trên máy tính có thể bị các Spy đột nhập hay không, có một cách đơn giản, sau khi khởi động máy tính bạn bấm vào tổ hợp phím Ctr+Alt+Delete để kiểm tra xem có những chương trình nào đang hoạt động trên máy tính mà bạn sử dụng. Một điều cần lưu ý nữa là: không có một chương trình truy tìm nào có thể phát hiện hữu hiệu tất cả các tên gián điệp đó. Vì vậy, bạn sẽ phải luôn đồng thời lưu giữ trong máy tính vài ba chương trình quét các phần mềm gián điệp. Cũng cần phải biết rằng, chương trình quét các phần mềm gián điệp cũng giống như rất nhiều chương trình khác chức năng, nếu bạn cài đặt nhiều chương trình cùng một ứng dụng trong một máy tính có thể chúng sẽ không tương thích, gây ra rất nhiều những trục trặc cho máy tính của bạn. Bạn có thể cài đặt chương trình Anti-Spy của Yahoo (nếu máy có nối mạng Internet), đây là chương trình miễn phí và thường xuyên được cập nhật (up date). Đồng thời vẫn phải sử dụng thêm ít nhất một chương trình hỗ trợ khác như Spybot - Search and Destroy (hoặc Spywarestormer, Spybotsd13). Đây là các chương trình tương thích trong cùng một máy tính, có thể giúp bạn tiêu diệt những tên gián điệp nguy hiểm.

Ngoài việc giữ cho máy tính của bạn được hoàn toàn “sạch sẽ”, ngăn chặn những sự xâm nhập từ ngoài vào, những chiến sĩ dân chủ thời đại cũng cần phải trang bị cho mình khả năng tự bảo vệ, giữ bí mật thông tin. Thật ra, nhà sản xuất đã viết nên những phần mềm rất hoàn hảo, đáp ứng các yêu cầu về bảo mật cho bạn. Tuy nhiên, nếu bạn chưa biết được những điều đó cũng chỉ bởi vì bạn chưa muốn tìm hiểu hoặc lơ là với việc bảo mật thông tin cá nhân mà thôi. Máy tính luôn có các biện pháp bảo mật bằng cách cho phép người sử dụng dùng mật mã để bảo vệ không cho mở máy, bảo vệ ổ đĩa cứng, bảo vệ màn hình, bảo vệ mỗi file tài liệu.

Để thiết lập password bảo vệ không cho người khác mở được máy tính của bạn, khi khởi động máy bạn ấn phím F1 (hoặc Delete) để vào BIOS Setup Utility, chọn Password, sau đó chọn Set Power-On Password để thiết lập ra mật mã riêng của mình bảo vệ khi mở máy vi tính.
Việc thiết lập password cho ổ đĩa cứng cũng tương tự. Bạn cũng có thể xác lập password cho mỗi Folder trong ổ cứng. Trước tiên bạn phải thiết lập mật mã cho Account, sau đó chọn Folder, ấn vào nút phải của chuột sẽ xuất hiện hộp thoại, chọn Properties, chọn Security, xác lập tùy chọn để bảo vệ không cho người lạ xâm nhập vào các Folder mà bạn cần giữ bí mật. Bạn cũng có thể sử dụng các phần mềm chuyên dùng để bảo vệ các thư mục như Folder Protection, Folder Magic hay Lock Folder, dễ dàng sử dụng và Download miễn phí trên mạng Internet.
Như vậy nếu một người lạ không được hỗ trợ các phương tiện sẽ không thể mở được máy của bạn, hoặc nếu bạn đã mở sẵn máy mà người khác muốn vào lục tung các files tài liệu trong ổ đĩa cứng cũng sẽ không thể xâm nhập vào được.

Việc lập password để bảo vệ màn hình cũng rất cần thiết. Thỉnh thoảng trong lúc làm việc với máy tính nếu bạn có việc bất chợt đi đâu đó một khoảng thời gian ngắn thì màn hình máy tính sẽ tự bảo vệ bằng những hình ảnh được máy tính thiết lập sẵn, kẻ nào muốn tranh thủ những lúc này để lục soát máy tính của bạn sẽ không thể xem được gì trong đó nếu không có password. Việc thiết lập password này cũng rất đơn giản. Trên màn hình nền, bạn chỉ cần bấm vào nút phải chuột, bạn sẽ thấy xuất hiện hộp thoại Desktop, click chuột vào Properties, màn hình sẽ xuất hiện cửa sổ Display (hoặc vào Control Panel, chọn Display), click chuột vào Screen Saver, sau đó chọn hình nền, thiết lập thời gian và mật mã.

Để bảo vệ các files văn bản, trong chương trình soạn thảo văn bản Word đều có hỗ trợ chức năng này, khi bạn bắt đầu soạn văn bản và lưu vào máy với một tên tập tin nào đó, ở góc phải hộp thoại Save as có dụng cụ Tool, bạn vào đó và chọn Option, chọn password để bảo vệ văn bản (hoặc vào trình đơn Tool, chọn hộp thoại Options).
Bạn cũng có thể Download phần mềm PC Security để sử dụng, đây là một chương trình bảo mật dành cho máy tính với đầy đủ các tiện ích.
Những phương pháp bảo vệ này sẽ rất hiệu quả nếu bạn thực hiện nghiêm túc và đầy đủ tất cả các chương trình hỗ trợ đó. Với những người không có nghiệp vụ hoặc không được hỗ trợ phương tiện gì thì họ sẽ không thể xâm phạm được vào những điều mà bạn muốn giữ kín trong máy tính.
Thế nhưng, nếu thật sự máy tính của bạn đã bị cơ quan mật vụ thu giữ và giám định thì tất cả những biện pháp đó cũng chỉ gây cho họ thêm mất thời gian thôi chứ cũng không bảo vệ bí mật được những tài liệu đó của bạn.

“Vỏ quýt dầy thì có móng tay nhọn”. Vậy nên bạn lại cần phải sử dụng những phần mềm mã hoá file để bảo vệ các thông tin lưu giữ trong máy tính. Có rất nhiều phần mềm sử dụng công nghệ bảo mật RSA và MD5 đảm bảo tuyệt đối tin cậy, vô hiệu hóa các tay harker, cracker chuyên nghiệp. Tuy nhiên đa số những phần mềm này bạn đều phải mua bản quyền của nhà sản xuất. Bạn có thể download trên mạng Internet một số phần mềm miễn phí, nhưng cũng rất hiệu quả. Bạn nên dùng Google và tìm kiếm phần mềm TA Encryption và Cryptainer hoặc File Warden, lưu vào máy tính của bạn một trong những chương trình này. Cả ba chương trình này đều rất dễ sử dụng, thao tác nhanh và an toàn. Đặc biệt các chương trình bảo mật này có thể bảo vệ tất cả các loại định dạng file khác nhau, kể cả những file hình ảnh, âm thanh, các file mà bạn soạn trong các chương trình khác như Power Point, Corel Draw, Photo Shop ....
Những biện pháp cơ bản trên đây có thể bảo vệ cho các thông tin của bạn được bí mật, an toàn, trong trường hợp nếu cơ quan mật vụ có theo dõi bạn cũng không thể tìm ra các dấu vết. Bạn cũng sẽ tránh được những sơ xuất khi có sự để ý của những người tò mò.

Tuy vậy, dù có đảm bảo được mức độ an toàn đến chừng nào thì việc lưu lại các thông tin và tài liệu quan trọng trên máy tính cá nhân vẫn là rất nguy hiểm. Bạn cần có những ổ USB (Flash Drive) để lưu giữ lại các thông tin này dưới dạng các file có gắn password và đã được mã hóa (bằng một trong những chương trình mã hoá file kể trên) và được cất giữ ở những chỗ bí mật, đảm bảo an toàn, không bị thất lạc và hư hỏng. Để bảo vệ tuyệt đối an toàn trong khi làm việc, bạn nên có ít nhất 2 ổ USB, một ổ có dung lượng lớn (tùy theo công việc và khả năng của bạn) để làm nhiệm vụ lưu giữ thông thông tin, giống như một ổ cứng ngoại lai, tất cả những thông tin quan trọng và có ảnh hưởng nguy hại đến bạn đều được lưu giữ trong ổ này, cất vào một nơi tuyệt đối an toàn. Như vậy, trong trường hợp xấu nhất, nếu cơ quan an ninh có thu giữ được CPU máy tính của bạn thì cũng chỉ có thể vào đó mà chơi Game hay nghe nhạc MP3 mà thôi. Ổ USB thứ hai có dung lượng nhỏ hơn, có thể 32Mb cũng đủ rồi, chỉ dùng ổ này làm phương tiện chuyên chở những thông tin bạn muốn gửi đi hay nhận từ trên mạng Internet về xem. Vì nhỏ gọn nên các ổ USB rất thuận tiện cho bạn khi mang theo đến các địa điểm dịch vụ Internet. Nhưng chỉ nên mang theo mình khi thực sự cần thiết, đề phòng bị khám xét, “bắt nóng”. Khi đưa ổ USB vào máy tính cần kiểm tra Virus, sau khi trút bỏ hết các thông tin vào ổ USB chính, cần xóa sạch sẽ máy tính và ổ USB phụ bằng phương pháp đã nói ở trên.

Còn nữa, có đôi lúc bạn vẫn phải sử dụng đến máy in để in một vài trang truyền đơn hay tin tức cần thiết (mặc dù tốt hơn hết là không phải sử dụng đến máy in). Vậy thì bạn cũng cần phải lưu ý rằng, mỗi máy in đều có những lí lịch và đặc điểm nhận dạng riêng biệt. Ví dụ như khi nhìn những chú kiến tí hon, bạn đều thấy chúng hoàn toàn giống nhau. Nhưng nếu mang chúng lên soi trên kính hiển vi thì sẽ dễ nhận thấy rằng chẳng có thằng nào giống thằng nào cả (cũng có kiến đực kiến cái đấy chứ). Vì thế, nếu đã phải sử dụng đến máy in, bạn phải hết sức lưu ý, nếu gặp nguy hiểm hoặc bị cơ quan mật vụ phát hiện ra bản gốc những tài liệu đó thì bạn phải lập tức thủ tiêu, phá hủy máy in, nếu là máy in phun hoặc loại máy có thể tháo rời đầu in (Print Cartridge) thì phải hủy bỏ cái đầu in đó.


In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè:

     http://tudovis.com/kktd/binh_luan_2/bl_nhung_chien_si_dan_chu_thoi_dai_.htm

Người gửi:

Địa chỉ email: *


Người nhận:

Có thể gửi cho nhiều địa chỉ, nhớ bỏ dấu phẩy trước khi bắt đầu địa chỉ mới.
Địa chỉ email: *
Lời nhắn:
Quí vị có thể copy hết cái bài ở trên và bỏ vào trong hộp Lời nhắn
 
* Thông tin bắt buộc        
Note: Chi tiết bạn điền vào trang này sẽ không được dùng để gửi thư không mời, hoặc bán cho nơi khác.